Thuật ngữ “âm nhạc thị trường” đã rất quen thuộc không chỉ trong nhạc giới mà cả công chúng; nó không còn là thuật ngữ chỉ một nhóm nhỏ những tác phẩm đang tham gia vào đời sống âm nhạc Việt Nam mà đang chiếm ưu thế về số lượng, không gian trình diễn và giá trị kinh tế. Âm nhạc thị trường bắt đầu có dấu hiệu ảnh hưởng, trở thành xu hướng của sáng tác, biểu diễn âm nhạc hiện nay, nhất là khi Việt Nam đang hướng đến phát triển công nghiệp văn hóa, trong đó có công nghiệp âm nhạc.
Sự lấn át và tạo nên xu hướng sáng tạo của âm nhạc thị trường, cùng với cơ chế tự chủ và kinh tế thị trường, đã thị trường hóa nghệ thuật âm nhạc và đó là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, nhận thức được xu hướng, nhận diện được những tác động và mặt trái của thị trường hóa nghệ thuật âm nhạc sẽ giúp chúng ta có thể xây dựng nền âm nhạc Việt Nam có nội dung bảo tồn được giá trị truyền thống, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và phát triển bền vững.
1. Những vấn đề lý luận liên quan
1.1. Các khái niệm Thị trường và thị trường hóa:
Thị trường là một khái niệm cơ bản trong kinh tế và thị trường hóa là xu hướng ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại, khi các hoạt động kinh tế, xã hội và cả nghệ thuật được vận hành theo cơ chế thị trường.
Bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc là các hoạt động nhằm gìn giữ, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống đặc trưng của một dân tộc, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể, để không bị mai một, biến dạng và tiếp tục được truyền lại cho các thế hệ sau.
Hoạt động bảo tồn, theo UNESCO, là bảo vệ các giá trị văn hóa khỏi các tác động tiêu cực từ bên ngoài, đặc biệt là sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai không phù hợp hoặc các hoạt động khai thác thiếu bền vững. Không chỉ dừng lại ở việc giữ gìn, bảo tồn còn bao gồm cả việc phát huy các giá trị văn hóa trong đời sống hiện tại một cách phù hợp, sáng tạo để chúng có ý nghĩa và được tiếp nối trong tương lai.
1.2. Quan điểm bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc trong hoạt động nghệ thuật âm nhạc
Quan điểm của UNESCO: Bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc là một quá trình liên tục, bao gồm việc gìn giữ, bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của bản sắc dân tộc, đồng thời góp phần xây dựng một xã hội văn minh, đa dạng và bền vững.
Quan điểm bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc trong hoạt động nghệ thuật âm nhạc của các ngành nghiên cứu khoa học âm nhạc là: bảo tồn “nguyên vẹn” di sản của các nhà âm nhạc dân tộc học phương Tây và bảo tồn “sống” theo cách của các nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc học người Nhật.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta cũng luôn thể hiện sự quan tâm, chú trọng việc bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc nói chung, tất nhiên trong đó có việc bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc ở hoạt động nghệ thuật âm nhạc.
1.3. Một vài điển hình ở hoạt động bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc của ngành âm nhạc
Sau hơn 80 năm thực hiện theo Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 của Đảng với quan điểm, chủ trương “Khoa học - Dân tộc - Đại chúng”, những thành tựu trong công tác bảo tồn văn hóa nói chung và âm nhạc nói riêng đã đạt kết quả tốt:
Sưu tầm, thu thập, tập hợp vốn âm nhạc cổ truyền: số lượng làn điệu, bài bản được ghi âm, ký âm, tư liệu âm thanh, hình ảnh, hình ảnh động… lên đến hàng chục vạn bài bản, giai điệu. Đây là vốn quý và cũng là bước đầu tiên quan trọng, là cơ sở để bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc.
Tổ chức truyền dạy, phổ biến: âm nhạc dân tộc đã được đưa vào trường học, chuyên nghiệp hóa ở các học viện âm nhạc, nhạc viện; hàng ngàn câu lạc bộ dân ca, dân vũ, dân nhạc… đang sinh hoạt. Đặc biệt, 11/16 di sản phi vật thể âm nhạc hoặc liên quan âm nhạc được UNESCO ghi danh “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại” cũng là cách mà chúng ta khôi phục, đưa các di sản vào đời sống hiện nay.
Tổ chức sáng tác: hàng trăm tác phẩm khí nhạc, thanh nhạc mang âm hưởng âm nhạc dân tộc hoặc những sáng tác mới cho nhạc cụ dân tộc. Đặc biệt, thể hiện xu hướng sáng tác, biên soạn tác phẩm âm nhạc “đàn Tây đánh nhạc ta”. Đồng thời, nhiều cải tiến nhạc cụ, sáng tác tác phẩm mới, thực hiện khả năng “đàn ta đánh nhạc Tây”!
Biểu diễn: cải tiến nhạc khí dân tộc; biên soạn, cải biên âm nhạc cổ truyền để thể hiện trong nhiều hình thức mới, điển hình là dàn nhạc dân tộc cải biên và nhóm nhạc dân tộc điện tử.
2. Âm nhạc thị trường và thị trường hóa nghệ thuật âm nhạc
2.1. Âm nhạc thị trường
Danh từ này được sử dụng khá phổ biến trong giới sáng tác âm nhạc khi đánh giá các ca khúc được sáng tác nhanh, theo thị hiếu, có nội dung, cấu trúc hình thức đơn giản, lối xây dựng và phát triển giai điệu cũng như hòa âm phối khí cùng chung phong cách… với đặc điểm: nhẹ, lạ, “bắt tai”!
