Từ xưa đến nay, biển đảo luôn giữ vị trí trọng yếu trong quá trình hình thành và phát triển của đất nước ta. Từ thuở sơ khai, biển đã là môi trường sinh sống và cung cấp nguồn sống cho cư dân Việt cổ. Biển đảo không chỉ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội và hình thành bản sắc văn hóa dân tộc mà còn là yếu tố then chốt trong an ninh quốc phòng. Trong lịch sử, nhiều cuộc xâm lược của ngoại bang bắt đầu từ hướng biển và rất nhiều chiến thắng oanh liệt của cha ông ta trên biển. Chính vì vai trò quan trọng của biển đảo mà các triều đại phong kiến, đặc biệt là nhiều vị hoàng đế thời Trần và thời Lê, trong các tác phẩm thơ văn của mình đã dành sự quan tâm đặc biệt cho biển đảo.
Năm 1226, nhà Trần lên ngôi thay thế nhà Lý, do “gốc dân chài miệt biển (Nam Định - Thái Bình nay)” nên “có cái nhìn về biển rộng rãi, phóng khoáng hơn”1. Thời Trần, các vị vua đều quan tâm thúc đẩy phát triển kinh tế vùng biển và ven biển như: động viên mọi người khai khẩn vùng đất hoang ven biển, đào kênh, đắp đê lấn biển... Việc tăng cường bảo vệ biển đảo cũng được chú trọng bằng việc cử đội thủy quân lộ Đông Hải (Hải Đông) đi tuần tiễu vùng biên giới ven biển. Từ trước thời Trần, Vân Đồn đã có vị trí quan trọng trong việc ngoại thương: “Từ thời Lý và trước đó nữa – ngoài Vân Đồn, thuyền buôn nước ngoài còn đến cửa Hội Triều (Thanh Hóa), cửa Thơi, cửa Quèn, cửa Cờn (Càn Hải, Diễn Châu, Nghệ An), cửa Hội (Quỳnh Lưu, Nghệ An), cửa Nhật Lệ (Quảng Bình), cửa Tùng, cửa Việt (Quảng Trị)… nhưng về sau một số cửa biển bị cạn nên thương thuyền ngoại quốc phần nhiều tụ tập ở Vân Đồn”2. Đến thời Trần, Vân Đồn lại càng được quan tâm đặc biệt: “Năm 1349, nhà Trần đã nâng vị trí trang (trang trại = làng xã) Vân Đồn thời Lý lên thành một trấn (ngang cấp tỉnh, trực thuộc triều đình trung ương), đặt Trấn quan (võ tướng chỉ huy), Lộ quan (quan văn cai trị) và Sát hải sứ (quan kiểm soát mặt biển). Có một đội quân đóng giữ ở đấy, gọi là Bình hải quân”3. Triều đình cũng hạn chế việc cho các thuyền buôn nước ngoài tiếp cận lãnh thổ. Uông Đại Uyên trong Đảo Di chí lược ghi lại: “Thuyền buôn chỉ lên xuống ở vùng Đoạn Sơn (huyện Vân Đồn) chứ không được ghé vào đất liền, sợ người ngoài dò thấy hư thực của nước đó”4. Những việc làm này đã thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của vương triều Trần khi định hướng phát triển kinh tế gắn với đảm bảo quân sự vùng biển đảo quốc gia.
Trong thơ văn, các vị vua triều Trần cũng thể hiện rõ sự quan tâm đến biển đảo đất nước. Hạnh An Bang phủ của Trần Thánh Tông được coi là “bài thơ sớm nhất hiện còn viết về biển Việt Nam, mà lại là tác phẩm của một vị quốc chủ”5. Trần Thánh Tông là một vị vua yêu nước và anh hùng. Ông đã lãnh đạo nhân dân ta chiến đấu và chiến thắng trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên. Sách Đại Việt sử ký toàn thư nhận xét về ông như sau: “Vua là người trung hiếu nhân thứ, tôn người hiền, trọng kẻ sĩ; cha làm ra trước, con nối về sau, cơ nghiệp của nhà Trần được bền vững”6. Là người giữ trọng trách to lớn điều hành chính sự, lại trực tiếp cầm quân đánh giặc, nhưng vua Trần Thánh Tông vẫn có những khoảnh khắc thả hồn mình say đắm trước vẻ đẹp kỳ thú của biển đảo. Hạnh An Bang phủ (Tuần thú phủ An Bang) được coi là bài đầu tiên trong thơ Việt Nam trung đại viết về vịnh Hạ Long (Quảng Ninh): “Triêu du phù vân kiệu/ Mộ túc minh nguyệt loan/ Hốt nhiên đắc giai thú/ Vạn tượng sinh hào đoan” (Sáng chơi trên đỉnh núi mây nổi/ Tối về nghỉ ở vụng biển trăng sáng/ Bỗng nhiên được cái thú hay/ Muôn hình tượng tuôn ra đầu ngọn bút)7. Lúc này nhà vua đang trên đường đi tuần thú đến một đơn vị hành chính là phủ An Bang nhưng trong bài thơ chúng ta chỉ thấy hiện lên hình ảnh vị hoàng đế thảnh thơi dạo chơi và thưởng lãm cảnh đẹp của đất nước. Chính niềm tự hào về núi sông trên mảnh đất cha ông đã tạo thành nguồn cảm hứng giúp cho vị vua - thi sĩ có được những phút giây thư thái trên đỉnh núi đầy mây, nằm nghỉ trong vịnh biển tràn ngập ánh trăng sáng và có được những vần thơ hay.
