Sử dụng ngôn từ nghệ thuật làm phương tiện biểu đạt, so với một số loại hình nghệ thuật khác như hội hoạ, điêu khắc, âm nhạc, sân khấu… tác phẩm văn học có thế mạnh đặc biệt trong việc phản ánh toàn diện về đất nước, con người, nhất là hồn cốt, bản sắc văn hoá của mỗi quốc gia. Nhận thấy lợi thế đặc biệt này, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều nước châu Âu sử dụng tiếng Anh đã chú ý xuất bản những kiệt tác văn học để phổ biến toàn cầu như: Hội chợ phù hoa (Vanity Fair) của William Makepeace Thackeray, Ông già và biển cả (The Old Man and the Sea) của Ernest Hemingway, Cuốn theo chiều gió (Gone with the wind) của Margaret Mitchell. Chỉ tính riêng tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió, “Đến năm 2010, hơn 30 triệu bản đã được in tại Hoa Kỳ và nước ngoài”1 được xếp vào hạng mục những cuốn sách danh giá nhất mọi thời đại.
Trong khi châu Âu đạt được nhiều thành tựu vang dội thì ở các nước không sử dụng tiếng Anh, việc quảng bá tác phẩm văn học ra thế giới gặp rất nhiều khó khăn bởi rào cản ngôn ngữ. Tuy nhiên, nút thắt khó khăn này bước đầu được tháo gỡ bằng một hướng đi hiệu quả: dịch thuật. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, xuất phát từ nhu cầu quảng bá và thấu hiểu sức mạnh mềm của mỗi quốc gia để hợp tác cùng phát triển trên nhiều lĩnh vực, đội ngũ dịch giả thuộc khu vực châu Á như Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc… đã và đang nỗ lực không mệt mỏi trên chặng đường dịch thuật tác phẩm văn chương. Việc dịch thuật này được chia thành hai hướng: dịch tác phẩm văn học nước mình sang ngôn ngữ quốc tế và chuyển ngữ tác phẩm văn học quốc tế sang bản ngữ nước mình. Đối với hướng chuyển sang bản ngữ, việc dịch thuật không chỉ giúp những kiệt tác của các nền văn học khác nhau được phổ biến rộng rãi mà còn mang lại một cơ hội tốt để nhiều thế hệ kiều bào vì di cư lâu đời đã ít nhiều quên tiếng mẹ đẻ có thêm cơ hội tốt để thấu hiểu và kết nối với nguồn mạch văn hoá, cộng đồng dân tộc mình, trong đó việc dịch thuật tác phẩm văn học Việt Nam tại Hàn Quốc và Trung Quốc là trường hợp điển hình.
1. Dịch thuật và vai trò của dịch tác phẩm văn học Việt Nam sang tiếng Hàn Quốc, tiếng Trung Quốc
Trong lịch sử tiếp nhận văn học ở mỗi quốc gia, dịch thuật đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ, dịch thuật vừa là con đường truyền bá văn học của một quốc gia ra thế giới vừa là cách thức giới thiệu tinh hoa văn học thế giới đến với mỗi quốc gia. Nhờ dịch thuật, nhiều tác phẩm kinh điển của các nhà văn xuất sắc trên thế giới đã có cơ hội lan toả muôn nơi. Những Sông đông êm đềm, Chiến tranh và hòa bình, Phục sinh, Tội ác và trừng phạt, Ông già và biển cả, Cao lương đỏ, Truyện Kiều… thông qua bản dịch đã chuyển tải không chỉ tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn mà còn lan toả bản sắc văn hoá mỗi quốc gia tới toàn cầu. Trong bối cảnh hiện nay, mặc dù ngôn ngữ quốc tế – tiếng Anh – đã tương đối phổ biến và các công cụ dịch thuật bằng AI đã hỗ trợ rất nhiều trong việc tìm hiểu các nền văn hóa nhưng nhiều khi AI hoàn toàn bất lực khi phải chuyển dịch chính xác hệ thống ngôn ngữ mang tính hình tượng gắn với đa tầng lớp nghĩa của tác phẩm văn chương. Bởi vậy, để có thể hiểu sâu sắc một tác phẩm văn học trong điều kiện không đọc được trực tiếp nguyên tác, công việc dịch thuật được thực hiện trực tiếp từ những dịch giả vừa am tường ngôn ngữ vừa thấu hiểu sâu sắc bản sắc văn hoá dân tộc vẫn là một con đường tối ưu.
Nhận thấy vai trò đặc biệt quan trọng của dịch tác phẩm văn chương, không ít công trình trước đây đã nghiên cứu về dịch thuật, văn học dịch Việt Nam ở trong và ngoài nước. Trong những công trình đó, một số nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của văn học dịch với tư cách là nhịp cầu kết nối văn hóa, giới thiệu lịch sử, đất nước, con người Việt Nam với bè bạn quốc tế. Trần Huỳnh Tuyết Như cho rằng: “Không chỉ đơn thuần là một tác phẩm văn học được chuyển từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác thông qua các tác phẩm dịch thuật, chúng ta có thể nhận ra những đặc điểm cơ bản của một nền văn hóa, văn học trong tiến trình phát triển chung của lịch sử”2. Nhấn mạnh đến vai trò của tác phẩm văn học Việt Nam được dịch tại Nhật Bản, Lê Thị Thanh Tâm phân tích “… hệ thống văn học dịch Việt Nam tại Nhật Bản bộc lộ những diễn ngôn phong phú và sâu sắc, trong đó, cảm nghiệm về chiến tranh và hòa bình, về bi kịch nhận thức là những yếu tố đậm nét”3. Quan tâm tới những giá trị nhân văn của tác phẩm văn học Việt Nam, Nguyễn Huy Phòng phân tích “… văn học dịch đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người, giúp con người xích lại ngần nhau hơn”4… Bên cạnh đó, cũng có thể kể đến một số nghiên cứu về dịch thuật của các nhà nghiên cứu khác như Lộ Đức Anh, Trần Xuân Tiến, Trịnh Thùy Trang… đã tiếp tục khẳng định lợi thế của tác phẩm văn học dịch trong bối cảnh giao lưu toàn cầu hiện nay.
