ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH TRẺ GẮN VỚI NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA

Trên cơ sở phân tích vai trò của việc đào tạo đội ngũ lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trẻ trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam; chỉ ra những hạn chế của lực lượng phê bình hiện nay, bài viết nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ phê bình trẻ có trình độ chuyên môn và tư duy liên ngành nhằm đáp ứng nhiệm vụ định hướng, thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp văn hóa.

   Công nghiệp văn hóa là một thuật ngữ chỉ các ngành công nghiệp “kết hợp sự sáng tạo, sản xuất và thương mại hóa các nội dung văn hóa phi vật thể”1. Do vậy, UNESCO xác định công nghiệp văn hóa là một bộ phận của của “công nghiệp sáng tạo”. Tùy vào thế mạnh và điều kiện kỹ thuật, công nghệ, các quốc gia có thể lựa chọn, đề xuất một số ngành công nghiệp văn hóa phù hợp để đầu tư phát triển. Thực tiễn cho thấy hiệu quả kinh tế, văn hóa và “quyền lực mềm” từ thành tựu công nghiệp văn hóa là rất to lớn ở nhiều quốc gia trên thế giới nhiều thập kỷ, riêng ở Mĩ đã có gần cả thế kỷ qua. Ở Việt Nam, thuật ngữ công nghiệp văn hóa được nhắc đến từ những năm đầu thế kỷ XXI trên báo chí và trong các văn bản của Đảng, Nhà nước. Và tất nhiên, nó được đề cập trong văn kiện các kỳ đại hội của Đảng, từ Đại hội XI (2011) đến Đại hội XIV (2026), trong Quyết định số 1755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” (2016). Gần đây, trong Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7.1.2026 của Bộ Chính trị Về phát triển văn hóa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh vai trò và vị trí quan trọng của văn hóa từ nay đến năm 2030, trong đó, xác định một cách bao quát nhiều nội dung cụ thể: “Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hoá; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hoá, nghệ thuật sáng tạo. Xây dựng một số tập đoàn công nghiệp văn hoá, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hoá tầm cỡ quốc tế dựa trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo”. Đây là chủ trương đúng đắn, cần kíp trong việc thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam nhanh chóng có vị trí xứng đáng, đuổi kịp các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, nhằm đáp ứng nhu cầu sáng tạo và nhu cầu thưởng thức văn hóa, nghệ thuật của người Việt trong bối cảnh đương đại.

   Liên quan đến công nghiệp văn hóa, có nhiều bình diện, nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Bài viết này tập trung đề cập đến việc xây dựng đội ngũ lý luận, phê bình trẻ gắn với nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa của quốc gia.

   1. Hiện trạng đội ngũ lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật tại Việt Nam

   Lý luận và phê bình là hai lĩnh vực khác nhau nhưng có mối liên hệ mật thiết với nhau nên thường được gọi chung là lý luận, phê bình. Văn học, nghệ thuật bao gồm văn học và các loại hình nghệ thuật: hội họa, âm nhạc, điện ảnh, sân khấu, kiến trúc, điêu khắc, nhiếp ảnh... Những người làm lý luận lâu nay chủ yếu công tác trong các trường đại học, viện nghiên cứu. Những người làm phê bình thì rộng hơn, ngoài các trường đại học, viện nghiên cứu, họ còn có mặt ở các hội, tạp chí, báo, nhà xuất bản và nhiều nơi khác. Người chuyên về lý luận ít hơn nhiều so với người viết phê bình. Mặc dù có một số người vừa nghiên cứu lý luận vừa viết phê bình, tuy nhiên, không được nhầm lẫn lý luận và phê bình là một, bởi một lý do đơn giản, đó là những bộ môn khác nhau trong khoa nghiên cứu văn học, nghệ thuật. Chúng có đối tượng và phương pháp luận nghiên cứu khác nhau. Phê bình văn học, nghệ thuật gắn bó nhiều nhất và trực tiếp với đời sống văn nghệ đương đại. Do vậy, nó có khả năng tương tác sâu rộng và can dự kịp thời vào đời sống nghệ thuật đương đại. Theo tôi, đội ngũ phê bình văn học, nghệ thuật hiện nay có ba nhóm chính (việc chia nhóm này chỉ có tính tương đối): 1) Những nhà phê bình chuyên nghiệp: chuyên môn sâu, chuyên viết sách và các bài báo khoa học cho các tạp chí; 2) Những cây bút phê bình báo chí: có chuyên môn, chuyên viết bài (bình luận, giới thiệu, phỏng vấn) cho các báo, đài và những nơi khác; 3) Cộng đồng mạng: đa số không có đủ chuyên môn về văn học, nghệ thuật, phát ngôn theo cảm tính, có khi theo số đông trên các nền tảng mạng xã hội.