Nội dung đa phần nói về tình yêu lứa đôi (thất tình, tan vỡ, dối lừa, sầu thương…); hình thức cấu trúc khác - lạ, không quan tâm đến những quy chuẩn của cấu trúc hình thức cho ca khúc theo lối kinh viện (giống như hình thức của Thơ mới trong phong trào sáng tác những năm 30 đầu thế kỷ XX). Giai điệu càng lạ càng tốt, nói như hát và hát như nói, không theo quy luật của thanh điệu tiếng Việt nhưng lại theo một quy luật chung là tiết tấu, cách thể hiện của giai điệu, ở các âm khu với cung bậc phi lý kết hợp với hòa âm theo lối nghịch của nhạc pop Mĩ (ví dụ: Anh ơi ở lại của Chi Pu) và cố ý thoát ra khỏi quy luật hình thành và phát triển giai điệu của giai đoạn âm nhạc trước đây. Do ca khúc thị trường của các nước châu Á hiện nay đều có xuất phát từ ca khúc Pháp - Anh (nhạc pop) nên giai điệu luôn bị chi phối bởi “tiết điệu” (tango, rumba, ballad, slow rock…) và có những nét giống hoặc pha trộn nhạc Đài Loan, nhạc Hồng Kông, nhạc Nhật, kể cả một chút pop Mĩ với sự pha trộn nhiều thể loại giữa nhạc pop, country, jazz, blue... và sau này là rap.
Tác phẩm âm nhạc thị trường khai thác làn điệu dân ca, chất liệu âm nhạc dân gian, khai thác văn hóa dân tộc là một trong những xu hướng chính của âm nhạc thị trường bởi dễ được chấp nhận, thu hút khán giả trong và ngoài nước. Có nhiều kiểu/ cách làm của âm nhạc thị trường: đối với âm nhạc dân tộc là biến đổi hình thức biểu diễn, rock hóa/ pop hóa các giai điệu dân ca (Bắc Bling của Hòa Minzy); cover, remix lại các bài dân ca hoặc ca khúc mang âm hưởng dân ca (Chiếc khăn piêu, Xuống chợ)…, điểm chung là tính đại chúng của sản phẩm: dễ dãi về nội dung, bắt mắt về hình thức, nghệ thuật và hình tượng âm nhạc không là yêu cầu đầu tiên.
Hiện nay, khai thác các yếu tố đặc trưng của văn học, văn hóa dân tộc như một gợi ý, ý tưởng sáng tác. Ví dụ: Để Mỵ nói cho mà nghe, Bánh trôi nước của Hoàng Thùy Linh; Phương Mỹ Chi với một loạt bài được lấy ý tưởng, chiết trích từ các trích giảng văn học ở chương trình phổ thông trung học trong album Vũ trụ cò bay; Hòa Minzy có Thị Mầu, Kén cá chọn canh; Masew có Mời trầu, Túy âm, Ái nộ, Nhất thân, Vô lương (chèn chú đại bi)… là cách tiếp cận với khán giả trẻ, là xu hướng. Tuy nhiên, đó chỉ là một xu hướng trong nhiều xu hướng khác nhau của nhạc thị trường. Đã có dấu hiệu sáng tác bị lặp lại với các ca khúc phong cách pop - ballade tạo nên xu hướng pha trộn giữa các thể điệu/ tiết điệu. Xuất hiện xu hướng cover, remix hay phối lại bằng các thể loại/ tiết điệu khác nhau để tạo thêm màu sắc. Khai thác tác phẩm âm hưởng âm nhạc/ văn hóa dân tộc… đôi khi chỉ là phần “nhìn”, làm lạ mắt, hấp dẫn hơn.
2.2. Thị trường hóa nghệ thuật âm nhạc
Về mặt ngữ nghĩa, “thị trường hóa nghệ thuật âm nhạc” liên quan đến việc áp dụng các nguyên tắc thị trường vào lĩnh vực, hoạt động âm nhạc. Đây cũng là quá trình mà âm nhạc được sáng tạo vì mục đích thị trường, trở thành một sản phẩm của thị trường. Hoạt động âm nhạc như sáng tác, đào tạo và đặc biệt là biểu diễn âm nhạc trở thành một dịch vụ, được giao dịch rộng rãi trên thị trường, chịu tác động của kinh tế, của thị trường. Hiện nay, thị trường hóa âm nhạc là một xu hướng - hiện tượng. Thị trường hóa nghệ thuật âm nhạc là sự chuyển đổi mục đích sáng tác, áp dụng những yêu cầu của thị trường trong quá trình sáng tạo.
Đối với sáng tác, tác phẩm âm nhạc sẽ được sáng tác theo đơn đặt hàng, có thể được thực hiện nhằm mục đích bán và bán được nhiều nhất, thu lợi nhiều nhất. Qua đó, xảy ra những hiện tượng bất chấp những yêu cầu về nội dung, tư tưởng tốt, phục vụ cho tiến bộ xã hội cũng như đảm bảm yêu cầu về đạo đức xã hội, truyền thống văn hóa. Sản phẩm âm nhạc sẽ có tính chất đại chúng về nội dung và việc hình thành công nghiệp sáng tạo để có nhanh nhiều sản phẩm là điều dễ hiểu. Nói cách khác, âm nhạc có thể không phải là một sáng tạo nghệ thuật mà sẽ được xây dựng theo xu hướng công nghiệp sản xuất.
