Trong cộng động người Việt Nam (Việt) ở nước ngoài nói chung, cộng đồng trí thức Việt nói riêng, có thể nói các thế hệ người Việt sinh sống ở Mĩ luôn đông đảo về số lượng; gặt hái nhiều thành tựu trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Xét ở lĩnh vực văn học, nghệ thuật, bên cạnh dấu ấn của các nhà văn người Mĩ gốc Việt như Monique Truong, Nguyễn Thanh Việt, Ocean Vuong, Lại Thanh Hà… với các tác phẩm nổi tiếng trên văn đàn thế giới, làm giàu có mảnh đất văn học ở nước ngoài của Việt Nam, phải kể đến sự xuất hiện và đóng góp của các thế hệ dịch giả người Việt ở Mĩ trong việc dịch và giới thiệu văn học Việt Nam tại Mĩ – quốc gia dịch nhiều tác phẩm văn học Việt Nam nhất từ năm 1975 đến nay.
Hoạt động dịch thuật, quảng bá văn học dịch ở một quốc gia chính là sản phẩm của quá trình tiếp nhận văn học. Dưới lăng kính của lý thuyết tiếp nhận, mối quan hệ giữa tác giả - tác phẩm - độc giả trở thành chuỗi tiếp nhận tác giả - tác phẩm gốc - người dịch - tác phẩm dịch - người đọc, trong đó xuất hiện vai trò của dịch giả. Theo nhà nghiên cứu Đỗ Văn Hiểu, người dịch mang “song trùng thân phận”, nghĩa là vừa là “độc giả (trong quan hệ với nguyên tác)” vừa là “nhà văn (trong quan hệ với độc giả bản dịch)”1. Tác giả Nguyễn Thị Mai Chanh trong bài viết “Dịch thuật và vấn đề tiếp nhận văn học nước ngoài” thì cho rằng, hai vai của dịch giả là “độc giả” và “người môi giới văn hóa”; đồng thời nhấn mạnh hiện tượng tiếp nhận “có giá trị tiêu biểu cho sự giao tiếp liên/ đa văn hóa” khi dịch giả đồng thời là học giả2. Soi chiếu lý thuyết tiếp nhận vào hoạt động dịch văn học, kế thừa quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi cho rằng dịch giả mang tính chất “đa vai”: độc giả (với tác phẩm gốc và cả tác phẩm dịch), người sáng tạo (tác phẩm dịch), người định hướng (qua hoạt động giới thiệu, nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm gốc và tác phẩm dịch). Các “vai” này linh hoạt và cộng hưởng giúp người dịch chiếm vị trí quan trọng – vai trò cầu nối – trong chuỗi tiếp nhận văn học dịch nói trên. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ tiếp cận vấn đề dịch văn học Việt Nam ở Mĩ từ tính chất “đa vai” của dịch giả người Việt ở Mĩ, bao gồm người Mĩ gốc Việt, người Việt sinh sống và làm việc tại Mĩ. Bằng phương pháp tiểu sử; thống kê, khảo sát; phân tích diễn ngôn (các phát biểu, ý kiến đánh giá của dịch giả - học giả, tác giả về tác phẩm, ấn bản dịch trong các bài phỏng vấn, lời giới thiệu, lời dịch giả); chúng tôi mong muốn làm rõ những đóng góp, vai trò của các thế hệ dịch giả người Việt ở Mĩ trong quá trình dịch thuật, giới thiệu, quảng bá văn học Việt Nam và đối với ngành Việt Nam học ở Mĩ từ năm 1975 đến nay. Trên bình diện nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung vào quan điểm dịch thuật, tiếp nhận các tác phẩm văn học của họ.
