VĂN HÓA VIỆT NAM TIẾP TỤC SOI ĐƯỜNG, TẠO NỀN TẢNG, NGUỒN LỰC NỘI SINH, ĐỘNG LỰC TO LỚN, HỆ ĐIỀU TIẾT QUAN TRỌNG ĐỂ ĐƯA ĐẤT NƯỚC BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN MỚI

Trên cơ sở hệ thống hóa tiến trình hình thành và phát triển đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ cột mốc Đề cương về Văn hóa Việt Nam năm 1943 đến bước ngoặt lịch sử là Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7.1.2026, bài viết khẳng định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là nguồn lực nội sinh, hệ điều tiết quan trọng cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

   Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7.1.2026 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về phát triển văn hóa Việt Nam được ban hành trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Nghị quyết số 80-NQ/TW là sự kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng ta về văn hóa, từ Đề cương về Văn hóa Việt Nam năm 1943, phát triển và từng bước hoàn thiện trong tiến trình kháng chiến, kiến quốc từ năm 1945 đến năm 1975, đặc biệt là qua 40 năm Đổi mới đất nước (1986-2026).

   1. “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”

   Đầu năm 1930, theo đề nghị của Quốc tế Cộng sản và với tư cách là phái viên của tổ chức này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đứng ra triệu tập, chủ trì Hội nghị thống nhất ba tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắtÐiều lệ vắn tắt của Ðảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Chánh cương vắn tắt xác định chủ trương “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Chánh cương vắn tắt chỉ rõ những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam. Về phương diện xã hội, “là dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục theo công nông hoá”1.

   Sau ngày thành lập Đảng, trong hoàn cảnh phải hoạt động bí mật với muôn vàn gian khổ, hi sinh, 13 năm sau - năm 1943, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng, vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Marx, của Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã soạn thảo Đề cương về Văn hoá Việt Nam (còn gọi Đề cương Văn hóa 1943). Lần đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam nêu cương lĩnh văn hóa, nội dung, tính chất, tổ chức, định hướng phát triển của một cuộc cách mạng văn hóa chỉ có thể gắn với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và tương lai của nền văn hóa ấy sau khi cách mạng đã thành công. Đề cương về Văn hóa Việt Nam (1943) xác định xây dựng nền văn hóa Việt Nam (bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật), “… sẽ do cách mạng dân chủ giải phóng thắng lợi mà được cởi mở xiềng xích và sẽ đuổi kịp văn hóa tân dân chủ thế giới”2; khẳng định ba nguyên tắc: “Dân tộc hóa”, “Đại chúng hóa”, “Khoa học hóa”. Sự nghiệp văn hoá là của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; khẳng định rõ tính chất nền văn hoá mới Việt Nam: dân tộc về hình thức, tân dân chủ về nội dung.

   Cũng trong khoảng thời gian ấy, cuốn sổ ghi chép những bài thơ sau này được tập hợp thành Nhật ký trong tù (1942-1943) của Hồ Chí Minh, ở trang cuối, Người viết về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”3.

   Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (ngày 3.9.1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong đó có 2 nhiệm vụ cấp bách thuộc về văn hoá: Một là, cùng với diệt giặc đói phải diệt giặc dốt. Hai là, phải giáo dục tinh thần cho nhân dân. Đây là hai nhiệm vụ có vẻ giản dị nhưng lại hết sức vĩ đại ở tầm nhìn, tầm nắm bắt yêu cầu của cách mạng, lấy dân làm gốc4.

   Đường lối văn hoá kháng chiến dần hình thành trong Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” ra ngày 25.11.1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng; thể hiện rõ trong bức thư về “Nhiệm vụ văn hoá Việt Nam trong công cuộc cứu nước và xây dựng nước hiện nay” của đồng chí Trường Chinh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 16.11.1946. Trong bộn bề công việc của Nhà nước mới chống lại giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất khai mạc ngày 24.11.1946 tại Nhà hát Lớn Thành phố Hà Nội. Trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nền văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”. Từ cách đặt vấn đề “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ”, Hồ Chí Minh đi đến khẳng định: “Văn hóa liên lạc mật thiết với chính trị. Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ. Văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do… Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ”5.

   Trong những năm tháng đầy hi sinh, gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo tổ chức Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ hai, họp từ ngày 16 đến 20.7.1948 tại Việt Bắc. Trong thư gửi các đại biểu tham dự Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc vĩ đại của dân tộc ta, Văn hoá gánh một phần rất quan trọng. Từ ngày chính quyền dân chủ thành lập đến nay, các nhà văn hoá ta đã cố gắng và đã có thành tích. Song từ nay trở đi chúng ta cần phải xây dựng một nền văn hoá kháng chiến kiến quốc của toàn dân”6.

