Trong bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, công nghiệp văn hóa đang trở thành một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển của nhiều nước trên thế giới. Ở châu Á, Trung Quốc là một trong những quốc gia đi đầu trong việc phát triển công nghiệp văn hóa dựa vào bản sắc dân tộc, tạo thành một động lực mới cho tăng trưởng kinh tế - xã hội. Từ đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc đã xác định “văn hóa là sức mạnh mềm của quốc gia” và ban hành hàng loạt chính sách nhằm thúc đẩy sáng tạo văn hóa, chuyển hóa giá trị của di sản truyền thống thành năng lượng cho các ngành công nghiệp văn hóa ở các lĩnh vực điện ảnh, xuất bản, thiết kế, trò chơi trực tuyến, du lịch văn hóa và nghệ thuật biểu diễn. Bản sắc dân tộc do vậy không chỉ được gìn giữ mà còn được “tái tạo” trong các hình thức biểu đạt mới, góp phần nâng cao vị thế văn hóa quốc gia trong không gian toàn cầu. Những kết quả mà Trung Quốc đạt được càng khẳng định văn hóa không phải là yếu tố tĩnh tại mà là nguồn năng lượng sáng tạo liên tục, có thể được khai thác hiệu quả thông qua cơ chế chính sách, đầu tư chiến lược và sự tham gia của đội ngũ sáng tạo trẻ. Do vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc trong phát huy bản sắc dân tộc để phát triển công nghiệp văn hóa sẽ mang lại những giá trị tham chiếu về lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng hệ sinh thái sáng tạo, phát huy “sức mạnh mềm văn hóa” cho phát triển bền vững ở các quốc gia trong khu vực nói chung, Việt Nam nói riêng.
1. Bản sắc dân tộc, công nghiệp văn hóa và mối quan hệ tương hỗ
Trong nghiên cứu văn hóa đương đại, hai phạm trù “bản sắc dân tộc” và “công nghiệp văn hóa” nổi lên như những trụ cột lý luận quan trọng. Việc xác định rõ khái niệm và quan hệ giữa chúng có ý nghĩa thiết thực đối với chiến lược phát triển văn hóa của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Bản sắc dân tộc được hiểu là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần được hình thành và tích lũy trong lịch sử, phản ánh hệ giá trị, biểu tượng, lối sống và cảm quan thẩm mĩ đặc trưng của cộng đồng. Anthony D. Smith cho rằng bản sắc dân tộc là “căn tính văn hóa tập thể được hình thành qua thời gian dài”1. Điều này cho thấy bản sắc dân tộc không chỉ là di sản truyền thống mà còn là những gì được cộng đồng lựa chọn, khẳng định và tái sinh liên tục. Trong môi trường toàn cầu hóa, bản sắc dân tộc một mặt chịu nhiều tác động mạnh mẽ, mặt khác liên tục được “tái thương thuyết” trong quá trình giao lưu văn hóa.
Công nghiệp văn hóa là hệ thống các ngành nghề dựa trên sáng tạo, sản xuất và phân phối sản phẩm văn hóa. Khái niệm này ban đầu được định hình bởi Adorno và Horkheimer khi phê phán xu hướng thương mại hóa và chuẩn hóa văn hóa đại chúng. Tuy nhiên, UNESCO đã mở rộng và tái định nghĩa công nghiệp văn hóa như nhóm ngành “kết hợp sáng tạo, sản xuất và thương mại hóa nội dung văn hóa được bảo hộ bởi quyền sở hữu trí tuệ”2, đồng thời nhấn mạnh vai trò của chúng trong phát triển kinh tế sáng tạo.
Mối quan hệ giữa bản sắc dân tộc và công nghiệp văn hóa là quan hệ tương hỗ. Một mặt, bản sắc dân tộc là nguồn tài nguyên quan trọng đối với sáng tạo văn hóa. Theo Hesmondhalgh, bản sắc chính là “nguồn chất liệu sáng tạo cốt lõi làm nên khác biệt của sản phẩm văn hóa”3. Những câu chuyện dân gian, trò chơi, sản phẩm thủ công, mĩ học truyền thống, tri thức bản địa… có thể được chuyển hóa thành phim ảnh, thời trang, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi điện tử hay sản phẩm số cho công nghiệp văn hóa. Vì vậy, nếu thiếu gốc rễ bản sắc, công nghiệp văn hóa sẽ dễ rơi vào tình trạng sao chép, không có bản sắc riêng để cạnh tranh4. Mặt khác, công nghiệp văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và tái sinh bản sắc dân tộc. Throsby cho rằng công nghiệp văn hóa tạo điều kiện để bản sắc “tồn tại trong hình thức hiện đại” thông qua các sản phẩm văn hóa đương đại5. Khi những giá trị truyền thống được đưa vào phim ảnh, game hay các sản phẩm du lịch - văn hóa, bản sắc của cộng đồng không chỉ được bảo tồn mà còn được lan tỏa sâu rộng. Miller cũng nhấn mạnh rằng công nghiệp văn hóa tạo ra “những mạch lưu thông mới của bản sắc văn hóa trong đời sống đương đại”6.