1. Sự tiếp nối của các thế hệ dịch giả - học giả người Việt ở Mĩ trong quá trình dịch và giới thiệu văn học Việt Nam tại Mĩ từ 1975 đến nay
Theo thống kê của chúng tôi, gần bốn mươi ấn phẩm trong số hơn bảy mươi cuốn sách dịch văn học Việt Nam được xuất bản ở Mĩ từ năm 1975 đến nay có sự tham gia của các dịch giả Việt Nam ở Mĩ. Chúng tôi tạm chia các thế hệ dịch giả gắn với 50 năm (1975-2025) văn học dịch Việt Nam ở Mĩ theo mốc thời gian họ sinh sống ở Mĩ: từ năm 1975 trở về trước và sau năm 1975.
Đại diện cho thế hệ dịch giả sống ở Mĩ từ năm 1975 trở về trước là các học giả như Huỳnh Sanh Thông, Nguyễn Bá Chung, Nguyễn Quí Đức, Nguyễn Ngọc Bích, Phan Thanh Hảo; nhà văn Đinh Linh… Dịch giả - nhà nghiên cứu Huỳnh Sanh Thông (1926-2008) sang Mĩ từ năm 1948, là một trong những người góp công đầu trong việc đưa văn học Việt Nam đến Mĩ qua các bản dịch. Là giảng viên giảng dạy tiếng Việt, khi học sinh lớp tiếng Việt của ông muốn hiểu về văn học Việt Nam, ông đã nghĩ ngay đến Truyện Kiều – tác phẩm thơ mà ông đánh giá “có ý nghĩa văn học đối với hầu hết người dân Việt Nam”3; và ấn bản The Tale of Kieu ra đời năm 1973, đến năm 1983 được Nhà xuất bản Đại học Yale tái bản, có chỉnh sửa, bổ sung. Ông còn là dịch giả của các tuyển tập thơ Heritage of Vietnamese Poetry (1979), An Anthology of Vietnamese Poems: From the Eleventh through the Twentieth Centuries (2001). Với vai trò là Giám đốc dự án Người tị nạn Đông Nam Á (SEAS), ông sáng lập và là Tổng biên tập ấn phẩm The Vietnam Forum (1986-1990), chủ trì dịch nhiều công trình trong đó có tác phẩm văn học của Việt Nam và người Việt Nam ở nước ngoài thuộc Lạc-Việt Series. Hoạt động dịch thuật, giới thiệu, nghiên cứu của ông gắn với sự nảy nở, phát triển nghiên cứu về Việt Nam ở Mĩ trên lĩnh vực văn học - văn hóa giai đoạn 1975-1995.
Nhà thơ - học giả Nguyễn Bá Chung tới Mĩ du học từ năm 1972 rồi ở lại giảng dạy, nghiên cứu tại Đại học Massachuset. Ông lại có cơ duyên với văn học dịch Việt Nam ở Mĩ trong quãng thời gian hai mươi năm tham gia Trung tâm William Joiner. Ông được chứng kiến các tác giả Việt Nam cùng thơ và văn của họ đến Mĩ mang thông điệp hòa bình và tạo được hiệu ứng tích cực ngay từ những 80, 90 của thế kỷ XX khi Mĩ còn thi hành chính sách cấm vận đối với Việt Nam. Dự án dịch thuật ông tham gia cùng Trung tâm William Joiner như tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu (A Time Far Past: A Novel of Vietnam, 1997), tập thơ Những người đàn bà gánh nước sông của Nguyễn Quang Thiều (The Women Carry River Water, 1997); các tuyển tập thơ Mountain River: Vietnamese Poetry from the Wars, 1943-1993 (1998), Distant Road: Selected Poems of Nguyen Duy (1999), 6 Vietnamese Poets (2002)… bắt nguồn từ thực tế sự đón nhận của độc giả đối với sáng tác văn học của các tác giả Việt Nam: “Thơ và văn của người Việt được đón tiếp một cách nồng nhiệt. Nhiều người Mĩ, nhất là các cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt, đã khóc trong những buổi đọc thơ”4.