   Ngày 18.7.1948, thay mặt Đảng ta, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày báo cáo quan trọng tại Hội nghị với tên gọi “Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam”. Báo cáo hệ thống hóa, cụ thể hoá và phát triển các quan điểm, nguyên tắc, phương châm của Đề cương Văn hoá 1943 của Đảng, có giá trị như là Cương lĩnh văn hoá của Đảng thời kỳ kháng chiến, kiến quốc.

   Từ năm 1950 trở đi, mô hình xây dựng văn hóa kháng chiến có sự điều chỉnh, hình thức “hội nghị văn hóa toàn quốc” không còn được sử dụng. Nhân Triển lãm hội họa (năm 1951), trong thư gửi các họa sĩ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”7. Người nhấn mạnh vai trò xung kích của văn hóa, văn nghệ trong sứ mệnh giải phóng dân tộc. Văn hóa cùng với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự... phải tạo thành những mặt trận có sức mạnh to lớn trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. “Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”; chính trị, kinh tế, văn hóa đều “phải coi là quan trọng ngang nhau”8.

   Văn kiện Đại hội III của Đảng (9.1960) xác định đường lối xây dựng nền văn hoá có “nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc”. Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng xác định “văn hoá, tư tưởng là một cuộc cách mạng”, tiến hành đồng thời gắn bó chặt chẽ với cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học kỹ thuật. Đường lối tiến hành cuộc cách mạng văn hoá, tư tưởng, xây dựng nền văn hoá xã hội chủ nghĩa mang đặc trưng dân tộc, khoa học, đại chúng tiếp tục được phát triển, bổ sung trong những năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

   2. Xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, có tính dân tộc, tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc

   Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12.1976) xác định “xây dựng con người mới, xây dựng nền văn hoá mới”, tiến hành đấu tranh chống tư tưởng và sản phẩm văn hoá phản động, độc hại. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (3.1982) chỉ rõ “nền văn hoá mới mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc, có tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc, thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản”. Đại hội V cũng trình bày rất đầy đủ nội hàm khái niệm “Con người mới xã hội chủ nghĩa” và đưa ra phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm văn hoá”.

   Thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ không chỉ là thắng lợi của đường lối chính trị, quân sự đúng đắn mà còn là thắng lợi của chủ nghĩa yêu nước và những giá trị tinh thần cao đẹp của con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam.

   Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội lần thứ VII (6.1991) xác định nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: “(1) Đó là xã hội do nhân dân lao động làm chủ; (2) Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; (3) Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; (4) Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; (5) Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; (6) Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”9.

   Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã ra Nghị quyết về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết đề ra bốn giải pháp cơ bản để xây dựng và phát triển văn hóa: (1) Mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; (2) Xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách văn hóa; (3) Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hóa”; (4) Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa10.

   Để thúc đẩy sự phát triển của văn học, nghệ thuật, Bộ Chính trị (khóa X) ra Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 16 tháng 6 năm 2008 về Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới. Nghị quyết nêu quan điểm “Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hoá; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam”.

   Đại hội lần thứ X của Đảng (4.2006) khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”.

   Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung năm 2011) khẳng định: “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội”. Trong định hướng phát triển, Đảng ta khẳng định: “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”.

   Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa của đất nước ta đã có chuyển biến tích cực và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, trước những biến đổi nhanh chóng, đa dạng, phức tạp của đời sống trong nền kinh tế thị trường và bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, hoạt động văn hóa cũng bộc lộ không ít bất cập, hạn chế. Xuất phát từ thực tiễn đất nước sau gần 30 năm đổi mới và phát triển, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã thảo luận và ra nghị quyết (Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9.6.2014) về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Nghị quyết Trung ương 9 cho thấy sự phát triển tư duy lý luận của Đảng, sự sáng tạo của Đảng trong việc nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa, đặc biệt là yếu tố con người; đồng thời xác định phương hướng, đặc trưng, tính chất, động lực và đặc thù của hoạt động xây dựng và phát triển văn hóa, con người.