   Ba nhóm trên có ưu thế và giới hạn của nó, ở các mức độ khác nhau, xét từ góc độ phê bình. Nhóm phê bình chuyên nghiệp có khả năng khái quát, chứng minh các luận điểm bằng các luận cứ tường minh và đầy đủ, văn phong có tính hàn lâm, nhưng do phải dành thời gian cho những công việc chuyên môn, họ ít tương tác trực tiếp với những vấn đề thời sự của văn nghệ. Nhóm phê bình báo chí thường nhận xét, đánh giá tác giả, tác phẩm đang được quan tâm ở mức độ vừa phải, không quá chuyên sâu, họ có khả năng giúp người đọc tiếp cận kịp thời với tác phẩm, tác giả mới và nhận diện phần nào về giá trị của tác phẩm, tác giả. Nhóm cộng đồng mạng có khả năng trực diện những cái hay, cái dở của tác phẩm, tác giả theo quan điểm, lập trường và sở thích cá nhân. Đặc biệt, trong thời điểm xuất hiện những “hiện tượng” văn nghệ, cộng đồng mạng trở thành diễn đàn phê bình sôi động, có sức thu hút độc giả mạnh mẽ; có những ý kiến sắc sảo nhưng phần nhiều là cảm tính nên dễ dẫn đến những nhận xét theo kiểu chủ quan, thiếu chuẩn xác, có khi quy chụp.

   Nhìn tổng thể về đội ngũ lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay thì lực lượng viết phê bình văn học và mĩ thuật khá dồi dào, hùng hậu và chứng minh được tính chuyên sâu qua việc xuất bản các sách chuyên khảo, công bố đều đặn các bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế và các tạp chí chuyên ngành trong nước. Lực lượng viết phê bình về âm nhạc, điện ảnh, kiến trúc..., theo các nhà chuyên môn, thì đang thiếu hụt về số lượng và phần nào về chất lượng. Chẳng hạn, đạo diễn Đỗ Thanh Hải cho rằng điện ảnh Việt Nam hiện nay “đang có ít (tức là thiếu – NT) những nhà lý luận, phê bình chuyên nghiệp”2. Cùng quan điểm với Đỗ Thanh Hải còn có Mi Lan trong bài Điện ảnh Việt thiếu trầm trọng nhà phê bình chuyên nghiệp3. Nhà nghiên cứu, phê bình điện ảnh chuyên nghiệp, TS. Ngô Phương Lan, ngoài việc xác nhận sự thiếu hụt về lực lượng phê bình chuyên nghiệp, bà còn đề cập đến một trở ngại khó giải quyết dứt điểm và có khả năng gây ra hậu quả khôn lường trong hoạt động phê bình điện ảnh: “Lý luận, phê bình phim phải là ngành được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, với chuyên môn, hiểu biết sâu rộng về điện ảnh. Thế nhưng hiện nay, mạng xã hội phát triển đã biến bất cứ ai, bất cứ tài khoản Facebook nào cũng có thể trở thành nhà phê bình điện ảnh”4.

   Những trăn trở của giới lý luận, phê bình, sáng tạo điện ảnh là có cơ sở. Tuy nhiên, hiện tượng này không chỉ tồn tại trong lĩnh vực điện ảnh mà cả trong lĩnh vực âm nhạc. Theo nhạc sĩ, nhà phê bình âm nhạc Trần Lệ Chiến: “phê bình âm nhạc […] không thiếu, chỉ thiếu người làm phê bình chuyên nghiệp, tức những người có chuyên môn sâu về âm nhạc, còn nhà báo viết phê bình âm nhạc thì rất nhiều, nhưng vì thiếu kiến thức chuyên môn nên thay vì định hướng cho thị trường âm nhạc, họ lại góp phần “làm loạn” thêm”5. Theo PGS. TS. Nguyễn Thị Mỹ Liêm, “đội ngũ lý luận, phê bình âm nhạc ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay “chưa đủ đếm trên 10 đầu ngón tay”. Đó là mảng lý luận, còn phê bình thì dường như trống vắng”6.