Mục đích là lợi nhuận nên vận hành theo lối mới (công ty sản xuất chương trình), hình thức thể hiện (game show âm nhạc), hình thức tổ chức biểu diễn mới (festival âm nhạc, chương trình lễ hội âm nhạc, đại nhạc hội…) ở nhiều môi trường/ quy mô khác nhau. Ví dụ: một số chương trình nổi bật có thể kể đến như Ca sĩ mặt nạ, Rap Việt, The Voice (Giọng hát Việt), Vietnam Idol (Thần tượng âm nhạc Việt Nam), Bài hát hay nhất (Sing My Song), Anh trai vượt ngàn chông gai, Chị đẹp đạp gió rẽ sóng. Nội dung chấp nhận theo khuynh hướng giải trí, dễ thu lợi nhuận, do vậy, có nhiều điểm chưa phù hợp với đạo đức, truyền thống văn hóa Việt Nam. Một số chương trình chưa phù hợp về giáo dục như: Giọng hát Việt nhí, Thần tượng Boléro, Hát cùng Boléro, Solo cùng Boléro, Tình Boléro…
Thị trường hóa nghệ thật âm nhạc từ hình thức trình diễn, được xem là “lần sáng tạo thứ hai của nghệ thuật trình diễn”, thị trường hóa sẽ bắt đầu chi phối tác phẩm âm nhạc bằng các hình thức trình diễn. Cùng một bài hát nhưng cách thể hiện, bản phối, lối trình diễn và chương trình mà bài hát xuất hiện đều được biến hóa sao cho hấp dẫn người thưởng thức. Đặc biệt là từ khi có thể loại nhạc remix, nhạc EDM, DJ…, vấn đề biến đổi tác phẩm gốc, tạo nên nhiều sản phẩm khác nhau từ một bản nhạc, dù cho có thể làm sai lệch ý tưởng sáng tác ban đầu, vẫn được chấp nhận.
Người thưởng thức đã bắt đầu có thói quen thưởng thức các chương trình nghệ thuật có chứa “hàm lượng” công nghệ cao hơn mức độ “xứng đáng và cần thiết” phải có! Các nhà sản xuất chương trình, người thực hiện chương trình nghệ thuật đang ở trong cuộc đua công nghệ và chương trình nghệ thuật dần trở thành “chương trình công nghệ”. Những phương tiện kỹ thuật công nghệ như hiệu ứng âm thanh, hiệu ứng ánh sáng, hiệu ứng hình ảnh trên phông nền, trong không gian khán phòng, hiệu ứng nước - khí - gió… được điều khiển bằng phần mềm công nghệ đã trở thành những phần không thể thiếu trong chương trình biểu diễn nghệ thuật. “Hàm lượng” nghệ thuật, văn hóa, kể cả tính chất thuần phong mĩ tục, truyền thống văn hóa... đều có thể bị đẩy xuống hàng thứ yếu bởi kỹ thuật - công nghệ đã có đủ khả năng thay thế. Công chúng ngày nay “xem nhạc” chứ không nghe nhạc, công nghệ “hát nhép”, “hiệu ứng hình ảnh”, “độ lan tỏa” là điều quan trọng để hình thành nên giá trị của tác phẩm âm nhạc.
Âm nhạc thị trường với sự hỗ trợ của công nghệ trong nền công nghiệp biểu diễn âm nhạc càng thách đố đối với nghệ thuật bởi mọi chương trình/ tác phẩm âm nhạc được đưa ra giới thiệu đều phải qua phòng thu. Từ phòng thu, đôi khi công nghệ tham gia biến hóa, “làm đẹp” nhiều giọng hát, có thể biến đổi một giọng hát tầm thường thành “khác thường” và “phi thường”! Người ta đã biết đến những “chương trình”, “phần mềm” có thể “biến” giọng hát dầy hơn, màu sắc hơn để ai “biết cầm micro đều có thể là ca sĩ”! Dù là MV (music video) hay các chương trình âm nhạc, các gameshow âm nhạc (Rap Việt, Hát cùng Bolero…) hay các chương trình lễ hội, festival âm nhạc… thì chất lượng của tác phẩm âm nhạc không thể chỉ tính khi nó là những nốt nhạc được viết trên bản giấy (lần sáng tạo thứ nhất) mà còn phải tính đến sự thể hiện, khi âm thanh được vang lên (lần sáng tạo thứ hai). Tuy nhiên, ở lần sáng tạo thứ hai này, với điều kiện công nghệ âm nhạc (technology of music) hay về vấn đề xử lý âm thanh (technic of sound) cho đến những tiến bộ của AI xây dựng tác phẩm âm nhạc… đều có thể biến âm nhạc trên bản giấy của nhạc sĩ sáng tác thành một sản phẩm khác hẳn. Những tác phẩm âm nhạc đang được vang lên có phần lớn hoặc thậm chí chỉ thuần túy là kỹ thuật, công nghệ (technology) mà không phải nghệ thuật (arts) và khác nhiều so với nội dung sáng tác của nhạc sĩ.
Môi trường và hình thức trình diễn được thương mại hóa, biến tác phẩm âm nhạc thành sản phẩm của thị trường. Thị trường hóa sản phẩm âm nhạc bởi quy luật cung - cầu đã được diễn ra/ kết nối bằng môi trường biểu diễn. Ngày nay, môi trường biểu diễn đã quá rộng lớn, nhanh chóng và không biên giới. Trên thực tế, đài phát thanh - truyền hình, các tổ chức biểu diễn, các trung tâm, nhà hát… đã trở thành quá chậm bởi không gian ảo, môi trường ảo nhanh hơn và đang chiếm ưu thế.
Không gian mạng là hình thái “môi trường ảo” thúc đẩy thay đổi một cách căn bản quá trình tiếp nhận, tương tác, chia sẻ thông tin của toàn xã hội, tác động đến quá trình học tập, hình thành thói quen, tư duy, cảm xúc, đạo đức, lối sống, quan điểm, tư tưởng của từng cá nhân, mà đặc biệt là giới trẻ. Từ đó, không chỉ những sản phẩm âm nhạc tốt còn có những sản phẩm âm nhạc chưa tốt, những sản phẩm âm nhạc dễ dãi, tầm thường, thậm chí là dung tục, phản cảm lại dễ hấp dẫn công chúng và tạo nên một loại công chúng có thị hiếu thẩm mĩ xô bồ, làm thoái hóa nghệ thuật âm nhạc, đánh mất cơ hội sáng tạo tiến bộ và làm mất đi không - thời gian truyền bá những tác phẩm tốt.