Tuy nhiên, mối quan hệ này cũng phản ánh không ít thách thức đối với bản sắc dân tộc. Thị trường tiêu thụ có thể dẫn tới việc giản lược, thương mại hóa hoặc biến dạng các yếu tố văn hóa nhằm đáp ứng thị hiếu tiêu dùng, như Tomlinson định nghĩa, đây là tình trạng “loãng văn hóa dưới sức ép toàn cầu hóa thương mại”7, một thách thức đặc biệt lớn đối với các quốc gia đang phát triển công nghiệp văn hóa. Giới học thuật Trung Quốc đa phần thống nhất nguyên tắc “hiện đại hóa không đồng nghĩa với Tây hóa”. Văn kiện Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc khẳng định: “Kiên định con đường hiện đại hóa mang đặc sắc Trung Quốc, trên nền tảng kế thừa và sáng tạo văn hóa dân tộc, nhằm thúc đẩy giao lưu và đối thoại văn minh giữa các quốc gia”. Học giả Việt Nam cũng đề cao quan điểm tương tự khi cho rằng “hiện đại hóa văn hóa Việt Nam không thể là sự cắt đứt với truyền thống, mà là quá trình tái cấu trúc bản sắc dân tộc trong điều kiện toàn cầu hóa” (Trần Ngọc Thêm) hay “Bản sắc văn hóa là nền tảng tinh thần không thể thay thế trong quá trình hội nhập quốc tế; chỉ khi giữ được bản sắc, văn hóa Việt Nam mới có thể đối thoại bình đẳng với các nền văn hóa khác” (Nguyễn Thị Thọ).
Từ đó có thể thấy, hiện đại hóa văn hóa không đồng nghĩa với đánh mất bản sắc mà là quá trình làm mới bản sắc trong môi trường toàn cầu. Công nghiệp văn hóa, với sức mạnh công nghệ và sáng tạo, chính là phương tiện để quá trình đó diễn ra một cách chủ động, tự tin và bền vững.
Trung Quốc là ví dụ tiêu biểu về quốc gia gắn kết thành công bản sắc dân tộc và công nghiệp văn hóa. Keane nhận định rằng Trung Quốc đã chủ động phát triển “tính Trung Hoa như giá trị cạnh tranh” trong các ngành sáng tạo8. Phong trào phục hưng Hán phục, sự bùng nổ phim cổ trang, các game văn hóa (guochao) cho thấy việc khai thác sâu di sản văn hóa đặc trưng dân tộc và tính địa phương đã trở thành chiến lược văn hóa quốc gia. Su cho rằng nhà nước Trung Quốc giữ vai trò định hướng mạnh mẽ, đảm bảo sự gắn kết giữa công nghiệp văn hóa và mục tiêu kiến tạo bản sắc9. Tại Việt Nam, “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030” nhấn mạnh nhiệm vụ “phát huy bản sắc văn hóa dân tộc gắn với sáng tạo”10. Các ngành như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế sáng tạo, thủ công mĩ nghệ, du lịch văn hóa… đã bước đầu khai thác chất liệu văn hóa truyền thống để hình thành sản phẩm mới. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng công nghiệp văn hóa Việt Nam “chưa khai thác được chiều sâu di sản và thiếu hệ sinh thái sáng tạo hỗ trợ”. Điều này đòi hỏi sự đầu tư chiến lược, đặc biệt trong việc liên kết giữa bảo tồn văn hóa và đổi mới sáng tạo.
Như vậy, bản sắc dân tộc và công nghiệp văn hóa tạo thành mối quan hệ biện chứng. Bản sắc cung cấp nền tảng nội dung, trong khi công nghiệp văn hóa tạo ra hình thức và phương tiện để bản sắc được lan tỏa trong thời đại mới. Nói cách khác, như Throsby khẳng định, “bản sắc văn hóa vừa là yếu tố đầu vào, vừa là kết quả của sáng tạo văn hóa”11. Những quốc gia biết kết hợp hài hòa hai yếu tố này sẽ xây dựng được nền văn hóa vừa hiện đại vừa đậm bản sắc, đóng góp tích cực vào sức mạnh mềm và vị thế quốc gia. Bản sắc dân tộc là nguồn chất liệu, là linh hồn của công nghiệp văn hóa, không có nền tảng văn hóa dân tộc sâu sắc, công nghiệp văn hóa khó có thể tạo nên những sản phẩm mang dấu ấn riêng và sức sống lâu bền. Các giá trị truyền thống, di sản văn hóa, ngôn ngữ, âm nhạc dân gian, mĩ học dân tộc… chính là kho tàng nguyên liệu sáng tạo vô tận cho các ngành như điện ảnh, thời trang, mĩ thuật, văn học, trò chơi điện tử hay du lịch văn hóa. Mặt khác, công nghiệp văn hóa là phương tiện hữu hiệu để bảo tồn và tái sinh bản sắc dân tộc trong bối cảnh hiện đại. Thông qua việc chuyển hóa các giá trị truyền thống thành sản phẩm sáng tạo phù hợp với đời sống đương đại – như phim lịch sử, biểu tượng thời trang dân tộc, lễ hội số hóa, nghệ thuật trình diễn hiện đại – công nghiệp văn hóa giúp bản sắc dân tộc không bị “đóng băng” trong quá khứ mà trở thành sức sống hiện hữu trong đời sống hiện đại. Nói cách khác, công nghiệp văn hóa là “hình thức tồn tại mới của bản sắc dân tộc” trong thời đại toàn cầu hóa. Sự kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và sáng tạo, giữa truyền thống và hiện đại là chìa khóa để công nghiệp văn hóa không trở thành “sự sao chép hình thức” hay “thương mại hóa văn hóa” mà thực sự đóng vai trò cầu nối giữa bản sắc và hội nhập. Đây cũng chính là tinh thần xuyên suốt trong chính sách văn hóa của Trung Quốc và Việt Nam trong những năm gần đây.
Nhìn tổng thể có thể thấy cơ sở lý luận cho việc phát huy bản sắc dân tộc trong công nghiệp văn hóa nằm ở sự nhận thức đúng đắn về vai trò của bản sắc trong phát triển sáng tạo; hiểu công nghiệp văn hóa như công cụ quyền lực mềm quốc gia và lựa chọn con đường hiện đại hóa gắn với cội nguồn văn hóa dân tộc. Đây là nền tảng tư tưởng quan trọng để phân tích chiến lược của Trung Quốc và đề xuất các gợi mở phù hợp cho Việt Nam.