   Qua những ý kiến bước đầu nhận diện về hiện trạng đội ngũ lý luận, phê bình ở một số lĩnh vực nghệ thuật, có thể thấy rằng đang có hiện tượng thiếu hụt đội ngũ lý luận, phê bình nghệ thuật chuyên nghiệp trong những lĩnh vực rất cần chuyên sâu, tức là đòi hỏi những người thực sự am hiểu về đặc trưng của các loại hình nghệ thuật cụ thể, các kiến thức liên ngành, các xu hướng vận động của nghệ thuật trên thế giới và thấu hiểu nhu cầu tiếp nhận của công chúng đương đại. Điều này đặt ra những yêu cầu cấp bách của việc đào tạo đội ngũ lý luận, phê bình trẻ trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng yêu cầu thẩm định tác phẩm/ sản phẩm nghệ thuật và dẫn dắt, định hướng khâu tiếp nhận của độc giả, đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học, nghệ thuật, trong đó có các ngành công nghiệp văn hóa.

   Nếu ai có điều kiện theo dõi hoạt động nghiên cứu văn học, nghệ thuật ở Việt Nam từ Đổi mới đến nay thì có thể ghi nhận những thành tựu to lớn mà đội ngũ lý luận, phê bình đã tạo nên bằng những công trình chuyên luận, chuyên khảo, phê bình - tiểu luận, từ điển, các bài báo khoa học đăng tải trên các tạp chí khoa học quốc gia, quốc tế… Trước hết, đó là nỗ lực tiếp nhận những khuynh hướng hiện đại và đương đại của lý luận văn học, nghệ thuật thế giới, từ đó tường giải, giới thiệu rộng rãi, hỗ trợ và thúc đẩy sự sáng tạo của giới sáng tác theo tinh thần hội nhập và tạo nên khá nhiều tác phẩm thuộc các lĩnh vực văn học, hội họa, âm nhạc, điện ảnh… khẳng định được diện mạo mới của văn học, nghệ thuật Việt Nam đương đại. Nhiều lý thuyết phê bình hiện đại và đương đại của thế giới cũng được giới văn nghệ trong nước tiếp nhận, vận dụng vào việc nghiên cứu các tác giả, tác phẩm, góp phần thúc đẩy hoạt động phê bình ngày càng phong phú, đa dạng từ góc độ tiếp cận, đồng thời nâng cao tính chuyên nghiệp trong đội ngũ phê bình.

   Hiện trạng thiếu hụt của đội ngũ lý luận, phê bình chuyên nghiệp ở một số lĩnh vực văn nghệ đã ảnh hưởng đến tình hình, hoạt động phê bình nghệ thuật trong thời gian qua, dẫn đến không ít độc giả, khán thính giả đặt câu hỏi, thậm chí đánh giá thấp vai trò của giới phê bình. Nguyên nhân của vấn đề khá nhiều, tuy nhiên, có một số nguyên nhân sâu xa khiến người đọc “thất vọng” về hoạt động phê bình: 1) Đời sống phê bình đương đại bên cạnh trạng thái bình thường (phê bình có chuyên môn sâu, am hiểu lý thuyết, thái độ khách quan) còn có hiện tượng bất bình thường (sự “bùng nổ” của lối phê bình nghiệp dư). Đáng chú ý là sự xuất hiện hai hình thức phê bình mới: phê bình “vuốt ve” và phê bình “triệt hạ”. Cả hai hình thức này đều không có lợi cho phê bình, mặc dù chúng có thể có lợi cho nhóm lợi ích (xét về ngắn hạn). Phê bình “vuốt ve” làm lệch chuẩn khả năng thẩm định tác phẩm, không mang lại giá trị thực của nghệ thuật. Phê bình “triệt hạ” làm thui chột những mầm mống nghệ thuật, lợi dụng hiệu ứng đám đông, đẩy sự bình xét, đánh giá tác phẩm đi về phía chủ quan, phiến diện, quy chụp. Cả hai hình thức phê bình này chủ yếu xuất hiện trên mạng xã hội, nơi mà các bài viết thường không được biên tập, phản biện. Phê bình mạng có ưu điểm là tính nhanh nhạy, kịp thời, nhưng nhược điểm của của nó thì khá nhiều: chủ quan, cảm tính, có khi quy chụp tùy tiện. 2) Có khi do tư duy về nghệ thuật của nhà phê bình chưa theo kịp sáng tác. Chẳng hạn, trong việc tiếp cận tác phẩm, vẫn còn hiện tượng nhầm lẫn giữa tả y như thật với nghệ thuật tả thực. Từ lâu, nhà lý luận, phê bình mĩ thuật đầu ngành Thái Bá Vân đã cho rằng: “Hiện thực không phải là cái ta nhìn thấy bằng con mắt, mà là cái ta quan niệm bằng tâm tưởng”7. Hoặc theo Christopher Caudwell, nhà phê bình văn học Marxist người Anh đầu thế kỷ XX, thì “chính “hiện thực bên trong” của con người mới là đối tượng của nghệ thuật, còn “hiện thực bên ngoài” là đối tượng của khoa học”8. Lý luận, phê bình ở Việt Nam lâu nay vẫn nặng về chuẩn thẩm mĩ “tả thực”, do vậy, việc bảo lưu tiêu chí tả thực cũ rất dễ làm chậm sự đổi mới trong khâu sáng tác mà còn khiến cho phê bình bị tụt hậu, ít nhiều làm “náo loạn” đời sống phê bình do những tranh cãi không hồi kết.