Hàn Quốc và Trung Quốc là hai nước có quan hệ kinh tế, văn hóa gần gũi với Việt Nam. Sau hơn 30 năm kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao (1992-2022), quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc đã có những bước phát triển thực chất, hiệu quả, nhất là kể từ năm 2009 khi hai nước nâng cấp quan hệ lên “Đối tác hợp tác chiến lược”. Đặc biệt, năm 2022, hai nước nâng cấp quan hệ lên “Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện”, đánh dấu tầm cao mới trong sự phát triển của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc. Năm 2021, Việt Nam có khoảng 9.100 dự án do Hàn Quốc đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt 72,3 tỉ USD; tính lũy kế đến năm 2021, tổng số vốn đăng ký đã đạt 74,7 tỉ USD, tăng 3,7 lần so với năm 2009 (đạt 20 tỉ USD)5. Hầu hết các doanh nghiệp, tập đoàn lớn của Hàn Quốc đều đang đầu tư tại Việt Nam và tham gia nhiều dự án trọng điểm của Việt Nam, trong đó Tập đoàn Samsung coi các dự án đầu tư tại Việt Nam là cứ điểm quan trọng nhất toàn cầu. Tính đến hết năm 2021, tổng vốn đầu tư của Tập đoàn Samsung tại Việt Nam đã lên tới 17,7 tỉ USD, trong đó có 8 nhà máy tại Việt Nam và doanh thu đạt 74 tỉ USD. Hiện nay, tổng mức đầu tư của Hàn Quốc tại Việt Nam chiếm 42,6% tổng vốn đầu tư toàn khối ASEAN6. Với Trung Quốc, Việt Nam với tư cách là quốc gia láng giềng, “núi liền núi, sông liền sông”, văn hóa hai nước có nhiều nét tương đồng. Là quốc gia đầu tiên trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), trong suốt 75 năm qua, hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước luôn dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước, kết nên mối tình hữu nghị “vừa là đồng chí, vừa là anh em”7.
Với quan hệ về văn hóa, kinh tế như trên, việc thấu hiểu về đất nước, con người, đặc biệt là chiều sâu về văn hóa, tinh thần giữa Việt Nam với Hàn Quốc, Trung Quốc là vô cùng cần thiết. Có nhiều cách để thấu hiểu nhau, trong đó thông qua tác phẩm văn học Việt Nam được dịch sang bản ngữ là một phương thức đặc biệt hữu hiệu. Không chỉ giúp kiều bào tiếp cận với văn học trong nước, dịch thuật còn là công cụ hữu hiệu để giới thiệu hình ảnh Việt Nam đến bạn bè quốc tế, đặc biệt là hai quốc gia Trung Quốc, Hàn Quốc đã và đang có mối quan hệ sâu sắc với Việt Nam trên hầu hết các lĩnh vực như lịch sử, văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội… Qua những dịch phẩm này, kiều bào không chỉ có cơ hội đọc hiểu mà còn có thể giới thiệu văn học nước nhà đến cộng đồng quốc tế, góp phần nâng cao vị thế văn hóa của Việt Nam trên trường quốc tế. Có thể thấy rất rõ các tác phẩm của Nguyễn Du, Nam Cao, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái… khi được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp đã giúp độc giả quốc tế hiểu hơn về con người, xã hội và lịch sử Việt Nam. Điều này tạo điều kiện để kiều bào có thể tự hào về nền văn học nước nhà và giới thiệu với bạn bè quốc tế một cách dễ dàng hơn.
Đối với những người con xa quê, sống và làm việc tại nhiều quốc gia khác nhau, không phải ai cũng có điều kiện sử dụng ngôn ngữ dân tộc trong công việc và đời sống. Đặc biệt, đối với nhiều thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên tại nước ngoài, khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ có thể bị hạn chế vì nhiều lý do. Do vậy, dịch thuật không chỉ là một công cụ chuyển tải ngôn ngữ mà còn là cầu nối giúp họ duy trì sợi dây liên kết với văn hóa của quê hương, có khi đã là “cố hương”. Thực tế cho thấy việc dịch các tác phẩm văn học Việt Nam sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức đã trở thành nguồn tài liệu quý báu để các thế hệ học hỏi, khám phá nguồn cội của mình. Do vậy, ở Hàn Quốc và Trung Quốc, trong điều kiện tiếng Anh chỉ là một ngoại ngữ ở trường học, trong giao tiếp xã hội gần như ít dùng thì việc dịch thuật các tác phẩm văn học Việt Nam sang ngôn ngữ của nước sở tại càng có ý nghĩa hơn. Qua tác phẩm văn học, người Việt Nam ở nước ngoài có thể hiểu sâu sắc hơn về lịch sử, truyền thống cũng như những biến chuyển của đất nước qua từng thời kỳ là một cách thức quan trọng góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, gắn kết hơn với cộng đồng người Việt Nam và duy trì bản sắc văn hóa giữa môi trường đa văn hóa.