2. Định hướng chiến lược về phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong công nghiệp văn hóa ở Trung Quốc
Ở Trung Quốc, khái niệm “bản sắc văn hóa Trung Hoa” được đặt trong “Chiến lược phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa”, nhấn mạnh tới việc kết nối truyền thống và hiện đại, giữa “văn hóa cổ điển” và “văn hóa sáng tạo đương đại”. Văn kiện Chiến lược phát triển văn hóa Trung Quốc đến năm 2035 khẳng định: “Giữ vững cội nguồn, kế thừa tinh hoa, không quên bản sắc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để phát triển văn hóa Trung Hoa hiện đại”12. Cùng với nhận thức về bản sắc dân tộc và vai trò trong kiến thiết văn hóa Trung Hoa hiện đại, Trung Quốc xác định rõ việc phát triển văn hóa, trong đó có công nghiệp văn hóa, là thành tố quan trọng trong tiến trình “xây dựng quốc gia văn hóa hùng mạnh” và “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” nhằm mục tiêu “cải thiện hệ thống ngành công nghiệp văn hóa hiện đại và thị trường”13, đặt mục tiêu đến năm 2035 cơ bản hoàn thành hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, trong đó văn hóa giữ vị trí ngày càng quan trọng. Cùng với đó, ngành văn hóa được xác định là “lực lượng dẫn dắt trong đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế xã hội”14. Từ đó, chiến lược của Trung Quốc cho công nghiệp văn hóa gắn liền với việc tái cấu trúc thị trường, phát huy doanh nghiệp sáng tạo, cụ thể hóa chuyển đổi số trong văn hóa, mở rộng xuất khẩu văn hóa và tăng cường thương hiệu văn hóa quốc gia. Điều này thể hiện rõ trong việc đề xuất thúc đẩy mở rộng tiêu thụ văn hóa, phát triển hình thức văn hóa mới, doanh nghiệp văn hóa mới. Việc đặt công nghiệp văn hóa trong khung chiến lược quốc gia – đồng thời kết hợp với khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc – cho thấy Trung Quốc không chỉ nhìn công nghiệp văn hóa là lĩnh vực kinh tế mà còn là phần thiết yếu của quyền lực mềm quốc gia và sự tự tin văn hóa quốc gia. Đảng Cộng sản Trung Quốc nhấn mạnh công nghiệp văn hóa là “ngành trụ cột của nền kinh tế quốc dân trong kỷ nguyên mới”, đồng thời là “công cụ quan trọng để tăng cường quyền lực mềm văn hóa của quốc gia”15. Chiến lược phát triển văn hóa Trung Quốc đến năm 2035 xác định rõ: “Công nghiệp văn hóa phải trở thành lực lượng dẫn dắt trong đổi mới sáng tạo, quảng bá giá trị Trung Hoa và nâng cao ảnh hưởng quốc tế của văn hóa Trung Quốc”16.
Qua đó có thể thấy những vấn đề then chốt trong nền tảng tư tưởng và định hình chiến lược về văn hóa và phát triển của Trung Quốc như sau:
Thứ nhất, xem văn hóa dân tộc như nền tảng tư tưởng và linh hồn chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa.
Báo cáo Đại hội Đảng lần thứ XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ ra rằng: “Văn hóa là linh hồn của một quốc gia, một dân tộc. Văn hóa thịnh thì quốc vận thịnh, văn hóa mạnh thì dân tộc mạnh. Nếu không có niềm tự tin văn hóa cao độ, nếu không có sự thịnh vượng của văn hóa, thì không thể có sự phục hưng của dân tộc Trung Hoa”17. Văn kiện này đã khẳng định thêm, văn hóa với tư cách là nền tảng cho sự phát triển theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng lý luận Marx - Lenin, nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và đời sống sản xuất vật chất. Với ý nghĩa đó, văn hóa là sự phản ánh quan niệm về tình hình kinh tế - xã hội của một thời đại cụ thể và văn hóa tinh thần không chỉ bị quyết định bởi tình hình kinh tế - xã hội mà còn thay đổi tương ứng theo sự thay đổi của cơ sở kinh tế. Văn hóa do vậy được khẳng định là “linh hồn của quốc gia và dân tộc”, là nguồn giữ gìn sự thống nhất tinh thần và là sức mạnh nội sinh của mô hình phát triển Trung Quốc. Chiến lược công nghiệp văn hóa vì thế không chỉ gắn với nhu cầu kinh tế mà còn chịu sự dẫn dắt của mục tiêu lớn hơn: xây dựng bản sắc tinh thần thống nhất của dân tộc Trung Hoa trong kỷ nguyên hiện đại.
Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh khái niệm “tiếp nối mạch nguồn văn hóa Trung Hoa”, coi đó là điều kiện tiên quyết để bảo đảm phương hướng phát triển đúng đắn của toàn bộ hệ thống văn hóa. Đây chính là nền tảng để hình thành một mô hình công nghiệp văn hóa mang bản sắc riêng: không sao chép phương Tây mà gắn chặt với đặc trưng văn minh Trung Hoa. Do vậy, văn hóa là “lực lượng dẫn dắt trong đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế - xã hội”18. Điều này cho thấy văn hóa với tư cách là bản sắc không chỉ cung cấp giá trị tinh thần mà còn là “lực kéo” thúc đẩy phát triển sáng tạo trong công nghiệp văn hóa.
Thứ hai, nguyên tắc “sáng tạo chuyển hóa, đổi mới phát triển” như cơ chế để hiện đại hóa bản sắc văn hóa dân tộc.
Tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc về văn hóa được thể hiện trong các văn kiện Đảng và các bài phát biểu của Tổng Bí thư Tập Cận Bình hết sức đề cao phương châm “sáng tạo chuyển hóa” và “đổi mới phát triển”. Đây là nguyên tắc chiến lược để đưa giá trị truyền thống vào môi trường sáng tạo đương đại, bảo đảm tính liên tục của bản sắc nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu thị trường và xu hướng toàn cầu hóa. Tháng 2 năm 2014, Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã chỉ ra: “Phải xử lý tốt mối quan hệ giữa kế thừa và phát triển sáng tạo, tập trung thực hiện tốt việc chuyển hóa sáng tạo và phát triển đột phá”. Tại hội nghị thảo luận về công tác văn nghệ được tổ chức vào tháng 10 cùng năm, Tổng Bí thư Tập Cận Bình tiếp tục khẳng định: “Thực hiện chuyển hóa sáng tạo và phát triển đột phá của văn hóa Trung Hoa”. Năm 2017, việc “kiên trì sáng tạo chuyển hóa” và “phát triển đột phá” đã được đưa chính thức vào Báo cáo Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIX19.
Rõ ràng cơ chế này không dừng ở việc bảo tồn mà hướng tới biến các yếu tố văn hóa dân tộc thành tài nguyên sáng tạo của thị trường công nghiệp văn hóa, thông qua các hướng tiếp cận đã được thực thi rất hiệu quả gồm: tái diễn giải các biểu tượng truyền thống trong phim ảnh, thời trang, thiết kế, mĩ thuật; số hóa và công nghệ hóa di sản nhằm tạo ra phương thức tiếp cận mới; tạo lập triết lý thẩm mĩ mang phong vị Trung Hoa để nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của sản phẩm văn hóa.
Nhờ vậy, các sản phẩm văn hóa Trung Quốc, từ phim cổ trang, video game, hoạt hình đến phương tiện số đều mang dấu ấn văn hóa dân tộc nhưng vẫn phù hợp với thị hiếu toàn cầu. Do vậy, nhìn tổng thể có thể nhận ra chính đặc trưng “kép” truyền thống và hiện đại là điểm cốt lõi của chiến lược phát huy bản sắc của Trung Quốc trong công nghiệp văn hóa.
Thứ ba, bản sắc dân tộc như nguồn lực của quyền lực mềm và thương hiệu văn hóa quốc gia, trở thành nguồn lực thiết yếu trong công nghiệp văn hóa.
Vai trò của “quyền lực mềm văn hóa” và “thương hiệu văn hóa quốc gia” đã được Đảng Cộng sản Trung Quốc nhận thức từ rất sớm. Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XVII, lần đầu tiên đề cập đến khái niệm “sức mạnh mềm văn hóa” và được cụ thể một cách rõ ràng hơn trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XVIII: “Tăng cường sức mạnh và sức cạnh tranh tổng thể của văn hóa. Sức mạnh và sức cạnh tranh văn hóa là dấu hiệu quan trọng của sự thịnh vượng của đất nước và sự hồi sinh của dân tộc”20. Báo cáo Đại hội XVIII cũng khẳng định mối quan hệ tương hỗ và vai trò của văn hóa truyền thống đối với đương đại: Văn hóa truyền thống ưu tú Trung Hoa trở nên sâu sắc và rộng lớn nhờ vào việc hòa nhập và tôn trọng sự khác biệt, có nền tảng sâu đậm nhờ vào lịch sử lâu đời và độc đáo nhờ vào việc đổi mới và phát triển, là dấu hiệu cơ bản để phân biệt dân tộc Trung Hoa với các dân tộc khác và cũng là hậu thuẫn vững chắc để dân tộc Trung Hoa đứng vững trên rừng rậm các dân tộc thế giới21.
Không khó để nhận ra rằng chiến lược công nghiệp văn hóa của Trung Quốc gắn liền với mục tiêu nâng cao ảnh hưởng quốc tế của văn hóa Trung Hoa. Văn kiện Đại hội XX Đảng Cộng sản Trung Quốc (2022) coi công nghiệp văn hóa không chỉ là ngành kinh tế trụ cột mà còn là “công cụ quan trọng để tăng cường quyền lực mềm văn hóa quốc gia”. Điều này thể hiện ở các định hướng: i) Xây dựng thương hiệu văn hóa quốc gia bằng việc thúc đẩy xây dựng các “thương hiệu văn hóa mang tầm quốc gia” dựa trên biểu tượng văn hóa dân tộc như: truyền thuyết, di sản, mĩ học truyền thống, nghệ thuật cung đình, triết học Nho - Phật - Đạo… Theo đó, bản sắc văn hóa trở thành tài sản thương hiệu, góp phần định vị hình ảnh quốc gia; ii) Mở rộng xuất khẩu văn hóa. Các nội dung này đều được cụ thể hóa trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 14 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đặt mục tiêu “mở rộng tiêu thụ văn hóa, phát triển hình thức văn hóa mới và thúc đẩy doanh nghiệp văn hóa mới”. Điều này bao gồm cả chiến lược xuất khẩu văn hóa thông qua điện ảnh, truyền hình, game; nền tảng số; các lễ hội văn hóa quốc tế; mạng lưới Viện Khổng Tử và cơ chế giao lưu nhân dân22. Bản sắc văn hóa nhờ đó được sử dụng như một hình thức sức mạnh mềm nhằm mở rộng “sức hấp dẫn của văn minh Trung Hoa” trên toàn cầu; iii) Tăng cường truyền thông quốc tế về hình ảnh văn hóa Trung Quốc. Chiến lược truyền thông đối ngoại được thiết kế nhằm kể câu chuyện Trung Quốc bằng ngôn ngữ thẩm mĩ và biểu tượng văn hóa của dân tộc, qua đó đóng góp vào “diễn ngôn quốc tế mang đặc sắc Trung Quốc”.