Về giá trị nghệ thuật (âm nhạc là một loại hình nghệ thuật), có thể bất chấp những tiêu chí của một tác phẩm nghệ thuật, chương trình nghệ thuật cũng không quan tâm các yêu cầu sáng tạo, chủ yếu là mua format của nước ngoài sao cho thu hút người xem và chủ yếu là để bán được (kể cả thu được lượng người theo dõi lớn nhất có thể)! Do vậy, tiêu chí “giải trí”, khai thác chức năng giải trí của âm nhạc đến mức tối đa, bỏ qua những chức năng khác (cảm xúc, giải trí, nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, cố kết cộng đồng, đóng góp xã hội…).
Thị trường hóa tác phẩm ca khúc thông qua những sáng tác, xu hướng sáng tác nổi lên gần đây là: giải trí. Do vậy, đề tài tình yêu là lựa chọn đầu tiên. Nhưng để hấp dẫn, các sáng tác sẽ không ca ngợi những tình yêu cao thượng, đẹp đẽ mà tìm kiếm những đau khổ, dối lừa… để tranh thủ sự đồng cảm và lấy cảm xúc của người nghe.
Tóm lại, từ mục đích thị trường, xu hướng sáng tác và sáng tạo nghệ thuật âm nhạc bị thị trường hóa từ nhiều điều kiện, bởi nhiều con đường khác nhau và hình thành nên âm nhạc thị trường. Tuy nhiên, âm nhạc thị trường trước nhất từ sáng tác nhưng thực sự bị biến dạng lại do biểu diễn.
2.3. Thị trường hoạt động nghệ thuật âm nhạc hiện nay
Thị trường âm nhạc hiện nay không chỉ có những ca khúc thị trường mà là một không gian rộng lớn với nhiều thể loại và hình thức kinh doanh nghệ thuật âm nhạc. Tuy nhiên, điểm qua thị trường âm nhạc, có lẽ mạnh mẽ và chiếm lĩnh hầu hết thị phần là các chương trình truyền hình thực tế âm nhạc (gameshow âm nhạc), các MV trên các nền tảng công nghệ và các lễ hội âm nhạc; mối quan tâm của người nghe nhạc hiện nay là âm nhạc thị trường. Điểm qua thị trường âm nhạc Việt Nam, nhận thấy:
- Âm nhạc chuyên nghiệp - giao hưởng, thính phòng: được đầu tư/ đào tạo/ có khối lượng người tham gia sáng tác, biểu diễn đông nhất nhưng phục vụ kém nhất và thị phần thấp nhất.
- Âm nhạc dân gian - dân ca: được đầu tư ít hơn/ đào tạo không nhiều như âm nhạc giao hưởng - thính phòng nhưng lại được khối lượng người tham gia đông hơn loại thứ nhất (ở trường học, các câu lạc bộ hát dân ca, người dân…).
- Âm nhạc phổ thông: tư nhân đầu tư, trong đó ca khúc thị trường và các thể loại ca khúc phổ thông khác (nhạc đỏ, nhạc vàng, nhạc xanh…) với các hình thức trình diễn phổ thông “chiếm sóng”, chiếm lĩnh không gian và thời gian của đời sống người dân nhiều hơn hết, bao gồm: karaoke, âm nhạc trên không gian mạng, nhạc quảng cáo, nhạc chuông, nhạc chờ, nhạc tại các trung tâm mua sắm, chợ, trường học, sân khấu quần chúng, câu lạc bộ, âm nhạc trong các hoạt động du lịch và cuối cùng là các chương trình gameshow trên truyền hình, các MV ca nhạc, các nội dung được giới thiệu rầm rộ trên không gian mạng, trên các hoạt động công cộng... Nếu tính bằng “con số” thực tế thu tiền bản quyền của Trung tâm Bản quyền tác giả (PCVMC) thì tiền trả cho tác giả âm nhạc nhiều nhất là loại nhạc này. Điều này đồng nghĩa đây là loại nhạc chiếm thị phần lớn nhất. Trong loại âm nhạc phổ thông, hình thức sản phẩm loại này là đa dạng nhất.
3. Những xung đột giữa tính thương mại và giá trị văn hoá đối với hoạt động nghệ thuật âm nhạc hiện nay
Nền âm nhạc Việt Nam trong nhiều thập niên đã đồng hành cùng dân tộc vượt qua hai cuộc kháng chiến, đạt được những thành tựu về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đạt được những giá trị về nghệ thuật. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, âm nhạc đang trở thành “sản phẩm” kinh tế và thị trường hóa nghệ thuật âm nhạc đang trở thành xu hướng tất yếu, đồng thời thể hiện nhiều bất cập, đặc biệt ở các phương diện: tư tưởng, giá trị văn hóa dân tộc và định chuẩn thẩm mĩ theo truyền thống văn hóa dân tộc…
3.1. Xung đột giữa tính thương mại và định chuẩn thẩm mĩ, các giá trị văn hóa
Âm nhạc thị trường thường có đặc điểm, tính chất đại chúng, nghiệp dư, “fast food” (ăn xổi), đặc biệt là sự tiếp thu văn hóa ngoại lại, chạy theo thị hiếu, thời thượng… Vấn đề trước hết của âm nhạc thị trường là nội dung và tất nhiên lời của các ca khúc thị trường Việt Nam thường đơn giản, phổ thông, ít tính văn chương; âm nhạc cũng giản đơn thì chất lượng nghệ thuật của giai điệu ít được quan tâm mà những yếu tố “phụ gia” như hòa âm, remix, DJ… mới là quan trọng. Công nghệ phát triển, hàm lượng công nghệ trong sản phẩm âm nhạc ngày càng tăng lên. Các chương trình nghệ thuật ngày càng chạy đua nhau về kỹ xảo, kỹ thuật âm thanh, ánh sáng, hình ảnh 3D… Thậm chí, gần như không có một chương trình ca nhạc biểu diễn trước công chúng được thể hiện “live”. Kỹ thuật “hát nhép” (lip nync) được sử dụng triệt để với lý do “bảo đảm chất lượng” âm thanh, bảo đảm chất lượng chuyên môn… Ca sĩ, nghệ sĩ có toàn quyền chải chuốt, sửa đổi phần biểu diễn của mình trong phòng thu sao cho “hoàn hảo” bằng các phần mềm công nghệ và khi ra sân khấu thì toàn quyền hát nhép. Các chương trình giảm bớt phần nghệ thuật, tăng cường phần công nghệ và hiện đang mang đến cho người xem không phải sự độc đáo nghệ thuật, cảm xúc của người nghệ sĩ mà là sự tinh xảo, tối tân, phát triển của công nghệ âm nhạc.