2. Đặc điểm tình hình của người Việt Nam ở Hàn Quốc, Trung Quốc
Theo số liệu thống kê của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, hiện nay Việt Nam có khoảng 6 triệu8 công dân đang sinh sống và làm việc tại 130 quốc gia và vùng lãnh thổ9. Theo số liệu thống kê của Hàn Quốc10, tính đến ngày 31.10.2024, có 321.795 người Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc. Trong đó, 4 nhóm ngành nghề sau có số lượng người Việt Nam tương đối lớn lần lượt là: du học (visa D2, D4) là 90.766 người, chiếm 28.1%; lao động EPS là 42.000 người, chiếm 13.05%; kết hôn là 39.898 người, chiếm 12.4%; thăm thân (visa F1) là 34.745 người, chiếm 10.8%. Còn lại nhóm làm việc chuyên môn (visa từ E1 đến E7) có số lượng ít nhất là 11.366 người, chiếm 3.53%. Trong số hơn 300 ngàn người, khoảng hơn 80.00011 người Việt Nam đã được nhập quốc tịch Hàn Quốc, chủ yếu là các cô dâu Việt và con cái của họ.
Nếu không tính dòng họ Lý Hoa Sơn thuộc tôn thất vua Lý định cư ở Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên vào giữa thế kỷ XIII thì có lẽ các cô dâu người Việt Nam là những công dân Việt Nam đầu tiên theo chồng người Hàn đến định cư và sinh sống tại Hàn Quốc vào những năm 1970 của thế kỷ XX. Vào những năm này, vị thế của người Việt Nam trong quan niệm của người bản xứ không cao nếu không muốn nói là bị khinh rẻ, coi thường. Làn sóng người Việt Nam bao gồm người lao động tự do, du học sinh, các cô dâu, các chuyên gia… bắt đầu nhập cư mạnh mẽ vào Hàn Quốc từ sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1992, đặc biệt là vào những năm cuối thế kỷ XX, thập niên đầu thế kỷ XXI. Với hơn 320.000 người, cộng đồng người Việt Nam không chỉ có nhiều đóng góp đối với sự phát triển kinh tế, văn hoá Hàn Quốc mà còn tổ chức nhiều hoạt động để bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc. Tuy nhiên, hiện nay, con cái thế hệ 2, 3 của cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc đang gặp nhiều khó khăn trong việc hiểu và sử dụng được tiếng Việt. Bởi lẽ nhiều người trong số hơn 80.000 người Việt Nam có quốc tịch Hàn Quốc là con cái, thế hệ 2, thế hệ 3, sinh ra và lớn lên tại Hàn Quốc. Ngay từ nhỏ, đặc biệt trong suốt quá trình đi học từ mẫu giáo đến đại học hay trong cuộc sống giao tiếp hằng ngày, họ sử dụng tiếng Hàn, không sử dụng tiếng Việt. Vì vậy, nhiều người trong số họ không thể hiểu và giao tiếp bằng tiếng Việt. Không hiểu và sử dụng được tiếng mẹ đẻ là một trong những nguyên nhân đầu tiên khiến họ đang tách mình ra khỏi dòng chảy của cội nguồn văn hoá dân tộc.
Còn ở Trung Quốc, hiện tại, số lượng người Việt Nam sinh sống, làm việc và du học tại đây ngày càng tăng (khoảng trên 500.000 người). Cộng đồng phần lớn hiện có cuộc sống tương đối ổn định, trong đó nhiều người đã làm việc cho các tập đoàn, công ty lớn của Trung Quốc12. Cộng đồng người Việt Nam ở Trung Quốc đại đa số tập trung, sinh sống tại các tỉnh Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến – nơi có nhiều công ty làm ăn với Việt Nam nên dễ có cơ hội công việc, hay các thành phố lớn như Bắc Kinh, Trùng Khánh, Quảng Châu, Thượng Hải – nơi một mặt có nhiều cơ hội công việc, một mặt tập trung nhiều trường đại học lớn, là lựa chọn số một khi du học Trung Quốc. Riêng ở Đài Loan, tính đến 3.2023, người Việt Nam có 113.575 người, chiếm 19,54% tổng số dân di dân13.
Theo quan sát của chúng tôi, người Việt Nam ở Hàn Quốc, Trung Quốc có một số đặc điểm nổi bật như sau:
- Số lượng tương đối lớn và có xu hướng ngày càng gia tăng.
- Lượng di trú và nhập tịch chủ yếu là di cư hôn nhân, trong đó chủ yếu là phụ nữ kết hôn với người bản địa (Hàn Quốc, Đài Loan) chiếm số lượng đông.
- Du học sinh, di cư lao động, làm ăn kinh tế ngày càng tăng.
- Trình độ dân trí không đồng đều.
- Cộng đồng đã thành lập được các tổ chức, hội nhóm để kết nối, giao lưu văn hóa, ví dụ: cộng đồng cô dâu Việt ở Đài Loan, cộng đồng người Việt Nam ở Hàn Quốc, Hội Sinh viên lưu học sinh ở Trung Quốc, Hội Sinh viên lưu học sinh ở Bắc Kinh, Hội Người Việt Nam ở Trùng Khánh, Tứ Xuyên (Trung Quốc).
- Nhiều trường học ở Đài Loan (Trung Quốc) đã đưa tiếng Việt vào dạy học từ mầm non đến đại học như một ngoại ngữ.
Đó là những đặc điểm chủ yếu của cộng đồng người Việt Nam ở Hàn Quốc, Trung Quốc, là những cơ sở quan trọng cho việc bàn luận về lý do, giải pháp và phương án cho việc dịch thuật tác phẩm văn học Việt Nam ra tiếng Hàn Quốc, tiếng Trung Quốc.
3. Dịch thuật tác phẩm văn học Việt Nam tại Hàn Quốc, Trung Quốc: hiện trạng và một số bàn luận
3.1. Hiện trạng dịch thuật tác phẩm văn học Việt Nam tại Hàn Quốc, Trung Quốc
Cùng với những kiệt tác của văn học Việt Nam đã được chọn dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh, Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài… tại Hàn Quốc, nhiều tác phẩm văn học Việt Nam được chuyển dịch sang tiếng Hàn bởi đội ngũ dịch giả Hàn Quốc.