   2. Xây dựng đội ngũ lý luận, phê bình trẻ gắn với công nghiệp văn hóa

   Để góp phần thức đẩy công nghiệp văn hóa phát triển, ngoài các khâu sáng tác, thiết kế, dàn dựng, biểu diễn, tiếp thị… cần có sự phối hợp, dẫn dắt của hoạt động nghiên cứu, phê bình. Phê bình nghệ thuật không chỉ cung cấp lý thuyết mà còn thẩm định, đánh giá, khuyến khích hoặc cảnh báo đối với sản phẩm nghệ thuật. Công nghiệp văn hóa là ngành kinh tế kết hợp giữa sáng tạo, sản xuất và thương mại hóa các sản phẩm, dịch vụ văn hóa, dựa trên nền tảng tri thức, công nghệ và thị trường. Nó bao gồm nhiều lĩnh vực, tất cả đều hướng đến việc tạo ra giá trị kinh tế từ các giá trị văn hóa.

   Ở Việt Nam, cách đây 15 năm, đã có chủ trương về xây dựng công nghiệp văn hóa và 10 năm trước, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 8.9.2016 về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, trong đó xác định 2 mục tiêu cơ bản: 1) Xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp văn hóa thành ngành kinh tế quan trọng, có đóng góp tích cực cho tăng trưởng GDP; 2) Góp phần quảng bá hình ảnh quốc gia, phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Theo đó, những ngành được ưu tiên phát triển theo hướng công nghiệp văn hóa ở Việt Nam gồm: Quảng cáo; Kiến trúc; Phần mềm và các trò chơi giải trí; Thủ công mĩ nghệ; Thiết kế; Điện ảnh; Xuất bản; Thời trang; Nghệ thuật biểu diễn; Mĩ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; Truyền hình và phát thanh; Du lịch văn hóa. Cũng trong Quyết định này, Thủ tướng Chính phủ đã xác định mục tiêu chung, nhiệm vụ và giải pháp cho từng ngành cụ thể và nguồn vốn thực hiện. Trong đó, đáng chú ý là các khâu tổ chức thực hiện và đào tạo nhân lực cho các lĩnh vực, ngoài đội ngũ diễn viên, biên kịch, đạo diễn, thiết kế, quảng bá, tiếp thị… thì việc xây dựng đội ngũ nghiên cứu, phê bình cũng được chú trọng.