Các dịch giả Nguyễn Quí Đức (1958-2023), Nguyễn Ngọc Bích (1937-2016) đều xuất thân từ nhà báo, nhà văn. Họ dịch văn học Việt bắt nguồn từ tình yêu với văn hóa Việt. Dịch giả Nguyễn Ngọc Bích đóng góp tuyển tập thơ đồ sộ A Thousand Years of Vietnamese Poetry (1975). Dịch giả Nguyễn Quí Đức thì góp sức cho ra đời các ấn bản Vietnam: A Traveler’s Literary Companion (tập truyện của nhà văn Việt Nam trong nước và nước ngoài), tập truyện của Hồ Anh Thái Behind the Red Mist: fiction by Ho Anh Thai và tập thơ của Hữu Thỉnh The Time Tree. Dịch giả Phan Thanh Hảo ghi dấu ấn với các ấn phẩm dịch tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nổi tiếng: Ngược dòng nước lũ (Against the Flood, Ma Văn Kháng), tiểu thuyết Thời gian của người (Past Continuous, Nguyễn Khải), Người đàn bà trên đảo (The Women on the Island, Hồ Anh Thái).
Thế hệ dịch giả tiếp nối sống ở Mĩ từ sau 1975 cũng có số lượng đáng kể. Họ là các nhà văn, nhà thơ, dịch giả như các gương mặt nhà văn Andrew X. Pham với bản dịch Last Night I Dreamed of Peace (Nhật ký Đặng Thùy Trâm); nhà văn Nguyễn Đỗ với tập truyện ngắn đương đại Black Dog, Black Night: Contemporary Vietnamese Poetry và tập thơ của Nguyễn Trãi Beyond the Court Gate; nhà văn Đinh Thúy với tập thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ Green Rice: Poems by Lam Thi My Da… Hoặc các nhà nghiên cứu - giảng viên tại các trường đại học tham gia dịch văn học Việt Nam như: nhà ngôn ngữ học Trần Hoài Bắc dịch truyện ngắn của Lê Minh Khuê (The Stars, the Earth, the River: Short Stories); dịch giả Nguyễn Nguyệt Cầm dịch truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (tập truyện mang tên Crossing the River), tiểu thuyết Số đỏ (Dumb Luck) của Vũ Trọng Phụng, truyện dân gian Việt Nam (Two Cakes Fit for a King: Folktales from Vietnam). Học giả Trần Viết Thúy dịch phóng sự Kỹ nghệ lấy Tây (The Industry of Marrying Europeans) của Vũ Trọng Phụng, tập truyện Việt Nam đương đại Wild Mustard: New Voices from Vietnam. Nhà ngôn ngữ học Tri C Tran dịch truyện cổ Việt Nam trong tập Vietnamese Stories for Language Learners. Đặc biệt, trong những năm gần đây, học giả Hà Mạnh Quân, Giáo sư của Đại học Montana cùng nhà văn Cab Tran, nhà nghiên cứu Võ Hương Quỳnh và cách dịch giả người Mĩ… đã dịch và xuất bản nhiều truyện ngắn Việt Nam hiện đại và đương đại trong các tuyển tập Other Moons: Vietnamese Short Stories of the American War and Its Aftermath (tập truyện ngắn về cuộc chiến tranh chống Mĩ và hậu chiến, 2020); Longings: Contemporary Fiction by Vietnamese Women Writers (tập truyện của nữ văn sĩ Việt Nam đương đại, 2024); Light Out and Modern Vietnamese Stories, 1930-1954 (Tắt đèn và các truyện ngắn Việt Nam hiện đại 1930-1945, 2024); The Colors of April: Fiction on the Vietnam War’s Legacy 50 Years Later (tập truyện ngắn kỷ niệm 50 năm kết thúc chiến tranh, 2025). Sau khi tốt nghiệp cử nhân ngôn ngữ Anh tại Trường Đại học Đà Lạt năm 2000, dịch giả Hà Mạnh Quân du học Mĩ và ở lại giảng dạy tại Đại học Montana. Với chuyên môn nghiên cứu về văn học Mĩ, văn học chiến tranh Việt Nam, xuất phát từ thực tế thiếu nguồn tư liệu là tác phẩm văn học dịch khi sinh viên ở Mĩ học về văn học, lịch sử Việt Nam, với mong muốn “thông điệp hòa giải từ văn học dịch giúp chúng ta đến gần với nhau hơn và xóa mờ cái nhìn định kiến về nhau”5, trong năm năm (2020-2025), bảy cuốn văn học dịch Việt Nam do dịch giả chủ biên dịch thuật đã được xuất bản ở Mĩ, Singapore. Tập truyện dịch vừa mới xuất bản tại Mĩ The Colors of April: Fiction on the Vietnam War’s Legacy 50 Years Later một lần nữa đặt các nhà văn Việt Nam và nước ngoài cạnh nhau trong bức tranh mang “sắc màu tháng Tư” cùng sứ mệnh “giúp độc giả Mĩ nhìn nhận lịch sử thông qua văn học từ chính lăng kính và ký ức của người Việt”, “góp phần thúc đẩy sự hiểu biết, đồng cảm giữa người Việt với nhau mà không bị cản trở bởi khoảng cách địa lý hay hệ tư tưởng đối lập”6.