Về thời gian, có lẽ Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu là tác phẩm đầu tiên được dịch sang tiếng Hàn bởi dịch giả Hàn Quốc Hyeon Chae, NXB. Jongro Daedong Seoshi, 190614. Sau đó, suốt thời gian dài từ năm 1907-1992, rất ít tác phẩm văn học Việt Nam được chuyển ngữ. Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu được dịch trong giai đoạn này là Nửa chừng xuân của Khái Hưng, dịch giả Yoon Seok Doo, NXB. Geucdong Munhwasa, 1969; Truyện cổ tích Việt Nam, dịch giả Kim Ki Tae, NXB. Changjak & Bipyeongsa, 1984; Sống như anh của Trần Đình Vân, dịch giả Kim Min Cheol, NXB. Chingoo, 1988. Ngay sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1992, đặc biệt những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, mối quan hệ Việt Nam và Hàn Quốc ngày càng sâu sắc trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… Trong bối cảnh đó, hàng loạt tác phẩm văn học đã được chuyển ngữ sang tiếng Hàn. Một số kiệt tác của văn học Việt Nam đã được dịch sang tiếng Hàn ở giai đoạn này như: Ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi, dịch giả Ji Joon Mo, NXB. Jisiksaneopsa, 1992; Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, dịch giả Park Chan Gyu, NXB. Yedam, 1999; Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh, dịch giả Kim Sang Il, NXB. Saramsaenggak, 2000; Truyện Kiều của Nguyễn Du, dịch giả An Kyeong Hwan, NXB. Jimanji, 2010; Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, dịch giả Ha Jae Hong, NXB. Asia, 2012; các thi phẩm xuất sắc của hơn 60 nhà thơ như như Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Quê hương của Giang Nam, Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân…. được dịch trong tập Thisi시인, dịch giả Bae Yang Soo, NXB. Dahae, 2015; Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp, dịch giả Kim Joo Young, NXB. Munhak gwa Jiseongsa, 2023. Gần đây nhất là tác phẩm Đêm Láng Hạ của Sương Nguyệt Minh, dịch giả Bae Yang Soo, NXB. B. books, 2025.
Về dịch giả, trong đội ngũ dịch giả Hàn Quốc đó, một số gương mặt dịch giả nổi bật với nhiều dịch phẩm xuất sắc như An Kyeong Hwan (5 tác phẩm dịch); Ha Jae Hong (7 tác phẩm dịch); Bae Yang Soo (8 tác phẩm dịch)… Với những nỗ lực không mệt mỏi trên con đường dịch thuật, tính đến thời điểm này, các dịch giả Hàn Quốc đã xuất bản trên 50 đầu sách dịch tác phẩm văn học Việt Nam sang tiếng Hàn với hàng trăm gương mặt nhà văn, nhà thơ ưu tú được giới thiệu tại Hàn Quốc. Điều đáng nói là họ không chỉ dịch tác phẩm văn học Việt Nam bằng sự thông tuệ về ngôn ngữ, văn hoá mà còn bằng cả tấm chân tình ngưỡng mộ, tình cảm yêu mến sâu nặng với đất nước, con người, văn hoá Việt Nam. Khi dịch nhiều thi phẩm trong hai cuộc trường chinh vĩ đại chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc, một dịch giả Hàn Quốc đã xúc động tâm sự: “Thậm chí, có lúc tôi không thể ngừng khóc”15.
Ở Trung Quốc, với quan hệ láng giềng núi liền núi sông liền sông, việc dịch thuật và nghiên cứu văn học Việt Nam tại Trung Quốc có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự giao lưu văn hóa giữa hai quốc gia láng giềng, góp phần không nhỏ trong việc tạo sự hiểu biết lẫn nhau về lịch sử, văn hóa và con người.
Về tác phẩm dịch, tại Trung Quốc, nhiều tác phẩm văn học Việt Nam trong đó có những kiệt tác của văn học dân tộc đã được dịch thuật sang tiếng Trung. Đối với văn học trung đại, tiêu biểu có thể kể đến Truyện Kiều của Nguyễn Du được dịch bởi dịch giả Tề Quảng Mưu, Công ty Xuất bản sách thế giới ấn hành tháng 6 năm 2011. Nhiều dịch giả Trung Quốc tập trung bút lực để chuyển ngữ các tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại sang tiếng Trung như tập thể tác giả đã dịch Tập truyện đồng thoại của Tô Hoài do NXB. Đoàn kết xuất bản năm 2017; hai dịch giả Lương Viễn, Chúc Dương Tu đã dịch tập thơ Thương lượng với thời gian của Hữu Thỉnh, do NXB. Đại học Vân Nam ấn hành năm 2018; Đêm qua tôi mơ thấy hòa bình – Nhật ký Đặng Thùy Trâm, do hai dịch giả là Phó Thiên Phương (Việt Nam), Lý Gia Trung (Trung Quốc) dịch, do NXB. Hoa Văn phát hành tháng 4 năm 2010; dịch giả Hạ Lộ dịch Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), do NXB. Văn nghệ Hồ Nam phát hành tháng 4.2019. Hạ Lộ đồng thời cũng là dịch giả của cuốn tiểu thuyết Số đỏ (Vũ Trọng Phụng) do NXB. Văn nghệ Tứ Xuyên phát hành năm 2021.