   3. Văn hóa Việt Nam soi đường cho dân tộc vào kỷ nguyên mới

   Sự ra đời của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7.1.2026 của Bộ Chính trị không chỉ là một dấu mốc chính trị mà thực sự là một “bản thiết kế đại công trình” cho nền văn hóa Việt Nam sau 40 năm đổi mới. Đứng trước ngưỡng cửa của kỷ nguyên vươn mình, chúng ta cần nhìn nhận Nghị quyết này không phải như một văn bản hành chính đơn thuần mà là một cam kết chính trị và kinh tế để văn hóa thực sự trở thành hệ điều tiết cho sự phát triển bền vững.

   3.1. Những điểm đột phá chiến lược của Nghị quyết số 80-NQ/TW

   Điểm khác biệt cốt lõi của Nghị quyết số 80-NQ/TW so với các văn kiện trước đây nằm ở sự thay đổi tư duy từ “giữ gìn, bảo tồn” sang “kiến tạo và phát triển hệ sinh thái”. Có ba điểm đột phá mang tính “cách mạng” cần được nhận diện rõ:

   Thứ nhất, sự chuyển dịch từ “chi ngân sách” sang “đầu tư phát triển”. Một con số định lượng cứng được xác lập – “tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hoá và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn”. Đây không chỉ là sự đảm bảo về tài chính mà là sự thừa nhận văn hóa là một ngành cần vốn đầu tư tương xứng như kinh tế hay hạ tầng. Sự đột phá này giải quyết tận gốc bài toán “đầu tư thấp và dàn trải” đã kìm hãm ngành văn hóa suốt nhiều thập kỷ.

   Thứ hai, văn hóa được định vị là một nền kinh tế thực thụ. Nghị quyết đặt mục tiêu Công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045. Điều này xác nhận văn hóa không chỉ là “món ăn tinh thần” mà là một “cỗ máy kinh tế”. Bởi lẽ với mục tiêu này, việc xuất khẩu “hàng hóa” văn hóa đã vượt lên trên cái “đích” vốn tồn tại lâu nay là giới thiệu, quảng bá văn hóa Việt để “thực thi” một nhiệm vụ cao cả hơn – xuất khẩu giá trị thẩm mĩ và lối sống Việt Nam. Đây là tư duy của các cường quốc văn hóa (như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mĩ) mà Việt Nam giờ đây, với Nghị quyết số 80-NQ/TW, đã sẵn sàng gia nhập cuộc chơi.

   Thứ ba, cơ chế “hợp tác công - tư” (PPP) được cởi trói. Việc cho phép áp dụng các mô hình lãnh đạo công - quản trị tư hay đầu tư tư - sử dụng công đối với các thiết chế văn hóa là một bước đi táo bạo. Nó phá vỡ thế độc quyền quản lý nhà nước vốn cứng nhắc, cho phép dòng vốn và tư duy quản trị linh hoạt của khu vực tư nhân “chảy” vào các nhà hát, bảo tàng và không gian sáng tạo.

   3.2. “Cú hích” lịch sử đối với văn học, nghệ thuật

   Nghị quyết số 80-NQ/TW có vai trò như “bệ phóng” cho giới văn nghệ sĩ với những điểm mới mang tính giải phóng sức sáng tạo:

   Cơ chế đặt hàng tác phẩm “đỉnh cao”: Thay vì tài trợ cào bằng, Nghị quyết tập trung đầu tư vào tinh hoa. Cơ chế đặt hàng các tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao không chỉ giúp nghệ sĩ tài năng yên tâm về “cơm áo gạo tiền” mà còn định hướng họ vươn tới các giá trị tầm vóc quốc tế. Nhà nước đóng vai trò là “bà đỡ” cho các tác phẩm lớn, thay vì chỉ là người kiểm duyệt.

   Khẳng định vị thế của “người sáng tạo” và giá trị của “tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hoá”, Nghị quyết đã nhìn nhận nghệ nhân, nghệ sĩ như là “tài sản quốc gia” cần được quan tâm đặc biệt: Nghị quyết đề cập đến chính sách đãi ngộ đặc thù cho nghệ nhân và tài năng nghệ thuật “tạo điều kiện thúc đẩy, hỗ trợ văn nghệ sĩ tham gia, đạt giải thưởng lớn tại các cuộc thi, triển lãm uy tín, danh giá về nghệ thuật của thế giới”; nhấn mạnh sự cần thiết phải “có cơ chế hiệu quả để đưa các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hoá của Việt Nam đáp ứng được tiêu chí bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm có giá trị đang ở nước ngoài về nước”. Đây là một trong những điểm nhấn quan trọng thể hiện sự nhân văn trong đường lối, chính sách phát triển văn hóa.