Như vậy, có thể nói hành trình 50 năm (1975-2025) văn học dịch Việt Nam đến Mĩ có sự đóng góp tâm huyết, tài năng của nhiều dịch giả Việt Nam tại Mĩ, cùng các học giả người Việt Nam ở nước ngoài khác như nhà nghiên cứu - dịch giả Dương Đình Khuê, Phan Huy Đường; nhà văn - dịch giả Nguyễn Phan Quế Mai có ấn bản dịch xuất bản tại Mĩ. Các thế hệ trí thức, người con gốc Việt này đã đưa văn học Việt tới quốc gia từng là “phía bên kia chiến tuyến” bằng con đường dịch thuật để độc giả Mĩ, các thế hệ người Mĩ gốc Việt hiểu về Việt Nam, văn hóa - văn học Việt qua các sáng tác văn chương.
2. Vai trò kết nối giao lưu văn học - văn hóa, dịch thuật, học thuật của các thế hệ dịch giả người Việt ở Mĩ
Trong phiên dịch văn học, dịch giả - người chuyển ngữ chính là người lựa chọn tác phẩm, lựa chọn ngôn từ, chiến lược dịch để chuyển tải được cả nội dung và nghệ thuật của tác phẩm gốc với yêu cầu “có kiến thức vững vàng về ngôn ngữ và văn hóa của văn bản nguồn và văn bản đích”, “phải hiểu biết về nghiên cứu văn học, lịch sử và đất nước”7. Yêu cầu này dẫn đến sự nối kết tất yếu quá trình dịch và giới thiệu văn học Việt Nam ở Mĩ giữa các dịch giả người Mĩ quan tâm đến văn học Việt Nam, có ưu thế hơn về ngôn ngữ đích, đặc trưng thể loại của văn học viết bằng tiếng Anh, văn học Mĩ với các dịch giả người gốc Việt gắn bó, am hiểu văn học Việt, có nền tảng ngôn ngữ Việt - Anh. Bản dịch của dịch giả đến với công chúng qua hoạt động xuất bản. Trong quá trình đó, dịch giả còn đóng vai trò cầu nối giữa tác giả, các học giả với nhà xuất bản để tạo nên ấn bản dịch hoàn thiện nhất, hay nhất.