Về đội ngũ dịch giả, ở Trung Quốc, theo tài liệu chúng tôi có được, dịch giả Hạ Lộ (Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc) là người có nhiều ấn phẩm dịch tác phẩm văn học Việt Nam được xuất bản nhất ở Trung Quốc. Qua những tài liệu do chính chị cung cấp và những cuộc trò chuyện gần đây (tháng 3, 4.2025), chúng tôi được biết, Hạ Lộ “Bắt đầu dịch văn học Việt Nam cho độc giả Trung Quốc vào năm 2001 vì nhu cầu công việc và hoàn toàn vì ý nghĩa tinh thần của văn học”. Chị cho rằng, “Tôi cảm thấy văn học là một thứ về tâm trí, nó mang lại cho chúng ta nhiều thứ hơn tiền bạc, vì vậy tôi sẽ làm một số dịch thuật. Tôi cảm thấy văn học Việt Nam có nền tảng rất sâu sắc và thực sự có nhiều nhà văn đương đại ít nhất là ở Đông Á. Tôi đặc biệt hy vọng sẽ giới thiệu nhiều tác phẩm Việt Nam hơn cho Trung Quốc, cho dù là trong giới sáng tạo hay độc giả bình thường”16. Chị cũng cho biết đã từng dịch các tác phẩm từ văn học dân gian, văn học trung đại đến văn học hiện đại, có thể kể đến gồm: Truyện thơ Hoa Tiên, Truyện thơ Phan Trần, thơ Hồ Xuân Hương, Xuân Diệu, Tản Đà, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Thiều; truyện ngắn và tiểu thuyết của Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Y Ban, Lê Minh Khuê và nhiều nhà văn Việt Nam đương đại khác đã được đăng trên báo Trung Quốc17.
Về điều kiện tổ chức dịch thuật và tác động của việc dịch tác phẩm văn học Việt Nam sang tiếng Hàn và tiếng Trung, mà trước hết là tại Hàn Quốc. Với những dịch phẩm này, vẻ đẹp của đất nước, con người Việt Nam được quảng bá, giới thiệu rộng rãi tại Hàn Quốc. Không chỉ quảng bá, giới thiệu, những tác phẩm dịch này còn thúc đẩy quá trình nghiên cứu văn học Việt Nam. Nhờ những tác văn học đã được dịch sang tiếng Hàn, tính từ năm 1990 đến tháng 3 năm 2022, 98 công trình nghiên cứu về văn học Việt Nam18 bao gồm văn học dân gian, văn học trung đại, văn học hiện đại… đã được thực hiện tại Hàn Quốc bởi đội ngũ các nhà nghiên cứu người Hàn Quốc, nhất là những người Việt Nam đang sống tại Hàn Quốc và những người Việt Nam ở Mĩ đang học tập tại Hàn Quốc. Bên cạnh đó, việc chuyển ngữ sang tiếng Hàn sẽ giúp ích rất nhiều cho thế hệ con cái thế hệ 2, thế hệ 3 của người Việt Nam không thông thạo tiếng Việt sẽ dễ dàng kết nối với nguồn mạch văn hoá dân tộc. Tại Trung Quốc, các tổ chức văn hóa, giáo dục của Việt Nam tại Trung Quốc như Đại sứ quán Việt Nam; các viện nghiên cứu tại các trường đại học Trung Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy dịch thuật và nghiên cứu văn học Việt Nam. Các sự kiện được tổ chức thường xuyên sẽ góp một phần quan trọng nâng cao sự hiểu biết và sự quan tâm đến văn hóa Việt Nam. Các viện nghiên cứu, trường đại học Trung Quốc như Đại học Bắc Kinh và Đại học Nam Kinh cũng đã mở các khóa học nghiên cứu văn học Việt Nam, qua đó đào tạo các chuyên gia và dịch giả có đủ năng lực để làm cầu nối giữa hai nền văn hóa.
3.2. Thách thức và cơ hội trong việc dịch thuật văn học Việt Nam tại Trung Quốc, Hàn Quốc
Dù đã có những bước tiến đáng kể, việc dịch thuật tác phẩm văn học Việt Nam ra tiếng Hàn Quốc, Trung Quốc vẫn đối mặt với một số thách thức sau:
Đầu tiên, có thể nhìn thấy ngay sự thiếu hụt các chuyên gia, dịch giả về văn học Việt Nam tại hai quốc gia này. Chúng ta đều nhận thức được rằng dịch thuật tác phẩm văn học không đơn thuần là chuyển đổi ngôn ngữ mà còn là một quá trình sáng tạo, tái hiện lại linh hồn của tác phẩm trong một hệ thống ngôn ngữ khác. Điều này đòi hỏi người dịch không chỉ có kỹ năng ngôn ngữ mà còn phải có sự nhạy bén trong việc diễn đạt, truyền tải sắc thái của văn bản gốc và do vậy, lao động chất lượng cao không tương xứng với thu nhập có được là một đòi hỏi khắt khe và trở thành một thách thức rất lớn.
Tuy nhiên, đây cũng là một cơ hội lớn, là khoảng trống cho việc phát triển dịch thuật tại đây nếu được quan tâm đúng mức. Việc mở rộng các chương trình nghiên cứu, các hợp tác về dịch thuật văn học Việt Nam tại các trường đại học có thể tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc thúc đẩy việc dịch thuật văn học Việt Nam. Hơn nữa, sự phát triển của công nghệ số và các nền tảng học thuật trực tuyến cũng cung cấp một cơ hội để tăng cường việc tiếp cận tài liệu và dịch thuật văn học Việt Nam tại Trung Quốc, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các dịch giả làm việc hiệu quả hơn là những vấn đề chúng ta có thể nhận thấy ngay.
Việc dịch thuật văn học Việt Nam tại Hàn Quốc, Trung Quốc đang trong quá trình phát triển và có nhiều triển vọng trong tương lai. Tuy gặp phải một số thách thức nhưng qua sự nỗ lực của các dịch giả và các tổ chức văn hóa, văn học Việt Nam đã từng bước được giới thiệu rộng rãi và được đón nhận tại hai quốc gia này. Để việc này đạt hiệu quả cao hơn, cần tiếp tục phát triển các chính sách hỗ trợ, đẩy mạnh hợp tác học thuật và tạo ra các cơ hội giao lưu văn hóa, qua đó nâng cao sự hiểu biết và sự đánh giá tích cực về văn học Việt Nam trong cộng đồng học thuật và độc giả ở Hàn Quốc, Trung Quốc.