   Lần đầu tiên, Nghị quyết của Đảng coi không gian số là lãnh địa mới của văn hóa. Việc hỗ trợ sáng tạo trên không gian số và bảo vệ bản quyền số là điểm mới nổi bật của Nghị quyết số 80-NQ/TW: “Ứng dụng công nghệ số trong giám sát, định hướng nội dung văn hoá trực tuyến; ban hành tiêu chuẩn đối với sản phẩm và môi trường văn hoá số; phát triển dịch vụ văn hoá số gắn với cơ chế quản lý phù hợp, hiệu quả. Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn dùng chung, bản đồ số văn hoá, phát triển nền tảng phân phối nội dung số, công cụ bảo vệ bản quyền, ứng dụng phân tích dữ liệu, công nghệ số trong một số lĩnh vực của văn hoá”; “hình thành các không gian sáng tạo nội dung số, môi trường sáng tạo cho cộng đồng các doanh nghiệp và tổ chức sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ văn hoá thông qua các hoạt động kết nối và trao đổi. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào sản phẩm, dịch vụ văn hoá số; gắn kết văn hoá với du lịch, thương mại và công nghệ, hình thành chuỗi giá trị. Xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo văn hoá - sáng tạo nội dung số”, “Nhận diện đầy đủ và khai thác hiệu quả tài nguyên văn hoá; lấy di sản văn hoá là trung tâm và tài nguyên văn hoá số là thế mạnh, hướng đến việc bảo tồn, phát huy, phát triển bền vững các giá trị văn hoá. Tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia sản xuất, tiêu dùng, phản biện và chia sẻ lợi ích từ tài nguyên văn hoá”.

   Chiến lược xuất khẩu văn hóa: Mục tiêu xây dựng các thương hiệu liên hoan nghệ thuật quốc tế và trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài cho thấy mong muốn đưa văn hóa, văn học, nghệ thuật Việt Nam “ra biển lớn” một cách chủ động, bài bản, chứ không chỉ là giao lưu văn hóa đơn thuần. Nghị quyết nhấn mạnh: “Đẩy mạnh đăng cai các sự kiện văn hoá, nghệ thuật quốc tế, tham gia sâu tại các diễn đàn lớn. Triển khai cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa truyền thông, ngoại giao văn hoá và xuất khẩu sản phẩm - dịch vụ công nghiệp văn hoá, xây dựng thương hiệu quốc gia cho sản phẩm và dịch vụ văn hoá - sáng tạo mang bản sắc Việt Nam; xuất khẩu sản phẩm - dịch vụ văn hoá có sức cạnh tranh toàn cầu (điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, du lịch văn hoá, thiết kế, thời trang, thủ công truyền thống, trò chơi điện tử, ẩm thực và phần mềm/ nội dung số). Xây dựng và định hình thương hiệu, hàng hoá, sản phẩm Việt Nam mang giá trị văn hoá đặc sắc (như bền, đẹp, xanh, nhân văn…). Phát huy giá trị di sản văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh để quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia”.

   Có thể nói Nghị quyết số 80-NQ/TW là tiếng trống lệnh cho một cuộc chấn hưng văn hóa thực sự, nhưng văn hóa không thể phát triển chỉ bằng mệnh lệnh hành chính. Nó cần sự “thẩm thấu” vào tư duy của mỗi nhà quản lý, sự “dấn thân” của mỗi văn nghệ sĩ và sự “hưởng ứng” của mỗi người dân. Đầu tư cho văn hóa chính là đầu tư cho bản sắc và sức mạnh nội sinh của dân tộc trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Đây là lúc chúng ta hiện thực hóa khát vọng: Văn hóa không chỉ soi đường mà văn hóa còn kiến tạo sự thịnh vượng.

 

 

 

Chú thích:
* Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương.
1, 3 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB. Chính trị quốc gia, 2011, tr. 1-2, 458.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 (1940-1945), NXB. Chính trị quốc gia, tr. 318.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, NXB. Chính trị quốc gia, tr. 1-3.
5 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, NXB. Chính trị quốc gia, 2011, tr. 246, 247 hoặc Báo Cứu quốc, số 416 ra ngày 25.11.1946.
6 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXB. Chính trị quốc gia, 2011, tr. 677.
7, 8 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7, NXB. Chính trị quốc gia, 2011, tr. 246.
9 Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 51, NXB. Chính trị quốc gia, tr. 134.
10 Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, NXB. Chính trị quốc gia.

Bình luận

    Chưa có bình luận