   Nói đến công nghiệp văn hóa là nói đến công nghệ và tri thức liên ngành. Do vậy, trước hết cần quan tâm đến việc đào tạo đội ngũ lý luận, phê bình trẻ am hiểu kiến thức liên ngành với nhiều lĩnh vực khác nhau, có khả năng kết hợp để tạo nên các sản phẩm văn hóa có khả năng thu hút người thưởng thức. Các trường đại học, cao đẳng sẽ là nơi tổ chức đào tạo một số khoa hoặc bộ môn có tính liên ngành. Các trường đại học, học viện nghiên cứu, đào tạo chuyên sâu về nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, mĩ thuật, du lịch văn hóa… cần đầu tư cho giảng dạy, thực hành theo hướng công nghiệp văn hóa. Trên tầm vĩ mô, nhà nước cần xây dựng cơ chế chính sách phù hợp, từ khâu đào tạo nhân lực đến các khâu huy động nguồn vốn, tiếp nhận, cập nhật công nghệ, kỹ thuật, phương pháp và kinh nghiệm tổ chức biểu diễn, quảng bá, tiếp thị của các quốc gia có thế mạnh về lĩnh vực này.

   Khi các ngành công nghiệp văn hóa được xác định phải trở thành “những ngành kinh tế dịch vụ quan trọng”, “đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm” thì cơ chế vận hành của các hoạt động văn hóa, nghệ thuật phải thay đổi để phù hợp và có hiệu quả thực sự.

   Công tác đào tạo nhân lực cho các ngành công nghiệp văn hóa tiến hành song song đào tạo trong nước với đào tạo ở nước ngoài, nhất là ở các nước có thành tựu về công nghiệp văn hóa được thế giới thừa nhận. Đó là phương thức đào tạo nhanh và hiệu quả nhất. Một đạo diễn phim hoặc đạo diễn sân khấu, nếu được học và thực hành nghề tại các nền nghệ thuật tiên tiến với những vị thầy tài năng, có cá tính và tâm huyết thì họ có khả năng trở thành những đạo diễn có dấu ấn trong nghề. Các chương trình nghệ thuật trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa thường tổ hợp nhiều loại hình nghệ thuật. Một chương trình truyền hình thực tế về âm nhạc có thể kết hợp âm nhạc vũ đạo và các yếu tố tạo ấn tượng, thu hút người xem một cách liên tục. Riêng khâu vũ đạo cũng cần có những biên đạo thông minh, có khả năng sáng tạo và được đào tạo một cách bài bản ở những cơ sở đào tạo có tinh thần khai phóng. Doanh thu kỷ lục của phim Mưa đỏ có sự đóng góp về kịch bản của nhà văn Chu Lai, sự quảng bá của đội ngũ tiếp thị từ các rạp phim trong toàn quốc, sự đầu tư kinh phí của Bộ Quốc phòng và đặc biệt là sự sáng tạo đầy dụng ý nghệ thuật của đạo diễn Đặng Thái Huyền.

   Những người làm lý luận, phê bình trong các lĩnh vực công nghiệp văn hóa, chắc chắn ngoài việc trang bị kiến thức chuyên môn, còn phải hiểu đầy đủ vai trò, chức năng của phê bình và tinh tế trong việc thẩm định giá trị và hiệu quả nghệ thuật của các sản phẩm nghệ thuật có tính tổng hợp. Phê bình nghệ thuật là nhận diện cái hay, cái đẹp, cái mới của nghệ thuật, từ đó giúp khán giả, thính giả bình thường tiếp nhận đầy đủ giá trị của sản phẩm nghệ thuật đó. Nhà phê bình có khi còn chỉ ra những hạn chế (nếu có) của một chương trình nghệ thuật, một bộ phim… cụ thể, để góp phần thúc đẩy nghệ thuật phát triển. Để làm được điều đó một cách thuyết phục, nhà phê bình nghệ thuật phải thực sự am hiểu lĩnh vực nghệ thuật mà mình lấy làm đối tượng theo dõi, nghiên cứu, đồng thời luôn có thái độ khách quan trong nhận xét, thẩm bình. Ở những lĩnh vực mới mẻ như công nghiệp văn hóa (Việt Nam) rất cần sự đầu tư thời gian và công sức của giới lý luận, phê bình nghệ thuật và các nghệ sĩ có tên tuổi, trước hết là làm sáng tỏ những vấn đề thuộc về lý thuyết, từ đặc trưng thể loại/ loại hình đến đặc điểm, tính chất, chức năng, ngôn ngữ và phương thức tương tác với khán, thính giả, những vấn đề có tính nguyên tắc và khả năng biến hóa về kịch bản, đạo diễn, diễn viên, vũ đạo, đạo cụ, âm thanh, ánh sáng, quảng cáo và tiếp thị… Công nghiệp văn hóa không phải là thương mại hóa văn hóa mà là đưa văn hóa thành nghệ thuật, đảm bảo các ngành công nghiệp văn hóa vừa góp phần quảng bá văn hóa dân tộc vừa có doanh thu như những ngành kinh tế quan trọng.

