Nền văn hóa, nghệ thuật trên lãnh thổ Việt Nam đã hình thành từ di chỉ Sơ Vi thời nguyên thủy cho đến thời sơ sử (Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn). Các nhà sử học xem thời kỳ sơ sử là quan trọng vì đây là thời kỳ hình thành xã hội, có bước nhảy vọt lớn ở xã hội lúc bấy giờ là kỹ thuật luyện đồng làm công cụ sản xuất bên cạnh các đồ vật bằng đá, gỗ, tre, nứa… Đặc biệt là di vật trống đồng đã để lại cho hậu thế nhiều thông điệp văn hóa sâu sắc mà trong đó hình ảnh kiến trúc nhà sàn mái uốn cong là bài học về kiến trúc thời sơ sử đầu tiên: “Phải chăng ngôi nhà sàn mái cong này là bóng dáng xa xôi nào đó của ngôi đình làng mà chúng ta thấy được phát triển rầm rộ vào các thế kỷ XVI, XVII và ngày nay dấu tích còn hiện diện trên đất nước ta”1. Cùng chung vùng văn minh lúa nước với khu vực, chịu nhiều ảnh hưởng từ phương Bắc và phương Tây nhưng nền văn hiến ấy vẫn giữ vững bởi sự kiên cường tự chủ của dòng máu dân tộc. Tính tự chủ đã thể hiện trong từng tấc đất, nếp nhà được linh hoạt hình thành theo từng vùng đất. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nên kiến trúc truyền thống Việt Nam đã định hình những giá trị đặc trưng nhất định. Vì thế, từ xưa tổ tiên ta đã khéo chọn vùng sinh sống, khéo chọn đất dựng làng, xây nên ngôi nhà hài hòa với tự nhiên, phù hợp quy luật bản địa. Từ đó mới có những kiến trúc xuất hiện như nhà sàn của người Mường vùng núi Tây Bắc, nhà rông miền rừng núi Tây Nguyên, nhà trệt nhiều gian ở đồng bằng Nam Bộ…, chúng có cùng nguyên lý trong hệ kết cấu khung nhà. Để tạo nên nét độc đáo từng vùng miền, người Việt Nam (người Việt) tiếp tục bổ sung nhiều hoa văn họa tiết trang trí khác nhau vào kiến trúc làm nên nét riêng cho mỗi vùng miền, tạo nên giá trị bản sắc: “Người Việt không đi theo hướng nhận thức để đối phó với tự nhiên, chế ngự, làm chủ nó. Họ tìm cách thích ứng với tự nhiên, lựa chiều mà sống theo lối phải chăng, hài hòa, tôn trọng tự nhiên”2.
Dòng chảy nghệ thuật kiến trúc phát triển đến thời kỳ phong kiến dân tộc độc lập đã kiến tạo nên những công trình trở thành di sản cho đến nay. Ở thời kỳ này vẫn chưa có tên tác giả cho từng công trình được thiết kế và xây cất, tuy rằng trên các công trình còn lưu lại dấu ấn của bàn tay người thợ. Người Việt bấy giờ trực tiếp truyền nghề ngay trên công trường theo kiểu truyền miệng và kinh nghiệm. “Cây thước tầm” là công cụ dùng đo kích thước khi xây dựng, đơn vị đo lấy từ gang tay hay cánh tay của chính chủ nhà. “Sử sách Việt Nam đã ghi danh nhiều thợ giỏi như Vũ Như Tô được giao xây Cửu trùng đài dưới thời nhà Lê (đầu thế kỷ thứ XVI) hoặc như thái giám Nguyễn An (còn có tên A Lưu) từng được người Trung Hoa vinh danh bởi những đóng góp nổi tiếng của ông trong xây Cố cung Bắc Kinh”3.