Các ấn bản dịch xuất bản ở Mĩ dưới vai trò chủ trì của Trung tâm William Joiner giai đoạn từ những năm 80 thế kỷ XX đến những năm 2000 thể hiện rất rõ tính kết nối giữa các thế hệ dịch giả, nhà văn của hai quốc gia. Với mục đích chính là giao lưu văn hóa qua giao lưu văn học, dịch thuật văn học góp phần thúc đẩy tiến trình hàn gắn vết thương chiến tranh, bình thường hóa quan hệ, Trung tâm William Joiner, đứng đầu là Giám đốc Kevin Bowen, đã tập hợp, kết nối các nhà văn, nhà thơ Mĩ như Larry Heinemann, Laydy Borton, Martha Collins, Wayne Karlin…, có tác giả từng là cựu binh trong cuộc chiến ở Việt Nam như Kevin Bowen, Bruce Weigl, Tim O’Brien… với các nhà văn, nhà thơ - cựu binh Việt Nam qua Hội Nhà văn Việt Nam như Lê Lựu, Bảo Ninh, Lê Minh Khuê, Nguyễn Quang Sáng, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Quang Thiều….; các dịch giả người Mĩ gốc Việt như Nguyễn Bá Chung, Thanh T. Nguyen… cùng chung tay đưa các tác phẩm văn học Việt đến với giới văn nghệ sĩ, học giả Mĩ và độc giả Mĩ qua bản dịch tiếng Anh. Các sợi dây nối kết trong quá trình dịch thuật được hình thành càng ngày càng nhiều và bền chặt, mang ý nghĩa sâu sắc. Như nhà thơ Martha Collins, dịch giả tập thơ Green Rice (Cốm non) của Lâm Thị Mỹ Dạ cùng nhà thơ gốc Việt Đinh Thúy, chia sẻ: “Sự cộng tác dịch cuốn sách này mang nhiều ý nghĩa thú vị: tập thơ do một phụ nữ Việt Nam bắt đầu sáng tác trong cuộc chiến tranh Việt Nam và nó được dịch sang tiếng Anh bởi một nhà văn nữ Hoa Kỳ gốc Việt, người rời khỏi Việt Nam khi chiến tranh kết thúc và một nhà thơ Hoa Kỳ từng phản đối cuộc chiến tranh ấy khi còn biết rất ít về nơi cuộc chiến nổ ra”8. Với nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, quá trình dịch và xuất bản năm mươi sáu bài thơ trong Green Rice “là một quá trình chia cùng ngọt, đau”9. Trường hợp đặc biệt cho thấy tính kết nối của dịch giả chính là ấn phẩm Nhật ký Đặng Thùy Trâm (Last Night I Dreamed of Peace: The Diary of Dang Thuy Tram) do dịch giả Andrew X. Phạm chuyển ngữ. Ông là nhà văn người Mĩ gốc Việt thuộc thế hệ di dân cùng gia đình sau năm 1975. Ông tâm sự rằng, mình sẽ không thể hoàn thành bản dịch nếu không có sự giúp đỡ, đồng hành của cha – cựu nhân viên của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Suốt năm tháng, bằng vốn sống, kiến thức về ngôn ngữ, văn hóa Việt thời của Đặng Thùy Trâm – “yếu tố quan trọng đối với bản dịch cuốn nhật ký”, cha ông đã song hành cùng ông hoàn thiện bản thảo dịch10. Hai thế hệ người Mĩ gốc Việt đã cùng đọc, cảm và dịch những trang nhật ký “có lửa” của một người chiến sĩ cộng sản đã hi sinh trong cuộc chiến trong hành trình dịch thật đặc biệt, biến ấn bản dịch Nhật ký Đặng Thùy Trâm thành hiện tượng dịch thuật gây tiếng vang lớn ở Mĩ năm 2007.