   Để khắc phục sự thiếu hụt đội ngũ phê bình chuyên nghiệp ở những lĩnh vực đòi hỏi am hiểu chuyên môn có tính liên ngành như các lĩnh vực thuộc công nghiệp văn hóa, ngoài việc được đào tạo bài bản, các cơ quan có thẩm quyền quản lý cần có chế độ đãi ngộ thích hợp, các phương tiện truyền thông cần dành không gian và thời lượng thích hợp cho lý luận, phê bình liên quan đến công nghiệp văn hóa. Đời sống phê bình đương đại đang thiếu vắng tiếng nói của những nhà phê bình chuyên nghiệp trên diễn đàn báo chí ở khá nhiều lĩnh vực, có khi vì thiếu hụt thực sự, có khi vì những lý do khác (không có thời gian để theo dõi sự kiện và viết, ngại va chạm…). Nếu các cơ quan truyền thông có kế hoạch “đặt hàng” cho họ thì có khả năng “kéo” được các nhà phê bình chuyên nghiệp ra khỏi không gian của các tạp chí chuyên ngành và vườn sách chuyên khảo, khiến họ dành thời gian đồng hành với các nhà phê bình báo chí. Phê bình hiện đại không thể không có lý thuyết. Nhà phê bình đương đại không thể chỉ dừng lại ở mức khen chê theo cảm tính mà sự đánh giá về tác phẩm/ sản phẩm nghệ thuật phải dựa trên nền tảng của lý thuyết. Cái hay/ dở, mới/ cũ, có giá trị/ không có giá trị… của tác phẩm/ sản phẩm nghệ thuật phải dựa trên tiêu chí văn hóa, nghệ thuật.

   3. Kết luận

   Công nghiệp văn hóa không mới trên thế giới nhưng khá mới mẻ ở nước ta. Những cơ hội đang mở ra với những người làm nghệ thuật và giới quản lý, nghiên cứu văn hóa sau khi đã có những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Công cuộc xây dựng các ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam trong 5 năm tới đang hướng đến những mục tiêu to lớn về quy mô và tầm cỡ là công việc của nhiều ngành, nhiều người. Đội ngũ lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật liên quan đến công nghiệp văn hóa gánh một phần trọng trách trong đó. Khi có đội ngũ lý luận, phê bình am hiểu các lĩnh vực có tính liên ngành về văn hóa, nghệ thuật thì chắc chắn họ sẽ hỗ trợ tích cực cho đổi mới – sáng tạo trong các lĩnh vực thuộc công nghiệp văn hóa. Công nghiệp văn hóa là xu hướng của sáng tạo và thụ hưởng văn hóa trong đời sống đương đại trên thế giới và ở Việt Nam. Do vậy, việc nhận thức đầy đủ về đào tạo đội ngũ lý luận, phê bình trẻ cho lĩnh vực này là một vấn đề cấp thiết hiện nay.

 

 

 

Chú thích:
1 UNESCO (2000), Culture, Trade and Globalization - Questions and Answers.
2 Đỗ Thanh Hải (22.3.2023): “Một vài suy nghĩ về thực trạng lý luận, phê bình điện ảnh Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật.
3, 4 Mi Lan (26.12.2024): “Điện ảnh Việt thiếu trầm trọng nhà phê bình chuyên nghiệp”, Báo Lao động.
5 https://vienamnhac.vn/bai-viet/nhac-moi/lyluan-phe-binh-am-nhac-thuc-trang-va-giai-phap.
6 Nguyễn Thị Mỹ Liêm (26.8.2023): “Đội ngũ lý luận, phê bình âm nhạc: khoảng trống và khoảng cách”, Báo Văn hóa.
7 Thái Bá Vân (2009), Tiếp xúc với nghệ thuật, NXB. Mỹ thuật, tr. 32.
8 Ch. Caudwell: “Ảo ảnh và hiện thực” in trong sách Lý luận văn học như là siêu khoa học (Nhiều tác giả, Trương Đăng Dung dịch và giới thiệu), NXB. Văn học, tr. 297.

Bình luận

    Chưa có bình luận