Thứ hai, sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa cũng là một rào cản cho việc dịch thuật. Không phải lúc nào một tác phẩm cũng có thể được chuyển ngữ một cách trọn vẹn mà không làm mất đi ý nghĩa, phong cách hay tinh thần nguyên bản. Đặc biệt, văn học Việt Nam thường sử dụng nhiều hình ảnh, điển tích, câu thành ngữ có tính đặc thù cao, đòi hỏi người dịch không chỉ am hiểu ngôn ngữ mà còn cần có kiến thức sâu rộng về văn hóa. Chị Hạ Lộ chia sẻ, nhiều khó khăn trong dịch thuật đã được xử lý bằng cách nhờ người Việt Nam hoặc người Trung Quốc đang làm việc tại cơ quan sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam: “Tôi cũng đã nhiều lần hỏi những người bạn Việt Nam đang học ở Trung Quốc và những người bạn Trung Quốc đang làm việc tại Đại sứ quán Việt Nam về kiến thức ngôn ngữ liên quan, thông qua WeChat hoặc các phương pháp khác. Khi dịch 2 cuốn tiểu thuyết này, tôi đã tích lũy được nhiều kiến thức dịch thuật và tìm hiểu sâu nhiều vấn đề. Vì vậy, tôi cũng đã viết nhiều bài báo học thuật và tham gia các hội nghị học thuật để thảo luận, một số đã được đăng trên các tạp chí học thuật”19. Người viết lời tựa cho Số đỏ – tác phẩm in lần thứ nhất với 8000 bản – là ông Bành Thế Đoàn, Tham tán Văn hóa Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam. Trong lời tựa, ông viết: “Cuốn tiểu thuyết này được dịch và giới thiệu ở Trung Quốc sẽ có một tác động tích cực đối với người Trung Quốc trong việc hiểu biết về Việt Nam và sự phát triển của văn học Việt Nam. Nhưng để dịch hay được cuốn tiểu thuyết thật không dễ”20.
Thứ ba, sự thiếu hụt kinh phí cho công tác dịch thuật. Qua quan sát và trải nghiệm, chúng tôi thấy công việc dịch thuật tác phẩm văn học không phải là một công việc có thể mang lại nguồn thu đáng kể, nếu đó không phải là những tác phẩm đạt giải Nobel. Đơn cử như Số đỏ được dịch ở Trung Quốc, mức giá niêm yết là 42 nhân dân tệ, tương đương khoảng 150.000 VNĐ, lần đầu xuất bản là 8000 bản, tạm tính là 120.000.000 VNĐ (Một trăm hai mươi triệu VNĐ) (giá chưa chiết khấu). Vậy thử hỏi công lao động cho một tác giả với bản dịch này là bao nhiêu? Tại Hàn Quốc, Trung Quốc cũng không ít dịch giả đã dùng kinh phí cá nhân để trang trải toàn bộ quá trình trả kinh phí bản quyền, dịch và xuất bản tác phẩm dịch văn học Việt Nam. Nếu không phải vì tình yêu với văn học, với nền văn hóa Việt Nam hoặc trách nhiệm nghề nghiệp thì việc tiếp cận và dịch một tác phẩm để xuất bản ở nước ngoài với biết bao thủ tục, chắc khó có thể diễn ra. Chính vì vậy, việc dịch tác phẩm văn học ra tiếng Hàn, tiếng Trung Quốc nên được xem là một công việc cần thiết, thậm chí là cấp bách và cần có nguồn kinh phí hỗ trợ của Chính phủ.
3.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc dịch tác phẩm văn học Việt Nam sang tiếng Hàn Quốc và tiếng Trung Quốc
Từ thực tiễn dịch thuật tác phẩm văn học ở Hàn Quốc và Trung Quốc, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp sau:
Một là, giải pháp cơ chế, chính sách. Chính phủ Việt Nam cần có chủ trương để định hướng thực hiện việc dịch thuật tác phẩm văn học. Tại Hàn Quốc, dịch thuật tác phẩm văn học được định hướng bởi chính phủ. Theo đó, chính phủ khuyến khích các dịch giả và hỗ trợ cơ chế, tài chính để họ hoàn thành công việc như rót kinh phí cho một số quỹ văn hoá, tạo cơ chế thuận lợi cho việc trao đổi bản quyền, có những quy định cụ thể giúp dịch giả dễ dàng liên kết với các nhà xuất bản… Nhờ sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách như vậy, trong những năm gần đây, nhiều tác phẩm văn học Hàn Quốc đã được chuyển ngữ quốc tế và đạt được những thành tựu nổi bật. Người ăn chay là tác phẩm được chuyển ngữ sang tiếng Anh, gây tiếng vang lớn trên diễn đàn văn học quốc tế và góp phần không nhỏ trên hành trình đưa Han Kang đến với đỉnh vinh quang với giải Nobel Văn học năm 2024. Cũng nhờ cơ chế, chính sách của chính phủ Hàn Quốc, tác phẩm văn học của nhiều nước khác đã được dịch sang tiếng Hàn Quốc. Hướng chuyển ngữ này không chỉ giúp người Hàn Quốc hiểu rõ hơn về sức mạnh mềm mỗi quốc gia mà còn góp phần ổn định xã hội, giải quyết hiệu quả các vấn đề xung đột văn hoá của kiều bào đang sống trên đất Hàn Quốc.