Chinh Chiêm Thành hoàn chu bạc Phúc Thành cảng (Đánh Chiêm Thành về, đỗ thuyền ở cảng Phúc Thành) là bài thơ được vua Trần Anh Tông sáng tác năm 1312, khi ông tự mình cầm quân đi đánh Chiêm Thành. Trên đường trở về kinh đô, đỗ thuyền ở cửa biển Phúc Thành, nhà vua đã thể hiện niềm vui mừng, hào hứng trước vẻ bình dị mà nên thơ của cảnh vật và con người nơi đây: “Hiểu sương hoa trọng thấp vân bồng” (Sương sớm trĩu hoa, làm ướt đẫm mui thuyền), “Sơn gia vũ cước thanh tùng nguyệt” (Nhà trên núi dưới bóng mưa, vầng trăng trên ngọn thông xanh), “Ngư quốc triều đầu hồng liệu phong” (Làng chài ở đầu ngọn sóng triều, gió lướt bãi răm đỏ). Tình yêu với thiên nhiên, cảnh vật làng chài hòa lẫn với niềm tự hào về sức mạnh của đội quân: “Vạn đội tinh kỳ quang hải tạng/ Ngũ canh tiêu cổ lạc thiên cung” (Muôn đội cờ xí sáng rực mặt biển/ Năm canh tiếng kèn trống vui tựa thiên cung). Đến lúc này, sau biết bao gian khổ, vất vả của việc chinh chiến, nhà vua mới được nhẹ nhàng chìm vào giấc ngủ một cách thảnh thơi: “Thuyền song nhất chẩm giang hồ noãn/ Bất phục du chàng nhập mộng trung” (Bên cửa sổ thuyền, một gối ngủ ấm êm giữa chốn sông hồ/ Chẳng cuộn màn che, chìm vào giấc mộng).
Biển đảo cũng là chủ đề được vua Trần Minh Tông rất quan tâm. Ông có một số bài thơ đề cập đến biển đảo ở những mức độ khác nhau: Bạch Đằng giang (Sông Bạch Đằng), Việt giới (Vượt qua biên giới), Dưỡng Chân Bình Thôn Tử Nhân Huệ Vương trang (Trang ấp của Nhân Huệ Vương - Dưỡng Chân - Bình Thôn Tử), Vãn Quán Viên Huệ Nhẫn quốc sư (Viếng quốc sư Huệ Nhẫn chùa Quán Viên)… Những chiến thắng lẫy lừng như: Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, Lê Đại Hành đánh quân Tống, Hưng Đạo Vương chiến thắng quân Mông Nguyên… đã khiến cho Bạch Đằng trở thành địa danh nổi tiếng và là nguồn cảm hứng sáng tác cho nhiều nhà thơ, nhà văn từ xưa đến nay. Bạch Đằng – dòng sông lịch sử đã ghi dấu bao chiến công oanh liệt của các vị anh hùng hào kiệt – một lần nữa hiện lên thật hùng vĩ và dữ dội qua những câu thơ trong Bạch Đằng giang của vua Trần Minh Tông: “Vãn vân kiếm kích bích toàn ngoan/ Hải thẩn thôn triều quyển tuyết lan” (Núi biếc cao vút, tua tủa như gươm giáo kéo mây trời/ Hơi biển nuốt thủy triều cuốn ngọn sóng trắng như tuyết). Chính địa thế hiểm trở đã giúp cho quân ta chiến thắng trong các trận thủy chiến chống quân xâm lược Tống, Mông Nguyên. Bên cạnh đó, vua Trần Minh Tông còn cảm nhận được những hình ảnh và âm thanh rất gần gũi của hoa xuân trên mặt đất, của tiếng thông reo: “Xuyết địa hoa điền xuân vũ tễ/ Hám thiên tùng lại vãn sương hàn” (Hoa xuân điểm trang trên mặt đất, mưa xuân vừa tạnh/ Sáo thông lay vang trời, sương chiều lạnh lẽo). Lời thơ hào hùng có lúc bỗng chùng xuống bởi những suy tư về thời thế, về chiến trận: “Sơn hà kim cổ song khai nhãn/ Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan/ Giang thủy đình hàm tà nhật ảnh/ Thác nghi chiến huyết vị tằng can” (Mở mắt nhìn hai cuộc non sông: xưa với nay/ Dựa lan can, trận thắng bại: Việt cùng Hồ/ Nước sông chan chứa, nắng chiều nghiêng đỏ/ Còn ngỡ là máu trận xưa chưa từng khô).