Giai đoạn từ năm 2010 đến nay ghi nhận nỗ lực đưa văn học Việt Nam ra thế giới bằng hoạt động giao lưu học thuật qua dịch, giới thiệu văn học Việt Nam ở Mĩ của thế hệ dịch giả - học giả - nhà văn ở nước ngoài. Họ là người chủ trì dịch thuật, chủ động kết nối với các nhà văn Việt Nam (cả nhà văn nước ngoài); với học giả trong và ngoài nước để lựa chọn tác phẩm văn học đặc sắc, nâng tầm học thuật cho các ấn bản dịch, tạo thuận lợi về mặt thông tin cho độc giả trong quá trình tiếp nhận tác phẩm dịch thông qua các bài giới thiệu, nghiên cứu, phê bình của giới học giả có chuyên môn sâu; với các nhà xuất bản ở Mĩ để lựa chọn nhà xuất bản phù hợp với ấn bản dịch. Học giả Hà Mạnh Quân, dịch giả tiêu biểu cho thế hệ dịch giả người Việt ở Mĩ thứ hai, chính là minh chứng rõ nhất cho vai trò kết nối này. Năm 2020, ông kết hợp với học giả Joseph Babcock, Đại học San Diego, dịch và xuất bản tập truyện Other Moons: Vietnamese Short Stories of the American War and Its Aftermath. Cuốn Longings (Bến đợi, 2024) có sự tham gia của dịch giả Võ Hương Quỳnh, Đại học Hawaii, được học giả Huỳnh Như Phương viết lời giới thiệu. Cuốn Light Out and Modern Vietnamese Stories, 1930-1954 (2024) là sản phẩm kết hợp dịch thuật của dịch giả Hà Mạnh Quân và nhà thơ người Mĩ đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh Paul Christiansen, với phần bài luận nghiên cứu chuyên sâu của nhà văn - nhà phê bình Ngô Văn Giá.
Điểm qua một số trường hợp tiêu biểu thể hiện vai trò nối kết của các thế hệ dịch giả người Việt ở Mĩ từ quá trình dịch và xuất bản văn học Việt Nam tại Mĩ suốt năm mươi năm qua kể trên một lần nữa cho thấy vai trò quan trọng của đội ngũ dịch giả trong hoạt động quảng bá văn học Việt ở Mĩ nói riêng và trên thế giới nói chung.
3. Vai trò giới thiệu, quảng bá di sản văn học dân tộc tại Mĩ của các thế hệ dịch giả người Việt ở Mĩ qua các tác phẩm dịch
Gần bốn mươi cuốn sách dịch văn học Việt Nam được in và phát hành tại Mĩ do các dịch giả người Việt ở Mĩ chủ biên dịch thuật hoặc tham gia dịch đã vẽ nên diện mạo văn học Việt Nam từ văn học dân gian đến văn học cổ điển, hiện đại và đương đại, với đa dạng thể loại từ thơ, truyện thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết đến ký (nhật ký). Bên cạnh số lượng lớn các tác phẩm có chủ đề chiến tranh, thời hậu chiến, mối quan tâm đặc biệt của độc giả Mĩ bắt nguồn từ mối quan hệ lịch sử giữa hai nước với các sứ mệnh giúp “nhìn lại lịch sử với thông điệp hòa bình về hòa bình”11, “hàn gắn và kết nối qua hoạt động giao lưu, dịch thuật văn học”12, “quảng bá các giá trị văn học và văn hóa”13; các tác gia lớn như Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Tô Hoài, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Minh Châu, Lê Minh Khuê, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Lê Lựu, Nguyễn Khải, Tạ Duy Anh… với các tác phẩm đặc sắc làm nên di sản văn học dân tộc đều đã có mặt ở Mĩ. Nói cách khác, sự lựa chọn đa dạng các tác phẩm từ cổ điển đến hiện đại của dịch giả đã cung cấp cho độc giả Mĩ cái nhìn tổng quan và đa diện về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam từ quá khứ đến hiện tại, từ truyền thống đến hiện đại qua lăng kính văn chương.