Kinh tế thị trường đặt ra vấn đề phải giải quyết là mối quan hệ giữa giá trị nghệ thuật và mục tiêu kinh tế: tính chuyên nghiệp, yêu cẩu thẩm mĩ cao, trong khi hiện nay, nghệ thuật biểu diễn (công nghiệp âm nhạc) có dấu hiệu của nhạc đại chúng, nghiệp dư, nhanh và công nghệ, như: các chương trình lễ hội âm nhạc, chương trình thực tế truyền hình về âm nhạc (gameshow âm nhạc). Vì vậy, cần giải quyết được mối quan hệ giữa mục tiêu nhân văn và mục tiêu kinh tế của nghệ thuật đối với âm nhạc đang bị thị trường hóa hiện nay: phải thực hiện được chức năng/ mục tiêu nhân văn của âm nhạc là tính giáo dục, thẩm mĩ.
Tóm lại, trong thị trường thường âm nhạc hiện nay, tác phẩm có thể có nhiều người theo dõi, doanh thu cao (từ tác phẩm hoặc từ quảng cáo) nhưng giá trị nội dung tư tưởng và tính nghệ thuật không phải là mối quan tâm hoặc ngược lại, những tác phẩm có giá trị tư tưởng, nghệ thuật cao lại không thu hút được sự quan tâm của công chúng hoặc không đạt được mục tiêu kinh tế.
3.2. Xung đột giữa tính thương mại và bảo tồn giá trị, bản sắc văn hóa dân tộc
Xu hướng khai thác văn hóa dân tộc đã phần nào giới thiệu, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc đến với công chúng nhưng đó chỉ là những chi tiết bên ngoài, đôi khi còn bị bóp méo, ví dụ: MV Hề của Phương Mỹ Chi.
Xung đột giữa tính thương mại và bảo tồn giá trị, bản sắc văn hóa dân tộc còn có trong mối quan hệ giữa bảo tồn bản sắc với sự tiếp biến văn hóa ngoại lai, ví dụ: chương trình lễ hội âm nhạc Anh trai say hi.
Tuy nhiên, với mục đích thương mại thì vấn đề bảo tồn giá trị, bản sắc văn hóa dân tộc bị đặt xuống hàng thứ yếu hoặc chỉ nhằm khai thác để phục vụ cho mục đích thương mại.
3.3. Xung đột giữa tính thương mại và nội dung tư tưởng, giáo dục
Mối quan hệ giữa nội dung tư tưởng với mục tiêu kinh tế: Âm nhạc thực hiện chức năng nhận thức, có nội dung tư tưởng, thường do nhà nước tổ chức (Ví dụ: Lễ hội Sông nước Thành phố Hồ Chí Minh), tốn kém và mục đích không thu lợi kinh tế mà tập trung giáo dục, tuyên truyền... Trong khi, những tác phẩm/ ca khúc có nội dung tư tưởng còn cứng nhắc nên khó phổ biến.
Loại “nhạc thị trường” thì không nhằm mục đích giáo dục tư tưởng; tuy nhiên, vẫn có những trường hợp đã chủ ý hướng vào đề tài dân tộc, quê hương, đất nước… nhưng những ca khúc thuộc thể loại này chưa nhiều. Để có những ca khúc “đi vào lòng người” theo đề tài yêu nước, có nội dung tiến bộ như trường hợp ca khúc Viết tiếp câu chuyện hòa bình, Làm theo di chúc thiêng liêng, đều do tác giả Nguyễn Văn Chung chủ ý và chuyển đổi khuynh hướng sáng tác. Những tác phẩm hướng đến nội dung này do chủ ý sáng tác của nhạc sĩ rất hiếm, đều chưa phải là phổ biến trong giới sáng tác nhạc thị trường hoặc các nhạc sĩ nổi lên từ nhạc thị trường.
Tóm lại, để giải quyết những xung đột như nêu trên, vấn đề cuối cùng vẫn là “con người”. Các nhạc sĩ, nhà sản xuất, nghệ sĩ… đều phải được tuyên truyền, giáo dục, thấm nhuần những tư tưởng nhân văn, hiểu biết giá trị và truyền thống văn hóa dân tộc để có thể sáng tạo những tác phẩm vừa có tư tưởng, nội dung tốt vừa có giá trị nghệ thuật cũng như đạt được những định chuẩn thẩm mĩ.