Trong bài Việt giới (Vượt qua biên giới), vua Trần Minh Tông ghi lại: “Tư Minh tương tiếp giới” (Châu Tư Minh tiếp giáp biên giới nước ta), được nhà nghiên cứu Trần Trọng Dương chú giải: “Để đi sang châu Tư Minh thì nhà thơ phải đi theo tuyến đường thủy từ Lục Đầu Giang, qua cửa Bạch Đằng và Nghiêu Phong, men theo bờ biển của tỉnh Quảng Ninh nay, ngược lên phía Đông Bắc, qua Ngọc Sơn, Cửa Dương, Bạch Long Vĩ sang bên đất nhà Nguyên. Cho nên bài thơ mới tả cảnh biển là “trăng mọc khiến cho nhà giao long lạnh lẽo”. “Giao thất” tức là nhà của giao long (cá sấu), chỉ ngoài biển”8. Khi viết bài thơ Vãn Quán Viên Huệ Nhẫn quốc sư (Viếng quốc sư Huệ Nhẫn chùa Quán Viên), vua Trần Minh Tông khi thể hiện nỗi ngậm ngùi tiếc thương quốc sư có nhắc đến một cửa biển – cảng khẩu Đại Long: “Đại Long cảng khẩu thủy không lưu” (Cảng khẩu Đại Long nước luống những trôi hoài). Ở đây, tuy tác giả chỉ dùng địa danh này để gửi gắm nỗi tiếc thương một vị quốc sư nhưng qua đó chúng ta cũng biết thêm về một cửa biển khu vực Đông Bắc nước ta có từ thời Trần.
Năm 1282, vua Trần Nhân Tông cử Trần Khánh Dư làm Phó đô tướng quân, trấn giữ vùng biển phía Đông Bắc, đóng tại Vân Đồn. Ông đã cùng với dân ở đây xây dựng Vân Đồn thành một thương cảng và cũng là một căn cứ hải quân quan trọng. Khi đến thăm nơi ở của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, vua Trần Minh Tông tỏ rõ sự yêu thích đối với cuộc sống miền biển “viễn thị triều” (xa triều đình và thành thị) và viết bài Dưỡng Chân Bình Thôn Tử Nhân Huệ Vương trang (Trang ấp của Nhân Huệ Vương - Dưỡng Chân - Bình Thôn Tử). Đến thăm trang ấp của Nhân Huệ Vương, vua Minh Tông miêu tả rất cụ thể: “Trang gia kỷ thốc ỷ thiều nghiêu” (Mấy dãy nhà trong trang ấp dựa vào núi cao chót vót), “Khê thanh tịch tịch triều lai thiểu” (Tiếng suối chảy lặng lẽ, vì nước triều ít dâng lên), “Đường ảnh sơ sơ nguyệt thướng nhiêu” (Bóng cây cam đường thưa thớt nên ánh trăng tràn ngập), “Hải giác dư đồ quy chính hóa/ Thiên nhai nhân vật lạc ngư tiều” (Miền góc biển trên bản đồ đã theo giáo hóa của vua/ Nhân vật ở chân trời vui với việc câu cá hái củi).