Như vậy, có thể thấy rất rõ định hướng chiến lược của Trung Quốc về phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong công nghiệp văn hóa có tính hệ thống hóa cao, toàn diện và dài hạn. Chiến lược này có sự kết hợp giữa tư tưởng văn hóa mang tính nền tảng – thiết kế thể chế, chính sách công nghiệp, ứng dụng công nghệ số và chiến lược quyền lực mềm quốc gia. Bằng cách đặt bản sắc dân tộc vào trung tâm của công nghiệp văn hóa, Trung Quốc đã tạo dựng được mô hình phát triển vừa mang tính đặc thù văn hóa vừa có khả năng cạnh tranh toàn cầu, góp phần quan trọng vào mục tiêu “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa”.
3. Cơ chế phát huy bản sắc dân tộc trong công nghiệp văn hóa
Trung Quốc đang kiến tạo một cơ chế phát huy bản sắc dân tộc trong công nghiệp văn hóa mang đậm tính chiến lược và chủ động. Trọng tâm là việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số để số hóa di sản và tái tạo bản sắc, biến các di sản văn hóa phong phú, từ cổ vật đến nghệ thuật biểu diễn, thành những tài sản số có sức lan tỏa rộng rãi. Điều này phục vụ cho mục tiêu phát triển văn hóa địa phương – nền tảng của nền công nghiệp văn hóa đa dạng, trên cơ sở tận dụng lợi thế riêng từng vùng miền để cùng kiến tạo “sức mạnh mềm” quốc gia. Để bảo vệ giá trị nguyên bản, Trung Quốc siết chặt việc bảo vệ bản quyền, xem đây là biện pháp then chốt chống lại sự xâm phạm và làm méo mó bản sắc. Cuối cùng, toàn bộ hệ thống được “tái cấu trúc” để lấy bản sắc dân tộc làm hạt nhân sáng tạo và động lực cạnh tranh, tích hợp sâu vào mọi phân ngành, từ điện ảnh, game đến du lịch, nhằm hiện thực hóa tham vọng trở thành cường quốc văn hóa. Cơ chế phát huy bản sắc dân tộc trong công nghiệp văn hóa ở Trung Quốc có thể hình dung qua các chương trình hành động như sau:
Thứ nhất, thực hiện số hóa di sản và tái tạo bản sắc bằng công nghệ. Sự kết hợp giữa di sản văn hóa với công nghệ số được coi là trụ cột của chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa thời kỳ mới. Trung Quốc nhấn mạnh việc xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa quốc gia, số hóa tài nguyên văn hóa và thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo dựa trên dữ liệu lớn. Đây là bước chuyển có tính chất bản lề, cho phép bản sắc dân tộc được tái tạo dưới hình thức phù hợp với thị trường; mở rộng khả năng lan tỏa; tham gia chuỗi giá trị sáng tạo xuyên biên giới và trở thành tài nguyên kinh tế chứ không chỉ là đối tượng bảo tồn. Chiến lược này tạo điều kiện để văn hóa truyền thống đi vào đời sống công nghiệp bằng hình thức tự nhiên, hợp lý và bền vững.
Thứ hai, công nghiệp văn hóa dựa vào nông thôn. Bên cạnh chủ trương xây dựng thương hiệu quốc gia, Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng rất chú trọng đến “văn hóa địa phương và phát triển”. Tại Hội nghị Trung ương IV khóa XX, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhấn mạnh việc “phát triển kinh tế vùng, huyện có đặc trưng riêng” và “nuôi dưỡng, phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp đặc sản nông thôn”. Vì vậy, nhiều quận/ huyện của Trung Quốc đã trở nên nổi tiếng trên các kênh truyền thông nhờ xây dựng được sản phẩm đặc trưng. Việc phát triển kinh tế vùng, huyện dựa trên ngành công nghiệp văn hóa không chỉ phù hợp với yêu cầu tận dụng lợi thế tài nguyên văn hóa trong phát triển kinh tế địa phương mà quan trọng hơn, có đóng góp quan trọng vào chiến lược quốc gia về phát huy bản sắc dân tộc trong công nghiệp văn hóa23. Để thực hiện được mục tiêu này, Đảng và Nhà nước đã nhấn mạnh việc khôi phục và phát triển các thiết chế văn hóa nông thôn, nghề thủ công truyền thống, văn nghệ dân gian, nghệ nhân dân gian và các hình thái văn hóa vùng miền. Việc đặt trọng tâm vào nông thôn – nơi lưu giữ trầm tích văn hóa dân tộc – phản ánh triết lý xây dựng ngành “công nghiệp văn hóa trên nền tảng bản sắc vùng miền” với sự đa dạng, phong phú và có chiều sâu từ nông thôn cho hệ sinh thái công nghiệp văn hóa quốc gia. Mô hình này, theo chúng tôi, sẽ hạn chế được nguy cơ đồng hóa văn hóa theo hướng thương mại hóa, đồng thời đảm bảo sự cân bằng giữa giá trị truyền thống và nhu cầu thị trường.
Thứ ba, bảo vệ bản quyền – bảo vệ sự nguyên bản của bản sắc dân tộc. Nếu bản sắc dân tộc là trụ cột thì bảo vệ bản quyền văn hóa là “lá chắn chiến lược”. Văn kiện dành nhiều nội dung cho việc tăng cường cơ chế pháp lý, thiết lập hệ thống bảo vệ bản quyền số, giao dịch bản quyền, ứng dụng blockchain để bảo vệ tài sản văn hóa truyền thống. Điều này phản ánh quan điểm bản sắc dân tộc chỉ có thể tham gia công nghiệp văn hóa khi được bảo vệ như một loại tài sản trí tuệ đặc thù. Mục tiêu không chỉ nhằm ngăn chặn sự sao chép, bóp méo mà còn để tạo điều kiện cho sự vận hành của thị trường văn hóa dựa trên di sản dân tộc.