Việc dịch thuật tác phẩm văn học Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên, vì kinh phí nhà nước hầu như không có, nguồn vốn xã hội hoá không được huy động nên hầu hết việc dịch thuật này tự phát từ góc độ cá nhân như nhóm Nữ dịch giả Hà Nội (Hanoi Female Translators)21 hoặc nhà văn Đoàn Cẩm Thi tự bỏ tiền để thành lập một nhà xuất bản chuyên dịch tác phẩm văn học Việt Nam sang tiếng Pháp… Quá trình tự phát dịch thuật này đã và đang chứng kiến nhiều vấn đề bất cập như lựa chọn tác phẩm, bản quyền khi chuyển ngữ, xuất bản và tiêu thụ sản sản phẩm dịch, nguồn kinh phí để duy trì, hiệu quả của việc quảng bá, giới thiệu đất nước, con người, văn hoá Việt Nam ra thế giới trong bối cảnh hội nhập toàn cầu…
Có thể thấy, chỉ khi nào nhu cầu tìm hiểu văn hóa, văn học hai nước trở thành một nhu cầu bức thiết cho việc tạo ra sự thấu hiểu lẫn nhau của nhân dân hai nước và có sự trợ giúp của chính phủ thì công việc này mới thực sự triển khai một cách hiệu quả. Đúng như chia sẻ của Cung Mẫn, giáo viên tiếng Việt của Trường Đại học Ngoại ngữ số 2 Bắc Kinh (Trung Quốc): “Mấy năm gần đây, giao lưu nhân văn giữa Việt Nam và Trung Quốc rất mật thiết. Trước đây, phim Trung Quốc được rất nhiều bạn Việt Nam yêu thích. Thời gian qua, các ca khúc nhạc trẻ Việt Nam rất “hot” trên mạng xã hội Trung Quốc. Nhiều ca sĩ như Sơn Tùng, Hoàng Thùy Linh được rất nhiều người trẻ yêu thích và có nhiều “fan” hâm mộ ở Trung Quốc. Đây cũng chính là một trong những lý do Trường Đại học Ngoại ngữ số 2 Bắc Kinh của tôi mở chuyên ngành tiếng Việt và là dấu hiệu cho thấy quan hệ Trung - Việt ngày càng tốt hơn”. Nhà nước và các tổ chức văn hóa cần có chính sách hỗ trợ tài chính cho các dự án dịch thuật, xuất bản. Việc thành lập quỹ hỗ trợ dịch thuật văn học Việt Nam có thể giúp nhiều tác phẩm có giá trị được phổ biến rộng rãi hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam ở nước ngoài tiếp cận với nền văn học nước nhà.
Hai là, xây dựng và quản lý vận hành một đội ngũ dịch giả chuyên nghiệp trong nước và quốc tế, bao gồm cả cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Bên cạnh đội ngũ dịch giả chuyên nghiệp trong nước, cần liên kết với những dịch giả tâm huyết, sẵn sàng hợp tác ở nước ngoài. Sự liên kết này không chỉ giúp chúng ta phát huy được trí tuệ quốc tế mà còn có thể chuyển ngữ tác phẩm văn học sang nhiều ngôn ngữ khác một cách dễ dàng, tiêu biểu là chuyển ngữ sang tiếng Hàn và tiếng Trung như trên đã trình bày. Bên cạnh đó, cần thành lập Hội đồng khoa học gồm những nhà khoa học đủ tâm, đủ tài, đủ tầm để giới thiệu và lựa chọn những tác phẩm văn học xuất sắc từ truyền thống đến đương đại nhằm dịch thuật, quảng bá đất nước, con người Việt Nam ra thế giới, thắt chặt sợi dây kết nối cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Ba là, cần tận dụng công nghệ và nền tảng số để đưa các tác phẩm dịch thuật đến gần hơn với người Việt Nam ở nước ngoài. Các thư viện số, nền tảng xuất bản trực tuyến, sách điện tử có thể giúp họ dễ dàng tiếp cận với văn học Việt Nam mà không bị hạn chế bởi khoảng cách địa lý. Việc phát triển các ứng dụng đọc sách đa ngôn ngữ cũng có thể là một hướng đi hiệu quả để phục vụ nhu cầu của cộng đồng người Việt Nam xa xứ. Các chương trình hợp tác quốc tế để quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới, các hội thảo, liên hoan văn học, giao lưu tác giả - độc giả giữa Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có thể giúp tăng cường sự kết nối, góp phần đưa văn học Việt Nam đến gần hơn với độc giả toàn cầu.
Như vậy, có thể thấy, quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới nói chung, trong đó có người Việt Nam ở nước ngoài nói riêng, qua dịch thuật là một chiến lược quan trọng để giới thiệu những giá trị văn hóa độc đáo của đất nước. Dịch thuật không chỉ đơn thuần là công cụ truyền tải thông tin mà còn là cầu nối giữa các nền văn hóa, tạo cơ hội để văn học Việt Nam được biết đến và trân trọng ở những quốc gia bạn, đặc biệt trong thế hệ 2, thế hệ 3 của người Việt Nam ở nước ngoài. Nhiều tác phẩm văn học Việt Nam đã được dịch sang các thứ tiếng khác nhau, góp phần xây dựng một hình ảnh phong phú về đất nước và con người Việt Nam. Từ các tác phẩm của những nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tô Hoài, cho đến các tác giả đương đại như Nguyễn Nhật Ánh và Phan Thị Vàng Anh, mỗi tác phẩm đều mang đến một bức tranh sinh động về lịch sử, văn hóa và tâm hồn dân tộc Việt Nam. Việc dịch thuật không chỉ giúp cho bạn đọc hiểu thêm về sự đa dạng trong tư tưởng và phong cách sáng tác mà còn tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hóa sâu rộng.