Đến thời Lê, nhà nước thực hiện trọng nông ức thương, “dân chài cũng như các nhà xướng ca bị xem là không mảnh đất cắm dùi, xướng ca vô loài và không được xếp hạng”9. Thế nhưng vua Lê Thánh Tông với nhãn quan chính trị sáng suốt đã sớm nhận ra và chú trọng vai trò của biển đảo. Lịch sử ghi nhận có một con tàu Trung Quốc bị giữ lại ở An Bang (nay là Quảng Ninh) cho thấy sự kiểm soát của triều đình đối với các khu vực ven biển. Vua “lập 43 sở đồn điền và dân nghèo đã đắp đê biển ở Sơn Nam (Nam Định - Ninh Bình) (Đê Hồng Đức) ngăn nước mặn, khẩn hoang thêm vùng đất ven biển, phát triển thủy lợi và nông nghiệp ven biển Hà Nam Ninh”10. Qua đó cho thấy sự quan tâm đặc biệt của vua Lê Thánh Tông đối với biển đảo. Với gần 60 bài thơ (cả thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm) viết về biển, vua Lê Thánh Tông được coi là “tác gia văn học hướng biển lớn nhất trong lịch sử văn học Việt Nam”11.
Trên đường đi tuần Biển Đông hay đi chinh phạt, vua Lê Thánh Tông đã ghi lại hành trình của mình dọc theo chiều dài vùng biển đất nước. Lần lượt những chuyến đi công cán của vua hiện ra thật rõ ràng, cụ thể qua tên các địa danh, các con sông, các cửa biển trải dài từ Bắc vào Nam như: sông Cấm, cửa biển Húc, cửa biển Bạch Đằng, cửa biển Lư, Đồng Cảng, An Bang, Đông Triều, An Lão, Vân Đồn, Cửa Lục, cảng Phúc Thành, cửa biển Thần Phù, cửa biển Giáp, cảng Trầm Hào, cửa biển Điển Du, cửa Du, Xước cảng, cửa Cờn, cửa biển Thai Viên, cảng Kính Ma, cảng Thiết Sơn, cảng Hoa Cái, cửa biển Đan Thai, cửa biển Nam Giới, cửa biển Hà Hoa, cửa biển Kỳ La, cửa biển Đan Nhai, cửa biển Xích Lỗ, cửa biển Di Luân, cửa biển Bố Chính, cửa biển Nhật Lệ, cửa biển Tư Dung, cửa biển Hải Vân… Theo chặng đường mà vua Lê Thánh Tông ghi lại trong thơ mình, chúng ta có thể hình dung được về cảnh vật, con người vùng biển từ miền Bắc tới miền Trung nước ta thời đó.
Biển đảo là nơi có cảnh thiên nhiên tươi đẹp, nên thơ, hùng vĩ, địa thế hiểm trở, thuận lợi cho việc đánh giặc giữ nước. Vùng đất An Bang, An Lão, Vân Đồn với những vịnh biển, núi, đảo, cửa biển… được nhắc đến khá nhiều trong thơ Lê Thánh Tông. Năm 1468, vua trực tiếp chỉ huy cuộc duyệt binh trên sông Bạch Đằng. Đi tuần thú An Bang, khi đóng quân dưới núi Truyền Đăng, vua tức cảnh sinh tình làm một bài thơ đề lên vách núi Ngự chế Thiên Nam Động Chủ đề (Bài thơ đề vách núi của Thiên Nam Động Chủ). Bài thơ vẽ nên vẻ đẹp vừa thơ mộng vừa tráng lệ của biển, núi: “Cự tẩm uông dương triều bách xuyên/ Loạn sơn kỳ bố bích liên thiên” (Biển cả mênh mông, trăm sông đổ vào/ Núi non la liệt như bàn cờ, màu xanh liền trời), với đội quân “Thần bắc khu cơ sâm hổ lữ” (Đội quân hùng mạnh quây quần bên đức vua). Chúng ta có thể cảm nhận được niềm vui mừng của nhà vua khi được tạm dẹp việc võ, sửa sang việc văn bởi chiến tranh đã dứt: “Thiên Nam vạn cổ sơn hà tại” (Trời Nam muôn thuở núi sông mãi mãi vững bền). An Bang là nơi “Tứ cố sơn đa thủy diệc đa/ Tích thổ bằng hoàn thanh ngập nghiệp/ Trùng nhai Nam ủng bích sa nga” (Bốn mặt toàn là núi non sông nước/ Đất cao vòng lên hướng Bắc, màu xanh ngăn ngắt/ Bờ dựng ôm lấy phía Nam, sắc biếc trập trùng) (An Bang trị sở – Trị sở của An Bang). Vịnh biển với nhiều ngọn núi nằm rải rác, sóng xô vào vách núi tung bọt trắng xóa: “Hải thượng vạn phong quần ngọc lập/ Tinh la kỳ bố thúy tranh vanh” (Muôn núi dựng trên biển như ngọc/ Sao bày cờ bủa, chênh vênh một màu xanh biếc) (An Bang phong thổ – Phong thổ đất An Bang). Nhà vua say sưa ngắm nhìn “Hải sơn ly dị cùng du mục/ Chỉ kiến hùng hùng cắng bích thiên” (Núi biển chạy dài bao la, mắt nhìn khôn dứt/ Chỉ thấy cảnh hùng vĩ kéo liền trời xanh). Vân Đồn hiện lên thật đẹp với những hình ảnh, màu sắc: “Cảng khẩu thê mê nhật chính huân/ Khinh chu tình phiếm vạn sơn vân” (Cửa cảng mát rượi nắng chiếu rực rỡ/ Thuyền nhẹ lướt trong nắng muôn mây núi) và thật sinh động với “Tiếng trai gái cười nói xa xa bên bờ biển” (Hải biên nữ sĩ dao ngôn tiếu) (Vân Đồn cảng khẩu – Cửa cảng Vân Đồn). Những núi nhỏ trong vịnh như Chiếc Đũa, Thầy Tiêu, Hòn Cóc… cũng được vua Lê Thánh Tông miêu tả trong thơ Nôm (Chiếc Đũa sơn, Vịnh Thầy Tiêu thi, Ngự chế Hòn Cóc thi…). Cảnh vật vùng biển trong sáng, kỳ vĩ và cũng thật thi vị trong con mắt của một vị vua gánh trọng trách của cả đất nước mà tâm thế vẫn luôn ung dung tự tại.
Trên đường đi đánh Chiêm Thành, Lê Thánh Tông đã ghi lại cảnh vật vừa đẹp vừa dữ dội của cửa biển Thần Phù: “Xuyên vân nhiếp kính nhất điều hu” (Con đường núi vòng vèo chui vào trong mây), “Thiên tương chỉ trụ chướng hoành lưu” (Trời dựng cột đá chắn giữa dòng nước) (Thần Phù hải môn lữ thứ – Nghỉ lại ở cửa biển Thần Phù). Cửa biển vùng Quỳnh Lưu, Nghệ An (cửa Cờn) cũng hiện lên thật sống động: “Nhất thủy bạch toàn thiên tạm hiểm/ Quần sơn thúy tụ thạch bình nguy” (Dòng nước dồn về trắng xóa, tựa hào trời thật hiểm yếu/ Dãy núi tụ màu xanh biếc, như bình phong đá rêu ngất cao) (Càn hải môn lữ thứ – Nghỉ lại ở Cửa Cờn). Có những lúc biển thật hiền hòa, hữu tình: “Nhật lạc hàn triều khu hải tẩu/ Cao đê Phù Thạch xuất ba tâm/ Vân y nhứ mạo sơn đầu quải/ Hà tạ hồng tiêu thủy để trầm” (Mặt trời lặn, nước triều lạnh xô chạy ra biển/ Nhấp nhô Phù Thạch (đá nổi) trong lòng sóng/ Áng mây như chiếc mũ bông treo trên đầu núi/ Ráng chiều tựa tấm lụa nõn hồng in đáy nước) (Quá Phù Thạch độ – Qua bến Phù Thạch). Biển trong đêm trăng rằm càng thêm lãng mạn. Đức vua nhìn biển, trăng và núi, cảm hứng trào dâng: “Tam canh phong lộ hải thiên liêu/ Nhất phiến hàn quang thướng bích tiêu” (Trời biển mênh mông, canh ba sương gió/ Một mảnh trăng lạnh lẽo treo giữa bầu trời xanh) (Tam canh thi – Trăng canh ba). Trong bài Đan Nhai hải môn lữ thứ (Nghỉ lại ở cửa biển Đan Nhai), tác giả đã vẽ nên hình ảnh thật bình yên của biển: “Thanh Long triều thướng thủy liên thiên” (Bãi Thanh Long khi triều lên, nước liền trời), “dương hải minh nhiên” (biển lớn êm ả), “chử âu miên” (đàn chim âu ngủ ngon)… Trong cảnh thanh bình ấy, Song Ngư – hai hòn đảo ngoài Cửa Hội – nhấp nhô như những đỉnh núi: “Đoạn tục Song Ngư tử thúy điên” (Đảo Song Ngư đứt nối đỉnh núi biếc xanh).