Giữa thế kỷ XIX, đất nước lại rơi vào cảnh chiến tranh, chìm trong khói lửa và chính sách đô hộ của phương Tây. Nền kiến trúc truyền thống của dân tộc bị hạn chế phát triển. Những con người sáng tạo nghệ thuật kiến trúc không còn tự chủ. Bắt đầu xuất hiện những hình thức kiến trúc mới (phong cách châu Âu) trên khắp nước ta, kiến trúc sư Pháp cũng vào nước ta ngày càng nhiều, làm cho xã hội bước vào thời kỳ giao lưu văn hóa với ngoại bang một cách thụ động. Trong bối cảnh đó, người Việt vẫn âm thầm nuôi dưỡng dòng máu nhiệt huyết dân tộc, kế thừa tinh thần truyền thống kết hợp với kiến thức mới học hỏi từ phương Tây để kiến tạo nên những công trình kiến trúc đầu tiên do người Việt thực hiện: “Vào khoảng 1862 đến 1864, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam một kiến trúc sư người Việt là Nguyễn Trường Tộ đã thiết kế, giám sát xây dựng thành công dòng Thánh Phao Lô Sài Gòn”4. Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828 tại Nghệ An. Năm 1858, Giám mục Gauthier đưa ông sang Pháp; năm 1861, ông về nước, ghé Sài Gòn làm việc một thời gian rồi sau đó về lại quê nhà. Ông đã có nhiều tư tưởng canh tân đất nước nhưng không được thực hiện dưới thời vua Tự Đức.
Từ ấy, đất nước đã sinh ra các thế hệ tiếp tục kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc. Họ không có quyền chọn sinh ra ở đâu nhưng họ có quyền chọn nơi mình trưởng thành, học tập kiến thức để thay đổi số phận và vận mệnh dân tộc. Đó là những con người gốc Việt đã ra đi tìm tri thức bằng nhiều cách. Tựu chung, họ là những người hướng về lý tưởng mới, có khả năng hòa nhập nhanh với xã hội đương thời đầy biến động khi đất nước còn trong chiến tranh nhưng đã âm thầm học tập nơi xứ người và quay về cống hiến bằng bàn tay khối óc sáng tạo theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, “sự thiêng liêng ấy tạo nên tình cảm nhớ về cội nguồn của người Việt khi phải tha hương góc bể chân trời”5 . Bài viết này giới thiệu hai nhân vật tiêu biểu rời Việt Nam sang Pháp du học, định cư, làm việc rồi lại trở về góp phần xây dựng quê hương khoảng giữa thế kỷ XX.
1. Kiến trúc sư Bùi Quang Hanh
Bùi Quang Hanh sinh năm 1913 tại làng Tân An Đông, tổng An Mỹ, quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc. Sau thế chiến thứ nhất, ông đã lên tàu viễn dương để bắt đầu cuộc sống mới ở Pháp. Năm 1934, Bùi Quang Hanh trở thành sinh viên kiến trúc Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Paris. Năm 1942, ông tốt nghiệp kiến trúc sư, thuộc thế hệ kiến trúc sư người Việt thứ hai tốt nghiệp tại Pháp (những người Việt đầu tiên tốt nghiệp vào giữa thập niên 1930 là Nguyễn Khắc Schéou, Lữ Văn Nhiều và Nguyễn Duy Đức). Khoảng năm 1950, Sài Gòn là nơi quy tụ rất nhiều kiến trúc sư người Pháp đã thành danh và những kiến trúc sư người Việt tốt nghiệp từ Trường Mỹ thuật Đông Dương (Hà Nội), Trường Kiến trúc Đà Lạt cùng một số kiến trúc sư khác từ Paris trở về. Trong thời gian này, Bùi Quang Hanh trở về Việt Nam mở văn phòng hành nghề kiến trúc sư tại đường Général Marchand. Ông trở thành Giáo sư kiến trúc người Việt thứ hai tại Trường Cao đẳng Kiến trúc, sau một người trẻ tuổi từ Paris sớm trở về là Giáo sư Trần Văn Tải. Gia nhập Ban Giảng huấn Trường Cao đẳng Kiến trúc cùng các Giáo sư danh tiếng như Phạm Văn Thâng, Nguyễn Quang Nhạc, Huỳnh Kim Mãng, Lê Văn Lắm, Tô Công Văn, Trần Phi Hùng.