4. Lý luận, phê bình như một cơ chế giám sát, định chuẩn thẩm mĩ và bảo vệ bản sắc dân tộc
Ở phương diện chuyên ngành, có thể thấy hiện nay đội ngũ những tác giả chuyên viết lý luận, phê bình âm nhạc là không nhiều. Số tác giả có mong muốn và tập trung viết mảng lý luận, phê bình âm nhạc càng ít cũng như môi trường, điều kiện để thể hiện không nhiều. Do vậy, lý luận, phê bình chưa tạo nên tác động xã hội đối với âm nhạc thị trường, thị trường âm nhạc nói riêng và đời sống âm nhạc ở Việt Nam nói chung. Trên mạng xã hội có rất nhiều bài viết nhận xét, phân tích, phê bình âm nhạc nhưng phần nhiều chưa phải là phê bình đúng nghĩa: thiếu tính chuyên môn phê bình, chưa thể hiện được những nhận định chuyên môn về giá trị của nội dung, nghệ thuật, những đóng góp đối với đời sống âm nhạc… Do vậy, những vấn đề về bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc hầu như không được quan tâm hoặc không có đánh giá đúng đắn.
Một số vấn đề của lý luận, phê bình đối với âm nhạc thị trường và thị trường âm nhạc là:
4.1. Bản sắc dân tộc Việt Nam với những nội dung nhân văn, giáo dục đạo đức xã hội
Các chương trình diễn xướng được thể hiện theo lối của các “show” diễn nhạc nhẹ trên thế giới. Đang phổ biến ở Việt Nam hiện nay là những chương trình có khai thác chất liệu từ các thể loại âm nhạc truyền thống nhưng hầu như chưa nâng cao giá trị văn hóa, nội dung nhân văn hoặc giáo dục đạo đức xã hội. Chú trọng vào thị hiếu người thưởng thức, các yếu tố bản sắc văn hóa dân tộc trở thành “chất xúc tác” cho các tiết mục âm nhạc thị trường bởi sự gần gũi, xu hướng của công chúng, đặc biệt là giới trẻ, nên đã lượt giản, biến đổi những thế mạnh, những yếu tố đặc trưng như ngôn ngữ âm nhạc, biến thành những động tác, hình ảnh, vũ đạo, làm mất đi sự tinh tế trong văn phong của nghệ thuật.
Hiện nay, âm nhạc dân tộc, đặc biệt dân tộc thiểu số hoặc những thể loại âm nhạc truyền thống, được khai thác trong các trường hợp âm nhạc thị trường để dễ giới thiệu, dễ “nghe”, bắt đầu có dấu hiệu “bình quân luật hóa thang âm” theo âm nhạc phương Tây, nhịp điệu hóa để dễ biểu diễn, rock hóa để “quốc tế hóa”, pop hóa để phổ biến…
Những thể nghiệm sáng tạo, những biến đổi để phù hợp với thời đại là đương nhiên, là con đường tất yếu với mọi thời đại và mọi loại hình nghệ thuật (như sân khấu roadway, pop opera, rock opera… là những biến đổi đối với nghệ thuật opera). Tuy nhiên, cần hiểu được bản chất cốt lõi của nghệ thuật để dù có nhiều cách biến đổi cũng phải giữ được cái nội sinh: đặc trưng nghệ thuật và khai thác được các giá trị nghệ thuật của loại hình. Khuyến khích phát triển, sáng tạo thể nghiệm cái mới bên cạnh việc duy trì bảo vệ vốn cổ là điều các nước trên thế giới đang thực hiện. Những biến đổi có giá trị, phù hợp sẽ ở lại với đời sống; những biến đổi không phù hợp sẽ bị đào thải theo thời gian. Như vậy, bên cạnh những thể loại/ hình tức sáng tác truyền thống, xu hướng phát triển như hiện nay cũng cần được tiếp nhận. Tuy nhiên, nếu không thoát thai/ phái sinh thành một dạng thức mới thì dù sáng tạo, phát triển, bản chất của thể loại vẫn cần được gìn giữ và sự phù hợp với thể loại thì đó là một sự cách tân cần thiết.
Những kế thừa, tiếp thu văn hóa dân tộc đối với âm nhạc vẫn đang tập trung khai thác các phương tiện biểu hiện, ít quan tâm những giá trị về nội dung nhân văn, giáo dục đạo đức xã hội của văn hóa, âm nhạc truyền thống; chưa thật sự phát huy được những giá trị nhân văn của văn hóa, âm nhạc truyền thống trong xã hội hiện nay. Việc giải quyết bài toán giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế, làm thế nào để “hòa nhập mà không hòa tan” cũng là một vấn đề cấp thiết được đặt ra. Vấn đề tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại có chọn lọc để bồi bổ, làm giàu cho văn hóa dân tộc nhưng không tự nô dịch và tự biến thành lai căng cũng là một yêu cầu đối với nền âm nhạc nước nhà. Tuy nhiên, những yêu cầu này khó thực hiện nếu như không có một bản lĩnh văn hóa vững vàng, sự hiểu biết đầy đủ về văn hóa âm nhạc truyền thống, một năng lực sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ.
Tóm lại, yêu cầu bảo tồn được bản sắc dân tộc Việt Nam với những nội dung nhân văn, giáo dục đạo đức xã hội, có nội dung theo định hướng tư tưởng tiến bộ… hoàn toàn là những yêu cầu chính đáng, cần thiết, quan trọng trong xây dựng nền văn hóa âm nhạc và cũng là nền tảng để phát triển công nghiệp văn hóa bền vững. Tuy nhiên, để thực hiện những yêu cầu này, cần giải quyết những xung đột, nhưng vấn đề đặt ra cuối cùng vẫn là “con người”.