Biển được miêu tả trong thơ của vua Lê Thánh Tông với rất nhiều sắc thái: có lúc cuồn cuộn, dâng trào mạnh mẽ: “Nam Giới triều đầu tuyết loạn phiên” (Cửa Nam Giới sóng cồn đầu trắng tơi bời như tuyết loạn), “Hàm triều húng húng nộ đào bôn” (Ngọn triều mặn giận dữ tung sóng xô cuồn cuộn), “Bài nham húng húng lãng tùy triều” (Đỉnh non nhấp nhô, sóng vỗ ầm ầm), “Kê thiên phách lãng bích trùng trùng” (Sóng vỗ ngất trời cuồn cuộn biếc tầng tầng); có lúc êm đềm, hiền hòa: “Tam canh dạ tĩnh Đồng Long nguyệt/ Ngũ cổ phong thanh Lộ Hạc thuyền” (Ba canh đêm tĩnh, trăng trên vịnh Đồng Long/ Năm canh gió mát, thuyền Lộ Hạc dập dềnh). Trước đây, Nguyễn Trãi khi đi thuyền qua cửa biển Bạch Đằng đã tự hào về sự hiểm trở của núi sông: “Quan hà bách nhị do thiên thiết” (Thế núi sông hiểm trở, hai người có thể thắng được trăm quân địch là do trời xếp đặt). Trên hành trình từ vùng biển phía Bắc đi về phương Nam, qua rất nhiều cửa biển, vua Lê Thánh Tông lại một lần nữa khẳng định “Nhị bách quan hà thứ yếu xung” (Cửa biển là vùng biển hiểm yếu, hai người đấu được trăm địch). Qua đó, ta thấy được quan niệm của đức vua về tầm quan trọng của biển đảo trong việc xây dựng và bảo vệ giang sơn xã tắc.
Cuộc sống của người dân vùng biển đảo cũng được tái hiện bình dị, sinh động và chân thực. Qua những vần thơ của vua Lê Thánh Tông, người đọc cảm nhận được cuộc sống dẫu còn khó khăn nhưng rất yên ổn của dân cư vùng ven biển. An Bang là nơi “Ngư diêm như thổ, dân xu lợi/ Hòa đạo vô điền phú bạc chinh/ Biên manh cửu lạc thừa bình hóa/ Tứ thập dư niên bất thức binh” (Cá muối nhiều như đất, nhân dân kiếm sống/ Ruộng không cấy lúa cho nên thuế má nhẹ/ Nhân dân ở biên giới, từ lâu vui hưởng thái bình/ Hơn bốn mươi năm không hề biết sự binh đao). Bên cạnh đó, nhà vua cũng thể hiện niềm thương cảm dành cho người dân. Khi “Đi tuần phía Đông, dừng lại ở Đồng Cảng” (Đông tuần trú Đồng Cảng), ông ngậm ngùi: “Hải tân ngư tự thổ/ Thị thượng mễ như câm” (Vùng biển cá rẻ như đất/ Gạo chợ đắt bằng vàng). Khu vực ven biển thời đó vẫn còn vắng vẻ: “Lãnh lộ tiêu điều đáo hải môn/ Nhân gia lao lạc bất thành thôn” (Đường núi tiêu điều dẫn tới cửa biển/ Nhà cửa thưa thớt chẳng thành xóm thôn) (Truyền Đăng sơn trú chu – Đậu thuyền ở chân núi Truyền Đăng). Đức vua có chút day dứt “Uy vương vị tất cự phanh a” (Oai vua chưa phải một chốc đã vỗ yên được góc núi sông này) khi chứng kiến vùng “hải thiên nha” (nơi góc biển chân trời) An Bang “Địa hữu phì nhiêu, dân chúng quả” (Đất đai phì nhiêu, dân chúng thưa thớt) (An Bang trị sở – Trị sở của An Bang). Trên đường chinh phạt Chiêm Thành, tuy hành trình vất vả, gian nan nhưng nhà vua vẫn kịp thu vào tầm mắt những khoảnh khắc cuộc sống bình dị vùng biển. Đó là hình ảnh “Bà bà sái ngạn ngư thôn võng/ Viễn viễn xung phong cổ khách thuyền” (Rải rác trên bờ là lưới phơi của xóm chài/ Xa xa đón gió là thuyền bè của thương khách) (Du hải môn lữ thứ – Nghỉ lại ở Cửa Du), là âm thanh quen thuộc của làng quê: “Cô thôn nguyệt lạc nhất văn kê” (Thôn vắng trăng lặn, chợt nghe tiếng gà gáy) (Trú Hoàng Sơn dịch – Đóng quân ở trạm Hoàng Sơn). Qua cửa biển Kỳ La, khi bắt gặp vùng đất ven biển rộng mênh mông “Tiếp dã truy