Với vai trò của độc giả, dịch giả là người đọc và tiếp nhận tác phẩm gốc, tìm được ý nghĩa của tác phẩm đối với chính mình và hướng đến độc giả của bản dịch để chọn dịch. Chính việc lựa chọn tác giả này mà không phải tác giả khác, tác phẩm này mà không phải tác phẩm kia; sự đánh giá, cảm nhận ban đầu của họ góp phần đưa tác phẩm dịch đến lớp độc giả mới, định hướng cho độc giả tiếp nhận ý nghĩa và vẻ đẹp của tác phẩm qua ngôn từ và hình tượng nghệ thuật về lịch sử, văn hóa, con người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử. Dịch giả Nguyễn Bá Chung sau quãng thời gian dài đọc và dịch nhiều tác phẩm của văn học hiện đại Việt Nam đã phát biểu: “Đọc và nghiên cứu thơ văn hiện đại Việt Nam đã giúp tôi hiểu thêm cái đa dạng của con người Việt Nam, của văn hóa Việt Nam – một nền văn hóa đang trải qua những biến đổi khốc liệt của thời đại. Nó làm tôi cảm nghiệm một cách sâu sắc những khó khăn khổng lồ xã hội Việt đang phải đối đầu sau gần một thế kỷ chiến tranh tàn khốc và liên tục […]. Tôi vẫn tin tưởng là văn hóa Việt, cái nôi đã giữ cho Việt độc lập sau hai ngàn năm, sẽ đủ sức khắc phục tất cả”14. Nhà văn Nguyễn Đỗ trong buổi giới thiệu cuốn sách dịch thơ Nguyễn Trãi Beyond the Court Gate (Rời xa triều đình) tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội ngày 20.5.2011 thì chia sẻ kỷ niệm về mùa hè năm 2003: tại Mĩ, dịch giả và nhà văn Hoàng Hưng đã đọc thơ Nguyễn Trãi và xúc động về “tính triết lý, tầm vóc thời đại trong thơ Nguyễn Trãi”; ông khẳng định thơ Nguyễn Trãi với tầm vóc đó “đã dành được sự quan tâm của rất nhiều người trong đó có không ít học giả, nhà thơ, nhà văn xứ Mĩ và các nước sử dụng tiếng Anh”15. Sự quan tâm, phần nào đó đồng điệu được với tác phẩm và tác giả của các đối tượng độc giả khác nhau ở Mĩ chính là thước đo cho sự thành công của tác phẩm dịch và vai trò giới thiệu, quảng bá của đội ngũ dịch giả, trong đó có các thế hệ dịch giả người Việt.
4. Kết luận
Dưới góc nhìn tính đa vai của dịch giả trong tiếp nhận văn học, có thể thấy các thế hệ dịch giả - học giả người Việt ở Mĩ, người Mĩ gốc Việt đóng góp vai trò quan trọng trong việc giới thiệu, quảng bá văn học Việt Nam tại Mĩ thông qua hoạt động dịch thuật. Xuất phát từ tình yêu, mối quan tâm với tiếng Việt, di sản văn học Việt; ẩn ức về chiến tranh, sự thôi thúc tìm hiểu, nhìn về quê hương qua văn học; mong muốn giới thiệu Việt Nam, văn hóa Việt tới độc giả Mĩ, đặc biệt là các thế hệ người Mĩ gốc Việt thứ hai, thứ ba; từng bước đưa văn học Việt Nam ra thế giới; các thế hệ dịch giả đã và đang làm đồ sộ thêm bộ phận văn học dịch Việt Nam ở Mĩ.
Trong bối cảnh nghiên cứu về Việt Nam ở Mĩ giai đoạn 1975-1995 từ trầm lắng đến dần sôi động trở lại, mảng dịch thuật văn học mang thông điệp “hòa bình và hòa giải” chính là sự khởi đầu kéo hai dân tộc lại gần nhau, tìm hiểu về nhau bắt đầu từ nỗi đau của số phận con người trong và sau chiến tranh, giá trị truyền thống của dân tộc Việt qua văn học. Vai trò đó gắn với đóng góp không nhỏ của các thế hệ dịch giả ở Mĩ. Vì thế, điểm đặc biệt của lĩnh vực dịch, nghiên cứu văn học Việt Nam nói riêng và ngành Việt Nam học nói chung ở Mĩ so với các quốc gia khác chính là sự tham gia và đóng góp ngày càng nhiều của các thế hệ dịch giả - học giả người Việt sinh sống ở Mĩ trong mối liên hệ tương hỗ với các dịch giả - học giả, nhà Việt Nam học người Mĩ. Trước xu thế hội nhập quốc tế của văn học - văn hóa hiện nay, việc tăng cường sự giao lưu, kết nối giữa dịch giả - học giả - nhà văn Việt Nam ở Mĩ cũng như các quốc gia khác với các nhà văn - học giả - dịch giả trong nước nhằm đẩy mạnh công tác dịch thuật, quảng bá văn học Việt Nam tới cộng đồng người Việt ở nước ngoài và ra thế giới là tất yếu và cần đẩy mạnh hơn nữa.