Thứ tư, tái cấu trúc công nghiệp văn hóa dựa trên bản sắc dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc định vị và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trở thành một bài toán chiến lược đối với nhiều quốc gia. Trung Quốc, với lợi thế của một nền văn minh lâu đời và nguồn tài nguyên văn hóa đồ sộ, đã xây dựng và triển khai thành công một mô hình phát triển có tính hệ thống cao, có thể được khái quát hóa thông qua sự kết hợp ba trụ cột: truyền thống - hiện đại - thị trường. Mô hình này không đơn thuần là sự gắn kết cơ học mà là một quy trình chuyển hóa sinh động, nơi bản sắc dân tộc đóng vai trò “nguyên liệu đặc thù”, còn công nghiệp văn hóa là “công nghệ chế biến” để tạo ra những sản phẩm mang đầy đủ giá trị kinh tế, thẩm mĩ và biểu tượng, từ đó định hình sức mạnh mềm văn hóa quốc gia:
Một là, truyền thống với tư cách “nguyên liệu đặc thù”. Yếu tố then chốt đầu tiên làm nên sự khác biệt cho các sản phẩm văn hóa Trung Quốc chính là việc khai thác có chủ đích nguồn tài nguyên truyền thống. Ở đây, “truyền thống” không chỉ giới hạn ở các di sản vật thể như đền đài, cổ vật mà còn là kho tàng phi vật thể phong phú gồm triết lý, thẩm mĩ, câu chuyện lịch sử, thủ công truyền thống và các biểu tượng văn hóa. Đây chính là “mỏ quặng” nguyên liệu thô, cung cấp chiều sâu và tính xác thực cho sản phẩm. Chẳng hạn, triết lý âm - dương, ngũ hành, vẻ đẹp của thư pháp, hội họa hay sự huyền bí của các truyền thuyết tiên hiệp đều trở thành cảm hứng vô tận. Sứ mệnh của công nghiệp văn hóa là phải nhận diện, phân loại và “khơi dậy” những nguyên liệu này, biến chúng từ những giá trị tĩnh tại trong viện bảo tàng thành những nguồn lực sống động, sẵn sàng cho quá trình “chế biến”. Sự thành công của một sản phẩm thường tỉ lệ thuận với khả năng chắt lọc những tinh túy nhất của truyền thống và mã hóa chúng thành một ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh, câu chuyện có thể cảm nhận được.
Hai là, hiện đại với nhiệm vụ “công nghệ chế biến”. Nếu truyền thống là nguyên liệu thì công nghệ và tư duy hiện đại chính là “dây chuyền công nghệ” để chế biến chúng. Vai trò của trụ cột này là cầu nối, biến những giá trị truyền thống vốn có thể xa lạ với công chúng đương đại thành những sản phẩm dễ tiếp cận, hấp dẫn và có tính tương tác cao. Sự “hiện đại hóa” này thể hiện trên nhiều phương diện như “kỹ thuật số hóa” với việc sử dụng ứng dụng CGI (đồ họa máy tính), VR/ AR (thực tế ảo/ tăng cường) trong điện ảnh, truyền hình và game cho phép tái tạo các kinh thành cổ hay các trận chiến lịch sử một cách chân thực và ngoạn mục; việc sử dụng “các nền tảng phát hành kỹ thuật số” Tencent Video, iQIYI, Bilibili, Douyin (TikTok) đã tạo ra kênh phân phối trực tiếp và cực kỳ hiệu quả đến với hàng trăm triệu người dùng, đặc biệt là thế hệ Z, hay việc “quản trị dữ liệu hiện đại” qua phân tích dữ liệu lớn (Big Data) giúp các nhà sản xuất thấu hiểu thị hiếu, hành vi của khán giả, từ đó tối ưu hóa nội dung, chiến dịch tiếp thị và dự báo xu hướng. Công nghệ, trong mô hình này, là chất xúc tác không thể thiếu để nâng cấp giá trị và mở rộng phạm vi lan tỏa của văn hóa truyền thống.
Ba là, thị trường với trọng trách “động lực và mục tiêu”. Trụ cột cuối cùng, đóng vai trò định hướng cho toàn bộ quá trình, chính là thị trường. Mô hình của Trung Quốc nhấn mạnh rằng một sản phẩm văn hóa muốn có sức sống bền vững phải được thị trường chấp nhận và tạo ra giá trị kinh tế. Điều này được thực hiện thông qua ba cấp độ. Đầu tiên là “thương mại hóa”: là việc phát triển các IP (tài sản trí tuệ) văn hóa thành một chuỗi các sản phẩm tiêu dùng. Ví dụ, thương hiệu mĩ phẩm Hoa Tây Tử (Florasis) là một điển hình, khi biến các họa tiết gốm sứ, thư pháp truyền thống thành những thỏi son, hộp phấn được chạm khắc tinh xảo, đánh trúng tâm lý “quốc triều” của giới trẻ. Thứ hai là “dịch vụ hóa”: biến các trải nghiệm văn hóa thành các dịch vụ có thể kinh doanh được. Các show diễn thực cảnh hoành tráng như “Ấn tượng Lưu Tam Tỷ” hay màn trình diễn ánh sáng “Đêm gala Đường Triều” ở Tây An đã biến di sản thành một sản phẩm du lịch hấp dẫn, kéo dài thời gian lưu trú và kích cầu kinh tế địa phương. Cuối cùng là “quốc tế hóa”: đưa các sản phẩm văn hóa ra toàn cầu, vừa tạo doanh thu vừa quảng bá hình ảnh một Trung Quốc vừa cổ kính vừa hiện đại. Sự thành công toàn cầu của các phim như Người nhện vũ trụ: Vũ trụ gặp rối (có sự tham gia của các hãng phim Trung Quốc) hay Nezha: Ma đồng giáng thế cho thấy khả năng kết hợp yếu tố Trung Hoa với ngôn ngữ điện ảnh toàn cầu để chinh phục thị trường thế giới.