dư thiên lý khoảnh” (Bát ngát liền bờ ruộng muôn ngàn khoảnh) lại ít người sinh sống “Chẩm giang ly lạc lưỡng tam gia” (Lác đác kề sông dăm ba nóc nhà), nhà vua đã nghĩ ngay đến việc di dân khoảng mấy vạn hộ tới đây. Cuộc sống của người dân vùng biển hiện lên trong thơ vua Lê Thánh Tông với những chi tiết rất đời thường: “thương bạc long cao hỏa” (thuyền buôn đốt đèn bằng cao xương rồng), “nhân ly độc tị côn” (dân phơi quần mũi trâu trên rào), “Viên hoàn thủy thị ngư hà tứ” (Chợ vùng biển họp trên bãi đầy hàng tôm cá), “Tề diêm trường phố yêu thương khách” (Ruộng muối mời thương khách tới), “Tịnh hà thôn lạc mao vi ốc” (Thôn xóm ven sông nhà cửa lợp gianh)…
Cảm hứng lịch sử, niềm tự hào về chiến thắng chống giặc ngoại xâm của cha ông và những suy ngẫm về lẽ hưng vong của các triều đại cũng là một nội dung trong những bài thơ viết về biển đảo của Lê Thánh Tông. Khi “Đi qua cửa biển Húc” (Du Húc hải môn), vua thấy “đắc ý” với sóng biển muôn hình vạn trạng giúp bao phen rửa hận cho nước nhà. Khi “Đi tuần phía Đông, sáng sớm rời sông Cấm” (Đông tuần hiểu phát Cấm giang), vua ghi lại niềm tự hào về giang sơn bờ cõi rộng lớn và về sức mạnh của quân đội “Lục sư hỉ sắc hiệp hồ điêu” (Nhuệ khí ba quân át bọn cầy cáo).
Bạch Đằng cũng là địa danh được vua Lê Thánh Tông quan tâm. Một số bài thơ như Quá Bạch Đằng giang (Qua sông Bạch Đằng), Xuất Bạch Đằng hải môn tuần An Bang (Ra cửa Bạch Đằng, đi tuần An Bang), Bạch Đằng giang (thơ Nôm) thể hiện rõ lòng tự hào về những chiến công của cha ông trên dòng sông lịch sử này: “Miến hoài Hưng Đạo cần vương tích” (Nhớ mãi công cần vương của Hưng Đạo xưa), để rồi nhà vua lại bồi hồi nghĩ về “Kim cổ hưng vong mộng nhất tràng” (Sự hưng vong xưa nay chẳng qua một giấc mơ). Bao trùm lên tất cả là sự tin tưởng vào tương lai vững bền của dân tộc: “Nhất thời y cựu Việt sơn xuyên” (Một thời non sông nước Việt vẫn như xưa). Từ sông Thiên Phái vào cảng Phúc Thành, đức vua lại bâng khuâng khi đi qua nơi thời xưa tướng giặc Ô Mã Nhi bị bại trận, nơi vua Chăm là Chế Bồng Nga bị giết chết.
Qua những bài thơ viết về biển đảo, chúng ta còn thấy được sức mạnh quân sự của nước Đại Việt thời Lê. Hoàng đế Lê Thánh Tông được các nhà sử học đánh giá là một trong những vị vua kiệt xuất nhất trong lịch sử Việt Nam. Chính ông là người đã đưa Đại Việt bước vào giai đoạn mở rộng và phát triển rực rỡ. Trong 37 năm trị vì của ông, Đại Việt đã đạt được nhiều thành tựu vượt bậc về cả lĩnh vực quân sự cũng như quan hệ bang giao với các nước, góp phần vào việc mở rộng lãnh thổ và ảnh hưởng về phía Nam. Tháng 8 năm 1470, vua Chiêm Thành là Trà Toàn đã trực tiếp gây hấn, cho quân tấn công vào châu Hóa của Đại Việt, buộc nhà vua phải trực tiếp cầm quân chiến đấu. Đây là hành động cần thiết để phòng thủ chính đáng, chống lại một nước láng giềng thù địch, bất ổn và thiếu tôn trọng. Đức vua đã nhiều lần lên án tội ác của Trà Toàn và việc đánh dẹp Trà Toàn là đánh kẻ có tội để cứu dân lành – việc nên làm của quân đội đế vương: “Trà Toàn thất đức nhân tâm khứ/ Thượng lục hiêu hiêu bất phú minh” (Trà Toàn thất đức, lòng người lìa bỏ/ Tội ác đầy rẫy bị trừng trị chẳng oan) (Trú Điển Du hải khẩu – Đóng quân