Chú thích:
1 Đỗ Văn Hiểu (2012): “Mĩ học tiếp nhận với dịch thuật và giảng dạy văn học dịch”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Cán bộ trẻ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội lần thứ 5, NXB. Đại học Sư phạm; https:// tapchinguvan.wordpress.com/2012/07/03/mi-hoctiep-nhan-voi-dich-thuat-va-giang-day-van-hocdich/, truy cập ngày 26.2.2025.
2 Nguyễn Thị Mai Chanh (2023): “Dịch thuật và vấn đề tiếp nhận văn học nước ngoài”, Tạp chí Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, số 10, tr. 12-21; https://lyluanphebinh.vn/tin-tuc/nghien-cuu-traodoi/2412/dich-thuat-va-van-de-tiep-nhan-van-hocnuoc-ngoai, truy cập ngày 26.2.2025.
3 Journal of Vietnamese Studies (2008): “Interview: Huỳnh Sanh Thông”, Journal of Vietnamese Studies, 3 (1), 220-239.
4, 14 Nguyễn Bá Chung (2007): “Trung tâm Joiner: hai mươi năm nhìn lại”, Tạp chí Sông Hương; http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c111/ n866/Trung-tam-Joiner-hai-muoi-nam-nhin-lai. html, truy cập ngày 22.3.2024.
5, 6 Hồ Lam (15.2.2025), “Bến không chồng” (bản dịch tiếng Anh sắp ra mắt ở Mĩ), Tuổi trẻ Online; https://tuoitre.vn/ben-khong-chong-ban-dichtieng-anh-sap-ra-mat-o-my20250215112147478.htm#:~:text=V%C3%AC%20v%E1%BA%ADy%2C%2028%20t%C3%A1c%20 ph%E1%BA%A9m,hi%E1%BB%87n%20%C4%91ang%20s%E1%BB%91ng%20t%E1%BA%A1i%20M%E1%BB%B9,truy cập ngày 15.3.2025.
7 Lê Hùng Tiến & Phạm Thị Thủy (2018): “Dịch văn học và phê bình đánh giá bản dịch văn học ở Việt Nam”, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 1 (268)-2018, tr. 6.
8 M. Collins (2.4.2005): “Tôi đã dịch tập thơ Cốm non của Lâm Thị Mỹ Dạ như thế nào?” (Ngô Tự Lập trích dịch), https://nhandan.vn/toi-da-dichtap-tho-com-non-cua-lam-thi-my-da-nhu-the-naopost519925.html, truy cập ngày 15.3.2025.
9 Lưu Hà (thực hiện, 28.4.2005): “Tôi muốn độc giả thế giới hiểu tâm hồn người Việt”, Báo điện tử VnExpress, https://vnexpress.net/toi-muon-doc-giathe-gioi-hieu-tam-hon-nguoi-viet-1883838.html, truy cập ngày 16.3.2025.
10 Đặng Thùy Trâm (2007), Last Night I Dreamed of Peace: The Diary of Dang Thuy Tram (Andrew X. Pham dịch & Frances Fitzgerald giới thiệu), Harmony Books, p. 21.
11, 12, 13 Đoàn Lê Giang, Nguyễn Thị Thùy Dương (2024): “Sứ mệnh hòa bình và hòa giải: văn học Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến được dịch ở Hoa Kỳ”, Tạp chí Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, số 4, tr. 94, 96, 97.
15 Hoàng Phùng (6.2011): “Rời xa triều đình” (được dịch sang tiếng Anh), Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số 244, tr. 58.