Từ tháng 10 năm 1961, kiến trúc sư Bùi Quang Hanh là người Việt duy nhất đại diện cho 5 kiến trúc sư Việt Nam (ông và Ngô Viết Thụ, Trần Văn Tải, Lê Văn Lắm, Nguyễn Mỹ Lộc) sang Mĩ làm việc với Ban Kiến trúc sư Hoa Kỳ (Smith, Hinchman and Grylls Associates) về dự án Trường Y khoa đại học đường (này là Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh) đến tháng 4 năm 1962 thì kết thúc.
Đặc biệt hơn nữa là vào năm 1955, tại Sài Gòn có phát động một cuộc thi thiết lập đồ án Trung tâm Văn hóa tại khu đất Khám Lớn cũ (nay là vị trí Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh). Cuộc thi không có giải Nhất, đồ án của kiến trúc sư Bùi Quang Hanh đoạt giải Ba. Mãi đến năm 1965, dự án Thư viện Quốc gia mới được chính thức khởi động lại. Yêu cầu của chính quyền là phải giao cho kiến trúc sư có danh tiếng, hội tụ đủ tất cả những điều cần có để thực hiện một đồ án kiến trúc có tầm quan trọng đối với nhà nước và nhân dân, vừa phải đạt công năng chuẩn phục vụ người đọc vừa phải mang dấu ấn bản sắc dân tộc. Người kiến trúc sư nổi danh đó là Bùi Quang Hanh và có sự tham gia của Trương Văn Long (sau này ông Long cùng Trần Quang Nhựt Huân đồng thiết kế công trình Trường Kiến trúc Sài Gòn). Thư viện Quốc gia đã được thiết kế bởi nhóm kiến trúc sư Bùi Quang Hanh, Nguyễn Hữu Thiện, cố vấn kỹ thuật Lê Văn Lắm, khởi công xây năm 1968 và hoàn thành vào năm 1971. Cần nói thêm là kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện (tốt nghiệp kiến trúc sư Trường Mỹ Thuật Đông Dương) là tác giả đoạt giải Nhì cuộc thi thiết lập đồ án Trung tâm Văn hóa, cùng lúc với Bùi Quang Hanh (đoạt giải Ba). Công trình Thư viện Quốc gia đã thể hiện đúng với yêu cầu chủ trương của đất nước lúc đó là xây dựng và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc, có tính cách tân nhưng phải phù hợp với văn minh thế giới. Vì thế, phần mặt tiền kiến trúc đã ứng dụng các motif mĩ thuật truyền thống dân tộc cách điệu thành ngôn ngữ hiện đại trang trí kiến trúc. Đó là hoa văn hình học chữ “vạn”, chữ “thọ” kết hợp với phù điêu đầu rồng, phù điêu đầu lân dạng bố cục hổ phù. Bao quanh khối đọc sách là lớp kết cấu dạng lưới bằng bê tông có chức năng che nắng, giảm bức xạ nhiệt cho kiến trúc gọi là lam (Brise - soleil), trở thành giải pháp chống nắng ở vùng khí hậu nóng, có nắng nhiều. Phần hàng cột mặt trước khối đọc soi bóng xuống mặt hồ nước là sự kế thừa kiểu nhà sàn truyền thống kết hợp phong cách kiến trúc có hình khối hiện đại đã tạo nên công trình kiến trúc thư viện hài hòa với thiên nhiên, độc đáo về giải pháp kết hợp dân tộc tính và phong cách hiện đại.
2. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ
Ngô Viết Thụ sinh ngày 17.9.1926 tại làng Lang Xá, xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế; là sinh viên Trường Kiến trúc Đà Lạt trực thuộc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương từ năm 1944 đến 1949; từ năm 1950 đến 1955, học Trường Mỹ thuật Quốc gia Paris, Pháp, đoạt giải Paul Bigot của Viện Hàn lâm. Ông tốt nghiệp kiến trúc sư loại Xuất sắc, được cấp học bổng ba năm nghiên cứu và sáng tác ở lâu đài Medicis của Viện Hàn Lâm Pháp tại Rome. Đến năm 1960, ông về nước, sáng tác nhiều công trình quy hoạch, kiến trúc nổi tiếng ở Sài Gòn, Huế, Đà Lạt. Năm 1962, ông được phong Viện sĩ danh dự Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (HFAIA). Sau năm 1975, ông là thành viên Hội đồng Tư vấn kiến trúc của Thủ tướng Chính phủ; là cố vấn của Ban Chấp hành Hội Kiến trúc sư Việt Nam.
Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ là người Việt Nam duy nhất đoạt giải thưởng kiến trúc thế giới. Đồ án dự thi thiết kế công trình Ngôi thánh đường trên Địa Trung Hải có sức chứa 40 ngàn tín đồ, được vẽ theo trường phái kiến trúc hiện đại (ban đầu ông vẽ theo phong cách cổ điển, sau đó hủy bỏ và vẽ lại theo ngôn ngữ kiến trúc mới trong vòng một tuần). Đồ án được vào vòng chung kết thuộc nhóm 10 tác phẩm xuất sắc nhất, cuối cùng tác phẩm của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đoạt Giải thưởng Khôi nguyên La Mã (Premier Grand Prix de Roma). Đây là giải thưởng có truyền thống lâu đời từ năm 1663 ở Pháp dưới thời vua Louis XIV dành cho những tài năng trẻ trong lĩnh vực âm nhạc, hội họa, điêu khắc và kiến trúc.
Về nước năm 1960, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ tổ chức ngay triển lãm đồ án chỉnh trang Sài Gòn - Chợ Lớn tại tòa Đô Chánh Sài Gòn. Đồ án đã được các cấp chính quyền ủng hộ và nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh về tư tưởng và tầm nhìn của dự án. Năm 1962, dinh Norodom bị đánh bom, không khôi phục được, chính quyền Sài Gòn tổ chức cuộc thi thiết kế mới. Phương án của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã được chọn khởi công xây dựng vào ngày 1.7.1962. Dinh Độc Lập thiết kế theo phong cách kiến trúc hiện đại phương Tây nhưng có sự kết hợp nhuần nhuyễn với tinh thần Á Đông, đặc biệt là các motif trang trí truyền thống Việt Nam (tứ linh, hoa văn hình học chữ “vạn”, chữ “công”, vạch ngắn song song, hoa văn xoắn, chiết tự…). Từ mặt bằng đến mặt đứng kiến trúc là những ẩn ý theo hán tự có ý nghĩa triết học phương Đông một cách thâm thúy, thể hiện điều tốt lành, hưng thịnh.
Những công trình đầu tiên ở Huế bởi kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế và xây dựng là Viện Đại học Huế (1961-1963); Khách sạn Hương Giang I (1962); Nhà thờ Phủ Cam (1963). Công trình được nhiều người biết đến ở Đà Lạt là Trung tâm Nguyên tử Đà Lạt (1962-1965). Trong năm 1962, kiến trúc Ngô Viết Thụ còn thiết kế nhiều công trình khác như: Nhà thờ Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; Làng Đại học Thủ Đức; Trụ sở Hàng không Việt Nam (1972), Trường Đại học Nông Lâm Súc Thủ Đức (1975).
Có thể nói, công trình Dinh Độc Lập đánh dấu sự khởi đầu cho phong cách kiến trúc hiện đại mang dấu ấn riêng của Ngô Viết Thụ. Ông đã cho thấy tài năng thiết kế kiến trúc của mình khi kết hợp yếu tố mĩ thuật và kỹ thuật luôn mang tính đổi mới và sáng tạo, ẩn chứa bản sắc và triết lý sâu sắc. Điểm độc đáo của kiến trúc Dinh Độc Lập chính là hệ lam mặt đứng được cách điệu từ hình ảnh cây tre Việt Nam. Hình khối từng lóng tre cách điệu theo khối hộp xoay mặt theo trục 45 độ tạo thành chiếc lưới bẫy gió khổng lồ và khuếch tán được ánh sáng vào bên trong tòa nhà. Những thanh tre bằng bê tông phủ đá mái này có dáng khuyết ở đoạn giữa nên chúng phối hợp đứng kế nhau tạo thành khoảng trống hình chiếc lá. Khi nắng chiếu vào khoảng trống đó để lại từng vệt nắng hình lá trên sàn hành lang bên trong nội thất Dinh Độc Lập. Cây tre là biểu tượng cho hồn cốt người Việt, mang trong mình nhiều thông điệp và triết lý nhân sinh nên Ngô Viết Thụ đã cảm xúc lấy hình ảnh tre làm biểu tượng trang trí cho mặt tiền công trình.