4. Một số gợi mở cho Việt Nam
Có thể thấy sự kết hợp giữa truyền thống, hiện đại và thị trường trong mô hình phát triển công nghiệp văn hóa Trung Quốc không phải là một sự sắp xếp tuyến tính đơn giản mà là một vòng tuần hoàn sinh động và cộng hưởng. Truyền thống cung cấp “linh hồn”, công nghệ hiện đại cung cấp “phương tiện”, còn thị trường cung cấp “nguồn dinh dưỡng” để hệ sinh thái này không ngừng phát triển. Thành công về mặt thương mại từ thị trường sẽ tạo ra nguồn lực tài chính dồi dào để đầu tư trở lại cho công tác nghiên cứu, bảo tồn và khai thác sâu hơn các giá trị truyền thống, đồng thời thúc đẩy đổi mới công nghệ. Mô hình này không chỉ giúp Trung Quốc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa trong thời đại mới mà còn biến nó thành một sức mạnh kinh tế và công cụ đắc lực trong việc xây dựng hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế, cung cấp một bài học tham khảo sâu sắc về việc chuyển hóa sức mạnh mềm văn hóa thành sức mạnh cứng của nền kinh tế sáng tạo.
Từ thực tiễn Trung Quốc cho thấy việc phát huy bản sắc dân tộc trong công nghiệp văn hóa là chiến lược mang tính nền tảng để hình thành sức mạnh mềm quốc gia. Chiến lược này của Trung Quốc có thể là những tham khảo hữu ích để Việt Nam xây dựng con đường phát triển riêng, phù hợp với đặc trưng văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu:
Một là, cần hoàn thiện tầm nhìn chiến lược và hệ thống chính sách quốc gia. Những bước tiến của Trung Quốc được kiến tạo trên nền tảng một tầm nhìn chiến lược thống nhất, kết nối giữa phát triển kinh tế sáng tạo, bảo tồn di sản và quảng bá bản sắc dân tộc. Đây là gợi mở quan trọng cho Việt Nam trong việc đồng bộ hóa Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa đến năm 2030 với Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 để hình thành khung chính sách nhất quán về “bản sắc dân tộc trong công nghiệp văn hóa”. Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII, mục tiêu “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” phải được cụ thể hóa như một trụ cột của phát triển kinh tế tri thức. Để làm được điều này, thiết nghĩ, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ các hoạt động sau: xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa văn hóa - kinh tế - khoa học công nghệ - giáo dục để tạo nền tảng vận hành công nghiệp văn hóa theo hướng tích hợp; đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, số hóa di sản, cơ sở dữ liệu văn hóa và hệ sinh thái văn hóa số, qua đó mở rộng không gian sáng tạo và nâng cao năng lực tiếp cận của công chúng; hình thành các “trung tâm sáng tạo văn hóa” cấp quốc gia và vùng miền dựa trên lợi thế văn hóa địa phương, từ đó thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa theo hướng chú trọng bản sắc trong từng sản phẩm văn hóa. Định hướng này cho thấy Việt Nam cần dịch chuyển từ tư duy bảo tồn thuần túy sang tư duy phát triển văn hóa như nguồn lực chiến lược, bảo tồn trong sáng tạo và sáng tạo dựa trên bản sắc.
Hai là, thúc đẩy sáng tạo văn hóa - nghệ thuật trên nền tảng truyền thống. Điểm nổi bật trong mô hình Trung Quốc là khả năng hiện đại hóa truyền thống mà không đánh mất tinh thần văn hóa bản địa. Các hình tượng, triết lý, chất liệu mĩ thuật truyền thống được tái cấu trúc bằng công nghệ hiện đại, tạo ra sức hấp dẫn mới trong nghệ thuật đương đại. Từ đây có thể thấy việc “sáng tạo lại truyền thống”, biến di sản thành động lực của các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam cần cấp thiết triển khai: khuyến khích nghệ sĩ, nhà văn, đạo diễn, nhà thiết kế khai thác chiều sâu văn hóa dân gian, văn hóa làng xã, âm nhạc cung đình, mĩ học truyền thống, triết lý Việt Nam; tăng cường liên kết giữa nghệ thuật và các ngành công nghiệp văn hóa: từ văn học sang điện ảnh, từ mĩ thuật sang thiết kế, từ nghệ thuật biểu diễn sang sản phẩm truyền thông số, từ di sản sang du lịch văn hóa; hoàn thiện cơ chế đầu tư, đặt hàng sáng tạo, hỗ trợ bản quyền và tạo môi trường nghề nghiệp để nghệ sĩ yên tâm sáng tác; khuyến khích sáng tạo hội nhập, đối thoại văn hóa với thế giới từ nền tảng bản sắc riêng. Cách tiếp cận này cho phép Việt Nam phát triển nghệ thuật đương đại độc đáo, vừa mang tinh thần dân tộc vừa hòa nhịp với xu hướng toàn cầu hóa. Có như vậy, bản sắc dân tộc mới thực sự trở thành một nguồn lực quan trọng giúp nghệ thuật Việt Nam khẳng định vị thế trong không gian văn hóa toàn cầu.