4.2. Giải pháp phát triển theo hướng công nghiệp văn hoá bền vững và giàu bản sắc
Để có được những tác phẩm nghệ thuật phát triển theo hướng công nghiệp văn hóa bền vững và giàu bản sắc, tức là vừa có nội dung tư tưởng cao đẹp, giữ được bản sắc dân tộc vừa có giá trị nghệ thuật, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng văn hóa của nhân dân, cần một số giải pháp như sau:
4.2.1. Vai trò của lý luận, phê bình đối với thị trường âm nhạc và âm nhạc thị trường
Tất cả các nước có truyền thống âm nhạc kinh viện phương Tây đều có chiến lược về điều này ở cấp vĩ mô và tổ chức hoạt động ở cấp vi mô. Họ đã tổ chức giáo dục, học tập cách cảm thụ, thưởng thức âm nhạc kinh viện cho giới trẻ bắt đầu từ trường học để có được lớp khán giả hiểu biết và đa dạng. Đây là hướng để chúng ta học tập.
Các nước hiện nay có các hiệp hội âm nhạc để đánh giá các sản phẩm âm nhạc được đưa ra thị trường (từ chương trình biểu diễn đến các MV, đĩa nhạc…) và ở đây, vai trò của các nhà phê bình, lý luận âm nhạc được tôn trọng, có môi trường làm việc và có những đóng góp cụ thể cho nền âm nhạc. Chúng ta đã có những giải thưởng của các hội chuyên ngành (Hội Nhạc sĩ Việt Nam và các Hội Âm nhạc, Hội Văn học nghệ thuật địa phương…), của ngành báo chí (giải Làn sóng xanh của Đài Phát thanh - Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, giải Mai vàng của Báo Người Lao động…). Tuy nhiên, những giải thưởng này vẫn chưa có được tiếng vang trong xã hội, chưa trở thành chuẩn đánh giá các hoạt động của đời sống âm nhạc cũng như thị trường âm nhạc. Các nhà lý luận, phê bình âm nhạc hầu như không được mời tham gia; thông thường, hội đồng sẽ gồm những người nổi tiếng, những nghệ sĩ biểu diễn, nhạc sĩ sáng tác...; nếu có sự tham gia của các nhà lý luận, phê bình thì sẽ có những đánh giá kịp thời dù tác phẩm chỉ mới trên bản giấy hoặc bản “demo” (bản dựng thử).
Trong các gameshow âm nhạc trên truyền hình thường xuất hiện một hội đồng “nghệ thuật” nhưng gần như không có nhà lý luận, phê bình tham gia trong những hội đồng này (trừ chương trình Ca khúc tự hào của Đài Truyền hình Việt Nam có mời các chuyên gia trong một số chương trình). Những hội đồng được thành lập ở các gameshow chủ yếu là để làm cho cuộc chơi thêm hào hứng bởi những câu pha trò, khôi hài…
Giải pháp tích cực cho hoạt động đánh giá, phê bình âm nhạc, hầu mong có sản phẩm âm nhạc tốt cho xã hội là các giải thưởng từ các hiệp hội. Hội chuyên ngành, cần có và nếu đã có, cần tham gia hoạt động đánh giá sản phẩm âm nhạc với những tiêu chí phù hợp, rõ ràng, đảm bảo đóng góp và phát huy, phát triển nền âm nhạc Việt Nam theo hướng công nghiệp văn hóa bền vững và giàu bản sắc. Cần quảng bá, tổ chức giới thiệu để các giải thưởng được sự tán đồng của xã hội và trở thành tổ chức uy tín thẩm định về nghệ thuật cho sản phẩm âm nhạc, dù là âm nhạc thị trường.
4.2.2. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển âm nhạc theo hướng công nghiệp văn hóa bền vững và giàu bản sắc
Cho đến nay, đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển âm nhạc vẫn chưa được tính toán đúng và đủ theo cơ chế thị trường. Việt Nam chưa có đào tạo nguồn nhân lực những chuyên ngành liên quan để tham gia lao động trong ngành công nghiệp văn hóa âm nhạc. Hơn nữa, phục vụ cho phát triển văn hóa âm nhạc theo hướng công nghiệp văn hóa vẫn gần như là câu chuyện của thể loại âm nhạc thị trường. Các thể loại âm nhạc chuyên nghiệp, kinh viện và kể cả âm nhạc dân tộc hầu như chưa thâm nhập thị trường âm nhạc, dù đã có lịch sử đào tạo gần 70 năm. Vấn đề nguồn nhân lực, kể cả nhân lực lý luận, phê bình, phục vụ cho nghệ thuật âm nhạc nói chung cũng như phát triển thị trường âm nhạc nói riêng hoặc tham gia đóng góp xây dựng công nghiệp văn hóa vẫn là một khoảng trống.
Do vậy, cần bắt đầu bằng nghiên cứu, tổng kết, hệ thống lý luận phục vụ cho xây dựng, phát triển nền âm nhạc theo hướng công nghiệp văn hóa bền vững và giàu bản sắc. Hệ thống hoá từ nội dung lý luận để đưa vào đào tạo. Những nội dung lý luận sẽ làm nền tảng cho đào tạo, mà theo đó, nhân lực đạt được những yêu cầu về tư tưởng, trình độ chuyên môn, khả năng nắm bắt được xu hướng và khả năng sáng tạo. Đối với nội dung đào tạo, ngoài chuyên môn âm nhạc còn cần còn có những yêu cầu hiểu biết về thị trường, về công nghiệp văn hóa cũng như công nghệ cho thị trường âm nhạc...
4.2.3. Vai trò của truyền thông và lý luận, phê bình đối với thị trường âm nhạc
Cho đến nay, truyền thông đang đóng vai trò hết sức quan trọng, là con đường nhanh nhất, phổ thông nhất đưa âm nhạc đến với công chúng. Truyền thông hiện nay đa dạng và rất nhanh, mạnh, tạo nên một thế giới không biên giới. Truyền thông còn là phương tiện hiệu quả mang tri thức, giáo dục, thẩm mĩ… đến cho mọi người. Do vậy, có thể xem truyền thông là con đường hiệu quả đưa âm nhạc lành mạnh đến với công chúng. Tuy nhiên, truyền thông cũng là con đường phát tán nhanh nhất, có thể tác động vào đời sống tinh thần của người dân nhanh và mạnh nhất so với các loại hình khác.