ở cửa biển Điển Du). Ngày 16 tháng 11 Hồng Đức thứ 1 (tháng 12 năm 1470), trong bài Khải hành thi kỳ nhất (Thơ lên đường bài thứ nhất), khi lên đường chinh phạt Chiêm Thành, vua Lê Thánh Tông đã tuyên bố lý do của cuộc chinh phạt này: “Trừ tàn khử bạo đế vương nhân/ Cảm tác cùng binh thục vũ quân” (Diệt trừ lũ bạo tàn là đạo nhân của bậc đế vương/ Đâu dám làm vị vua việc binh ham mê không chán). Quân ta có tướng tài, có sức mạnh, có chính nghĩa: “Tinh bái nhất thiên hà bão nhật/ Trục lô thiên lý hiểu đồn vân” (Một trời cờ xí, ráng đỏ ôm quanh mặt trời/ Chiến thuyền ngàn dặm, mây đùn buổi sớm). Theo nguyên chú thì ngày đội quân lên đường, trời mưa; nhưng lúc xuất phát, trời lại hửng nắng, đây chính là điềm báo quân ta được trời đất phù trợ và chiến thắng là điều tất yếu như niềm tin của nhà vua: “Trữ kiến hải Nam kình ngạc đoạn/ Mộ Nô sơn lặc cáo thành văn” (Chắc chắn lũ kình ngạc nơi biển Nam sẽ bị chặt đứt/ Bài văn báo cáo chiến công sẽ được khắc ở vách núi Mộ Nô). Đến bài thứ hai (Khải hành thi kỳ nhị – Thơ lên đường bài thứ hai) và bài thứ ba (Khải hành thi kỳ tam – Thơ lên đường bài thứ ba), sức mạnh của quân đội càng được khắc họa rõ nét: “Bách vạn sư đồ viễn khải hành” (Trăm vạn hùng binh lên đường đi đánh dẹp nơi xa), “Lôi pháo oanh oanh động địa thanh” (Pháo nổ ầm ầm chuyển rung mặt đất), “Ngọc trướng vận trù đàm thắng thủ/ Hổ thần thiết xỉ lập công danh” (Trại tướng trù tính các thế thắng, thế thủ/ Hổ tướng nghiến răng thề lập công danh)… Đức vua không quản gian nguy, thân chinh đi đánh dẹp tận nơi xa xôi cách trở ngàn dặm, lại hợp lẽ trời, thuận lòng dân, được trời đất và thần nhân phù trợ, quân đội mạnh cả đánh thủy lẫn đánh bộ nên lũ giặc sẽ bị tiêu diệt là điều tất yếu: “Khiết Du cao trúc kình nghê quán” (Đám giặc Khiết Du xác đắp cao như mả kình nghê) và sẽ sớm đến ngày “Sài Vọng sơn xuyên cáo vũ thành” (Bấy giờ sẽ làm lễ tế Sài Vọng cáo với sông núi về chiến thắng).
Nhà nghiên cứu Trần Trọng Dương đã nhận xét: “Cùng với núi và đồng bằng, những diễn ngôn hướng biển với những tri nhận hoặc mĩ cảm về biển có thể coi là những xu hướng không thể không xem xét đến khi nghiên cứu về lịch sử văn học nói riêng và lịch sử văn hóa Việt Nam nói chung”12. Việc tìm hiểu những tác phẩm văn học viết về biển đảo, đặc biệt là của các vị hoàng đế, có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vị trí, vai trò của biển đảo và thêm tự hào về lịch sử, về non sông đất nước. Từ đó càng có ý thức trân trọng, quyết tâm tiếp nối truyền thống cha ông bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Chú thích:
1, 2, 3, 4, 9, 10 Viện Đông Nam Á (1996), Biển với người Việt cổ, NXB. Văn hóa - Thông tin, tr. 23, 23, 24, 25, 25, 25-26.
5, 11, 12 Trần Trọng Dương (2016): “Văn học biển đảo Việt Nam: nhìn từ lý thuyết diễn ngôn”, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, tập 11, số 12, tr. 61, 62, 59-60.
6 Đại Việt sử ký toàn thư (2013), NXB. Thời đại, tr. 287.
7 Các dẫn chứng trong bài theo: Trần Trọng Dương (2021), Hải quốc từ chương – Tùng thư văn học biển đảo Việt Nam, NXB. Khoa học xã hội.
8 Trần Trọng Dương (2021), Hải quốc từ chương – Tùng thư văn học biển đảo Việt Nam, Sđd, tr. 75.