Ba là, tăng cường vai trò của lý luận và phê bình văn học, nghệ thuật. Phát triển công nghiệp văn hóa không thể thiếu sự dẫn dắt của hệ thống lý luận và phê bình. Trung Quốc rất coi trọng công tác lý luận và phê bình, xem phê bình nghệ thuật chính là “bộ lọc tinh thần”, định hướng giá trị, củng cố bản sắc và ngăn chặn sự thương mại hóa cực đoan – vốn là nguy cơ thường trực trong công nghiệp văn hóa. Ở phương diện này, chúng tôi cho rằng Việt Nam cần chú trọng: xây dựng hệ thống lý luận - phê bình mang tính tự chủ, vừa tiếp thu lý thuyết hiện đại vừa bám rễ tư tưởng mĩ học dân tộc; đẩy mạnh nghiên cứu về mĩ học Việt Nam trong thời kỳ số hóa; nghiên cứu về bản sắc trong sáng tạo đương đại để cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định chính sách; khuyến khích đổi mới cách tiếp cận phê bình nghệ thuật theo hướng khoa học, cởi mở và mang tính đối thoại; nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực lý luận - phê bình, bảo đảm đội ngũ có năng lực tiếp cận xu hướng mới, đồng thời giữ vững nền tảng bản sắc Việt Nam; xác định phê bình văn học, nghệ thuật phải góp phần định hướng thẩm mĩ, đấu tranh với xu hướng lai căng, phản cảm. Rõ ràng điều này không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn mà còn là nền tảng để công nghiệp văn hóa phát triển lành mạnh và bền vững.
Bốn là, xây dựng mô hình phát triển công nghiệp văn hóa mang bản sắc Việt Nam trong giai đoạn mới. Để hội nhập thành công, Việt Nam cần phát triển mô hình công nghiệp văn hóa mang đặc trưng Việt Nam, không rập khuôn mô hình bên ngoài với các nhiệm vụ cụ thể gồm: xác định bản sắc dân tộc là “tiêu chí trọng tâm” trong quy hoạch hệ thống ngành công nghiệp văn hóa: điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, trò chơi điện tử, quảng cáo, thời trang, du lịch văn hóa; xây dựng “hệ sinh thái sáng tạo Việt Nam”, gắn sản phẩm văn hóa với giá trị văn hóa vùng miền, biến di sản thành tài nguyên sáng tạo; phát triển chiến lược xây dựng thương hiệu quốc gia “văn hóa Việt Nam”, hướng đến hình ảnh Việt Nam sáng tạo, nhân văn, giàu bản sắc; đưa giáo dục bản sắc dân tộc và văn hóa sáng tạo vào chương trình đào tạo chuyên ngành truyền thông - nghệ thuật - thiết kế - công nghệ, nhằm xây dựng đội ngũ nhân lực vừa am hiểu công nghệ vừa có nền tảng văn hóa; mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị văn hóa toàn cầu nhưng đồng thời kiên định bản sắc và chủ động định vị tiếng nói của Việt Nam trong đối thoại văn hóa.
5. Kết luận
Sự phát triển của công nghiệp văn hóa ở Trung Quốc cho thấy bản sắc dân tộc không chỉ là di sản tinh thần cần bảo tồn mà còn là nguồn lực sáng tạo và sức mạnh mềm của quốc gia hiện đại. Bản sắc, khi được tái cấu trúc trong bối cảnh toàn cầu hóa, có thể trở thành động lực thúc đẩy sáng tạo, gắn kết cộng đồng và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Đối với Việt Nam, quá trình phát triển công nghiệp văn hóa cần được đặt trong chiến lược tổng thể về phát triển con người và văn hóa dân tộc, với trọng tâm là “giữ hồn dân tộc - hiện đại hóa phương thức thể hiện”. Điều đó đòi hỏi sự đồng bộ giữa thể chế, chính sách, nguồn nhân lực và hệ sinh thái sáng tạo nhằm bảo đảm công nghiệp văn hóa vừa hiệu quả kinh tế vừa giàu giá trị nhân văn. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng hiện nay, phát huy bản sắc dân tộc trong công nghiệp văn hóa không chỉ là vấn đề bảo tồn văn hóa mà còn là lựa chọn chiến lược để khẳng định vị thế và sức cạnh tranh văn hóa của Việt Nam trong thế kỷ XXI.
Chú thích:
1 A. D. Smith (1991), National Identity, University of Nevada Press, p. 14.
2 2009 UNESCO Framework for Cultural Statistics, p. 47.
3 D. Hesmondhalgh (2019), The Cultural Industries (4th ed.), Sage, p. 56.
4 M. Keane (2013), Creative Industries in China, Polity, p. 74.
5, 11 D. Throsby (2010), The Economics of Cultural Policy, Cambridge University Press, p. 44, 52.
6 T. Miller (2009), Cultural Citizenship, Temple University Press, p. 33.
7 J. Tomlinson (1999), Globalization and Culture, University of Chicago Press, p. 67.
8 M. Keane (2013), Creative Industries in China, Polity, p. 112.
9 W. Su (2021), China’s Cultural Policy and Soft Power, Routledge, p. 88
10 Chính phủ (2016), Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tr. 3.
12, 16 Quốc vụ viện Trung Quốc (2021), Chiến lược phát triển văn hóa Trung Quốc đến năm 2035.
13, 22 Kế hoạch 5 năm lần thứ 14 về Phát triển kinh tế, xã hội và mục tiêu dài hạn đến năm 2035 của Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, NXB. Nhân dân, 2021.
14, 18 Ủy ban Cải cách và phát triển quốc gia Trung Quốc (2023), Cải thiện lĩnh vực văn hóa hiện đại, Tài liệu về kế hoạch 5 năm lần thứ 14 của lĩnh vực văn hóa.
15 Văn kiện Đại hội XX Đảng Cộng sản Trung Quốc, 2022.
17, 19 Đảng Cộng sản Trung Quốc (2017), Báo cáo tại Đại hội đại biểu toàn quốc thứ 19, NXB. Nhân dân.
20, 21 Đảng Cộng sản Trung Quốc (2012), Báo cáo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 18, NXB. Nhân dân.
23 Đảng Cộng sản Trung Quốc (2025), Báo cáo tại Hội nghị Trung ương IV, Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần XX, NXB. Nhân dân.