Ngô Viết Thụ là một người đa tài, không chỉ vang danh với lĩnh vực kiến trúc mà còn sáng tác nhiều tranh như Thần tốc, Hội chợ, Bến Thuyền và bộ tranh Sơn Hà cẩm tú (gồm 7 bức, mỗi bức dài 2m, rộng 1m, được trưng bày trong Dinh Độc Lập). Ông tổ chức nhiều triển lãm như triển lãm tại: Tòa Đô Chính (1960), công viên Tao Đàn (1963), Viện Kiến trúc ở Manila, Philippines (1963), Viện Smithsonian và một số thành phố khác ở châu Âu, Mĩ… Ông sáng tác điêu khắc, có một tác phẩm điêu khắc kim loại đặt trước Toà Đô Chánh Sài Gòn, nay không còn. Ông cũng chơi thành thạo nhạc cụ dân tộc như đàn nguyệt, đàn tranh, đàn kìm, sáo và cũng là một nhà thơ.
3. Đi xa để trở về xây dựng quê hương
Hiện nay cộng đồng người Việt ở nước ngoài có khoảng 6 triệu người đang sống và làm việc ở hàng trăm quốc gia. Chính phủ ta đã xem những người gốc Việt ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Ngược dòng lịch sử, khoảng năm 1946, Bác Hồ đã kêu gọi được các trí thức kiều bào (Trần Đại Nghĩa, Võ Quý Huân, Võ Đình Quỳnh) cùng Bác về Việt Nam để góp phần xây dựng đất nước còn trong chiến tranh. Ngày nay, những thông tin hay hiện vật kể về câu chuyện của Bác với những trí thức kiều bào này vẫn còn lưu giữ trong Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội. Đó là một trong hàng ngàn, hàng triệu câu chuyện, minh chứng cho con người gốc Việt trên khắp thế giới luôn sẵn sàng quay về khi đất nước gọi. Họ ra đi với rất nhiều lý do nhưng trở về thì chung một lý tưởng mong muốn xây dựng quê hương Tổ quốc. Chuyến tàu hồi hương vào mùa thu năm 1946 ấy trở thành niềm tin và lý tưởng cho những kiều bào xa quê có tinh thần hướng về đất nước. Trong Hồ Chí Minh toàn tập, Bác nói: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta”6. Bài học này phải chăng có một sức mạnh lan tỏa khắp cộng đồng người Việt ở nước ngoài, để sau đó có hàng loạt trí thức đã hồi hương sau khi học tập tri thức tiến bộ ở quốc tế. Đó là Bùi Quang Hanh – một người Việt trí thức, là kiến trúc sư, đô thị gia tốt nghiệp 2 văn bằng danh giá tại Pháp. Ông cũng từng sang Mĩ hành nghề một thời gian, dù con đường sự nghiệp ở những quốc gia phát triển rất tốt đẹp nhưng đầu thập niên 1950, ông quyết định trở về Việt Nam. Ông đã góp phần xây dựng nền kiến trúc non trẻ lúc bấy giờ tại Sài Gòn, góp trí tuệ giảng dạy kiến trúc cho thế hệ sinh viên kiến trúc tại Trường Kiến trúc Sài Gòn, đã kiến tạo nên công trình thư viện có giá trị truyền thống cho nhân dân Sài Gòn còn tồn tại đến ngày nay mà vẫn không phai giá trị. Đó là Ngô Viết Thụ – người nhận được bài thơ và mấy củ khoai từ vườn nhà của cha gửi từ Huế sang Rome, khuyên ông trở về cống hiến và kiến trúc sư đã hồi âm bằng bài thơ Con gáy hóa long, ngụ ý là nay ông đã thành tài và sẽ trở về góp sức xây dựng quê hương. Cơ duyên với người kiến trúc sư tài ba đoạt Khôi nguyên kiến trúc La Mã khi kiến tạo thành công tác phẩm kiến trúc Dinh Độc Lập đạt đỉnh cao về nghệ thuật tạo hình kiến trúc hiện đại đan cài những giá trị mĩ thuật truyền thống trang trí trên nó.