Tuy nhiên, dịch thuật tác phẩm văn học Việt Nam đã và đang gặp phải không ít thử thách. Những vấn đề về chất lượng bản dịch, sự khác biệt về ngữ cảnh văn hóa và cách thức truyền tải thông điệp của tác giả là những yếu tố cần phải được chú trọng để đảm bảo rằng văn học Việt Nam không chỉ được chuyển ngữ mà còn được bảo tồn đúng giá trị nghệ thuật và cảm xúc mà tác giả muốn truyền tải. Chúng ta cũng cần khẳng định, sự quan tâm và hỗ trợ từ các cơ quan văn hóa, các nhà xuất bản và cộng đồng dịch giả đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình này. Do vậy, để công tác dịch thuật tác phẩm văn học Việt Nam hiệu quả hơn, cần có một chiến lược tổng thể hơn, kết hợp giữa việc đào tạo đội ngũ dịch giả tài năng, đầu tư vào các công cụ dịch thuật hiện đại và mở rộng các chương trình giao lưu văn hóa. Chỉ khi có sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức, cá nhân và cộng đồng, văn học Việt Nam mới có thể vươn xa và đáp ứng tốt được chức năng, vai trò trong việc kết nối, quảng bá văn hóa, văn học Việt Nam trên thế giới mà trước mắt là ở cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có Hàn Quốc, Trung Quốc.
3. Kết luận
Dịch thuật đóng vai trò không thể thiếu trong việc giới thiệu văn học Việt Nam đến kiều bào, giúp họ duy trì mối liên kết với quê hương và nâng cao sự hiểu biết về văn hóa dân tộc. Mặc dù còn nhiều thách thức nhưng với sự đầu tư nghiêm túc, chiến lược hợp lý và sự hợp tác giữa các bên liên quan, dịch thuật có thể trở thành một công cụ mạnh mẽ giúp văn học Việt Nam lan tỏa rộng rãi, đồng thời góp phần khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa. Điều này chắc chắn sẽ góp một phần quan trọng để các hoạt động giao lưu văn hóa, tôn giáo, qua đó giữ gìn bản sắc và quảng bá những giá trị văn hóa dân tộc, xây dựng hình ảnh đất nước Việt Nam tươi đẹp, mến khách, thúc đẩy và giành được sự yêu mến của bạn bè quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế như lời khẳng định của Tổng Bí thư Tô Lâm về huy động các nguồn lực trong “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.
Chú thích:
1 Gone with the wind, https://en.wikipedia. org/wiki/Gone_with_the_Wind_(novel), Brown, Ellen F., et al., Cuốn theo chiều gió của Margaret Mitchell: Hành trình bán chạy nhất từ Atlanta đến Hollywood, tr. 320.
2 Trần Huỳnh Tuyết Như (2024), “Vai trò của mảng văn học dịch trên Gia Định báo, Nông cổ mín đàm và Lục tỉnh tân văn với sự phát triển của văn học Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, tập 13, số Đặc biệt (01), tr. 111.
3 Lê Thị Thanh Tâm (2023), “Văn học dịch Việt Nam tại Nhật Bản từ góc nhìn diễn ngôn”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng, số 23 – 5/2023, tr. 65.
4 Nguyễn Huy Phòng (2015), “Một số vấn đề về văn học dịch ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 8/2015, tr. 45.
5, 6, 8 Mai Thị Dinh (2023), “Quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược Việt Nam – Hàn Quốc và những định hướng chiến lược cho tương lai”, Tapchicongsan. org.vn, truy cập ngày 30.3.2025.
7 Ngô Lê Văn (2025), “Bảy mươi lăm năm xây dựng và phát triển quan hệ ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc”, nguồn: Tapchicongsan.org.vn, truy cập ngày 30.3.2025.
9 “Trọng tâm công tác người Việt Nam ở nước ngoài năm 2024”, nguồn: http://vufo.org.vn, truy cập ngày 22.3.2025.
10 “Thống kê về người Việt Nam tại Hàn Quốc”, nguồn: http://hanquocngaynay.info, truy cập ngày 22.3.2025.
11 “Người Việt ở Hàn Quốc lập câu lạc bộ Người giàu”; nguồn: http://thanhnien.vn, truy cập ngày 22.3.2025.
12 “Xây dựng ngôi nhà chung của người Việt”, nguồn: http://vtv4.vtv.vn, truy cập ngày 1.4.2025.
13 Nguyễn Thanh Liêm (2023): “Xu hướng phát triển quan hệ kinh tế, thương mại, xã hội Đài Loan - Việt Nam và nhu cầu giảng dạy đào tạo tiếng Việt và văn hóa Việt Nam tại Đài Loan”, Hội thảo quốc tế: Nghiên cứu, giảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam, Trường Ngoại ngữ Văn Tảo, Đài Loan.
14 Những trích dẫn về tác phẩm văn học dịch, dịch giả, nhà xuất bản tại Hàn Quốc trong bài viết này được cung cấp bởi GS. TS. Bae Yang Soo, Trường Đại học Ngoại ngữ Busan, Hàn Quốc.
15 Yangsoo Bae (17.10.2022): “Người Việt Nam ai cũng có thể làm thơ”, nguồn: http://www. phunuonline.com.vn, truy cập ngày 23.3.2025.
16 “Phó giáo sư Hạ Lộ, đam mê truyền bá văn học Việt Nam ở Trung Quốc”, nguồn thông tin: Tiếng nói Việt Nam, ngày 2.1.2017, phóng viên hàng ngày Vương Kiện.
17, 19 “Dịch giả Trung Quốc chuyển ngữ tiểu thuyết Số đỏ: Đàn ông có nhiều cái ghen giống nhau”, nguồn: Tạp chí Thời đại, Vietnam Times – Diễn đàn của liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, 8.3.2023 (http://thoidai.com.vn) và tài liệu do dịch giả Hạ Lộ cung cấp.
18 Số liệu này được cung cấp bởi GS. TS. Bae Yang Soo, Trường Đại học Ngoại ngữ Busan, Hàn Quốc.
20 “Số đỏ của Vũ Trọng Phụng xuất bản ở Trung Quốc: Khó và dễ”, nguồn: Báo điện tử Tiền Phong, truy cập ngày 1.4.2025.
21 Nhóm này bao gồm Kiều Bích Hậu, Đỗ Mai Hòa, Khánh Phương, Võ Thị Như Mai, Phạm Vân Anh.