Đối với thị trường âm nhạc, truyền thông phải được quản lý chặt chẽ bằng hệ thống pháp luật, quy định nhà nước. Những quy định này cần dựa trên những quy chuẩn về đạo đức, thẩm mĩ của truyền thống văn hóa, vì sự tiến bộ xã hội và phát triển bền vững. Lý luận, phê bình cũng cần là người tư vấn tốt để có hệ thống pháp luật và quy định đạt hiệu quả. Đồng thời, lý luận, phê bình cần sử dụng hệ thống truyền thông như một kênh định hướng, điều chỉnh, có những phê bình đúng lúc, đúng chuẩn, giúp cho hoạt động của thị trường âm nhạc đạt kết quả như ý, như sứ mệnh của lý uận, phê bình đối với đời sống âm nhạc.
4.2.4. Vai trò của nhà quản lý và lý luận, phê bình
Kinh tế thị trường và cơ chế tự chủ đặt ra cho nghệ thuật âm nhạc phải giải quyết được những xung đột giữa nghệ thuật và kinh tế, giữa mục tiêu nhân văn và mục tiêu kinh tế của nghệ thuật. Làm sao để có được những tác phẩm nghệ thuật vừa có nội dung tư tưởng cao đẹp, giữ được bản sắc dân tộc vừa có giá trị nghệ thuật, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng văn hóa của nhân dân. Đó là bài toán có thể được giải khi bắt đầu từ quản lý nhà nước. Hệ thống kiểm duyệt, hệ thống phát hành, hệ thống quản lý ở các môi trường phổ biến sản phẩm cần thể hiện những đánh giá xác thực, chuyên nghiệp. Điều này phải được đánh giá từ những nhà chuyên môn. Cần bổ sung hệ thống thẩm định từ những nhà chuyên môn để có thể định hướng thẩm mĩ công chúng, điều chỉnh sản phẩm âm nhạc thị trường, tác động tốt đối với thị trường âm nhạc.
Hơn nữa, mối quan hệ giữa giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trong hội nhập quốc tế cũng cần có sự tham gia quản lý nhà nước; tránh những trường hợp nơi này cấm, nơi kia cho phép, làm mất tính hiệu quả quản lý nhà nước.
Xu hướng nghiệp dư hóa do tính chất dễ dãi về nội dung và yếu tố nghệ thuật bị đưa xuống hàng thứ yếu trong sản phẩm âm nhạc thị trường (ai cũng có thể là nhạc sĩ hoặc “biết cầm micro” thì có thể là ca sĩ) khiến thu hẹp phạm vi hoạt động của những sản phẩm tốt, có giá trị nghệ thuật, hạ thấp chất lượng nghệ thuật lẫn nội dung tư tưởng của sản phẩm nhạc thị trường, tạo nên thị hiếu dễ dãi trong công chúng. Quản lý thị trường âm nhạc là một công việc tinh tế, nên sử dụng nhiều biện pháp, trong đó, ngoài hệ thống pháp thuật, quy định nhà nước còn đòi hỏi những đóng góp của khối doanh nhân văn hóa, đơn vị phụ trách bản quyền và sự hiểu biết của công chúng… Tuyên truyền, giáo dục, quảng bá, ủng hộ, tạo điều kiện cho những ca khúc lành mạnh được phổ biến là những biện pháp có thể được sử dụng, trong đó có sự góp ý của lý luận, phê bình.
Ngày nay, công nghệ đang có những bước phát triển vượt bậc trong sáng tạo nghệ thuật, những trường hợp tác phẩm sáng tác bởi AI đã trở nên phổ biến (ví dụ: bộ phim Quỷ nhập tràng với phần âm nhạc hoàn toàn do AI thực hiện) và sử dụng công nghệ số trong dàn dựng chương trình như nêu trên đã đánh lừa cảm xúc và thưởng thức nghệ thuật của công chúng. Vì vậy, thái độ của lý luận, phê bình cần là nắm vững công nghệ để có thể sử dụng như một sông cụ trong đánh giá, thẩm định. Ngoài ra, công nghệ, chuyển đổi số để biến những sản phẩm nghệ thuật trình diễn, tác phẩm âm nhạc trở thành tài sản muôn đời là con đường tiến bộ, xu hướng hiện nay.
5. Kết luận
Lý luận, phê bình âm nhạc chưa thực sự tham gia vào đời sống âm nhạc. Mặc dù vai trò của lý luận, phê bình khá quan trọng, có thể tác động, góp phần xây dựng nền âm nhạc Việt Nam phát triển bền vững nhưng vì nhiều lý do, lý luận, phê bình vẫn còn chưa thể thực hiện sứ mệnh của mình, chưa thể phát huy trong đời sống âm nhạc hiện nay.
Những giải pháp để lý luận, phê bình âm nhạc tham gia vào đời sống, nếu được thực hiện, sẽ phần nào góp phần điều chỉnh đời sống âm nhạc cũng như tác động vào thị trường âm nhạc. Tuy vậy, vẫn cần có hàng rào pháp luật và các quy định quản lý nhà nước đối với môi trường sáng tác, biểu diễn và sáng tạo sản phẩm âm nhạc.
Cuối cùng vẫn là yếu tố “con người”. Nếu được giáo dục, định hướng, khuyến khích, cổ vũ…, những nhà sáng tạo âm nhạc, nhạc sĩ sáng tác, nghệ sĩ biểu diễn và kể cả người nghe cũng sẽ tạo nên một môi trường âm nhạc tốt, góp phần xây dựng đời sống tinh thần và nền kinh tế của đất nước.