Những tác phẩm kiến trúc của kiến trúc sư Bùi Quang Hanh, Ngô Viết Thụ đã được xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam còn nguyên giá trị thẩm mĩ và tinh thần dân tộc qua nhiều giai đoạn lịch sử. Tác phẩm nghệ thuật cũng phản ảnh được tư tưởng nghệ sĩ sáng tác ra nó. Nghệ sĩ – kiến trúc sư cũng có vai trò và sứ mệnh trong mỗi tác phẩm, từ đó gieo vào tác phẩm thông điệp bản sắc dân tộc trong khi xung quanh mọi thứ đang diễn ra theo trào lưu ngoại lai. Bản sắc dân tộc đó ngàn đời, luôn luôn là dòng chảy trong tâm thức mỗi người Việt, nó đã kết nối đồng bào thành một mạch nguồn văn hóa không gì thay đổi được. Chỉ khi văn hóa dân tộc đối diện với văn hóa ngoại lai thì tinh thần bản sắc sẽ trỗi dậy, hình thành hiện tượng giao lưu và tiếp biến văn hóa, cuối cùng là xuất hiện yếu tố bản địa hóa – chọn lọc cái hay kết hợp với dân tộc tính tạo ra yếu tố mới (cách tân theo trào lưu mới nhưng đan cài giá trị truyền thống). Tinh thần ấy như là một nguyên tắc khi ứng xử với văn hóa khác, nó như một quy trình tất yếu ở mọi thời đại trong lịch sử văn hóa Việt Nam từ ngàn năm nay.
4. Kết luận
Tóm lại, dù bất kỳ hoàn cảnh nào, cộng đồng người Việt luôn đoàn kết và ý thức về dòng máu bản sắc dân tộc ngàn năm như một sợi chỉ hồng thiêng liêng kết nối mạch nguồn dân tộc làm nên Tổ quốc. Ý thức về nòi giống, nhớ ơn tiền nhân, kế thừa tính thiêng trong mỗi tác phẩm nghệ thuật, công trình văn hóa… là niềm tự hào của dân tộc đã giúp họ vượt qua mọi cam go của lịch sử dựng nước và giữ nước trước mọi thế lực ngoại xâm. Lịch sử phải ghi công những anh hùng ngã xuống bảo vệ đất nước nhưng cũng cần phải trân trọng những đóng góp của tầng lớp trí thức phụng sự cho quốc gia, càng trân quý hơn những lớp người trí thức ngoại kiều gốc Việt quay về cống hiến cho quê hương. Sẽ còn tiếp nối xuất hiện những con người làm nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật về văn hóa và kiến trúc, tạo nên sự phong phú và bản sắc cho nền văn hóa, nghệ thuật nước nhà.
Chính phủ với chính sách đại đoàn kết dân tộc luôn kêu gọi “là người Việt Nam ai cũng phải có bổn phận, ý thức trách nhiệm góp phần xây dựng Tổ quốc”. Cách đây 20 năm trên Tuổi trẻ online đã có bài viết chủ đề “học thành tài để xây dựng quê hương”, cho thấy thông điệp kêu gọi những người con gốc Việt tỏa đi khắp thế giới học tập tri thức tiến bộ quay về phụng sự Tổ quốc còn nguyên giá trị.
Chú thích:
1 Nguyễn Du Chi (2003), Hoa văn Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa đầu thời kỳ phong kiến, NXB. Mỹ Thuật, tr. 77.
2 , 5 Hồ Liên (2002), Đôi điều về cái thiêng & văn hóa, NXB. Văn hóa dân tộc - Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, tr. 51, 200.
3 Hội Kiến trúc sư Việt Nam (2010), Nửa thế kỷ kiến trúc Việt Nam, NXB. Thời Đại, tr. 12.
4 Uyên Huy (2014), Mỹ thuật đô thị Sài Gòn – Gia Định 1900-1975, NXB. Mỹ Thuật, tr. 578.
6 Hồ Chí Minh toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, tập 4, tr. 280.