KHI NGÔN NGỮ ĐẪM VỊ HƯƠNG: KÝ ỨC, CĂN TÍNH VÀ TRẢI NGHIỆM DI DÂN TRONG ''ĐẮNG NGẮT TRONG MIỆNG'' CỦA MONIQUE TRUONG

Bài viết giới thiệu nữ nhà văn Mĩ gốc Việt Monique Truong; phân tích ẩm thực trong trải nghiệm di dân và sự xây dựng căn tính, những bí mật đắng ngắt với những ký ức và lịch sử vùng miền trong ''Đắng ngắt trong miệng'' của Monique Truong. Bằng tâm thức của một người di dân, ngôn ngữ đẫm vị hương, Monique Truong hướng đến sự hàn gắn, chữa lành và toàn vẹn qua những trang văn của mình.

   "Là một nhà văn, tôi quan tâm tới thức ăn và ăn uống như sự trình diễn, nghi lễ, sự thay thế, phần thưởng, hình phạt, niềm hứng khởi, sự kháng cự, và như phương tiện sáng tạo và giao tiếp. Về cơ bản, là tất cả mọi thứ, trừ chính thức ăn. Nếu viết về quả mận chín cây, lớp vỏ màu tím của nó bị mặt trời làm nứt nẻ, thì tôi không viết để khiến độc giả thèm quả mận, mà viết vì những gì nó có thể kể lại trong câu chuyện ấy”1. Đó là một trong những chia sẻ của Monique Truong, nữ nhà văn Mĩ gốc Việt, về văn chương và ẩm thực trong các bài phỏng vấn và tiểu luận của mình. Monique Truong đã ghi dấu ấn rất riêng của mình trên văn đàn văn học Mĩ gốc Việt bởi một lối văn chương đẫm vị hương, khi thức ăn, ăn uống và mùi vị trở thành một hiện hữu quan trọng, xuyên suốt sự nghiệp viết lách của bà.

   Monique Truong là nữ nhà văn viết truyện hư cấu và tiểu luận người Mĩ gốc Việt thành công và có tiếng vang trong mảng văn chương Mĩ gốc Việt đương đại. Sinh ra tại Sài Gòn, đến Mĩ năm 1975, bà đã xây dựng một sự nghiệp văn chương đáng chú ý sau khi tốt nghiệp Đại học Yale và Trường Luật Columbia. Bà là tác giả của Sách về muối (The Book of Salt, 2003), Đắng ngắt trong miệng (Bitter in the Mouth, 2010), Những trái ngọt ngào (The Sweetest Fruits, 2019) và đồng biên tập cuốn Ngấn nước: Văn thơ người Mĩ gốc Việt (Watermark: Vietnamese American Poetry & Prose, 1998). Bên cạnh sáng tác truyện hư cấu, Monique Truong từng là biên tập viên truyện hư cấu cho Tạp chí Người Mĩ gốc Á Thái Bình Dương và còn là một cây bút tiểu luận sắc sảo cho các tạp chí ẩm thực uy tín như T Magazine của New York Times, Real Simple, Town & Country, Condé Nast Traveler, Allure, Saveur, Food & Wine, Gourmet… Cùng với những tên tuổi như Linda Lê, Nam Lê, Thi Bùi, Việt Thanh Nguyễn, Ocean Vuong..., Monique Truong trở thành đại diện xuất sắc cho thế hệ nhà văn gốc Việt đương đại sống ở nước ngoài sáng tác bằng ngoại ngữ.

   Đắng ngắt trong miệng ra đời bảy năm sau thành công vang dội của cuốn tiểu thuyết đầu tay của Monique Truong Sách về muối. Sách về muối là một câu chuyện hư cấu về Bình, một đầu bếp riêng người Việt đồng tính làm việc trong căn bếp ở Paris của cặp đôi đồng tính nữ nổi tiếng trong giới văn chương Mĩ tại Pháp là Gertrude Stein và Alice B. Toklas. Trên nền bối cảnh của Việt Nam thuộc địa và Paris hoa lệ những năm 1930, căn bếp, mùi vị, thức ăn và dòng hồi tưởng của Bình dẫn ta du hành trong hành trình di cư và trải nghiệm đa văn hoá của nhân vật chính. Đắng ngắt trong miệng cũng tiếp tục theo đuổi chủ đề cốt lõi về trải nghiệm di dân, căn tính và lịch sử được đánh thức từ vị giác nhưng theo một cách vô cùng độc đáo. Cuốn tiểu thuyết lấy bối cảnh là thị trấn nhỏ Boiler Springs, Bắc Carolina ở miền Nam Hoa Kỳ trong những năm 1970-1980. Nhân vật chính của câu chuyện, cô gái gốc Á Linda Hammerick, mắc một chứng bệnh đặc biệt: loạn cảm giác từ vựng - vị giác (synesthesia), ở đó, mọi từ ngữ dù được nói lên hay nghe thấy đều luôn gợi lên trong cô những hương vị ảo ảnh. Câu chuyện không chỉ là hành trình trưởng thành của một người thiếu nữ mà còn là hành trình kiếm tìm căn tính, khám phá ra những bí mật và bi kịch trong lịch sử gia đình, vùng miền và dân tộc. Bài viết này là một trải nghiệm đọc Đắng ngắt trong miệng bắt đầu tự sự giao thoa giữa ngôn ngữ và hương vị. Trong tác phẩm này của Monique Truong, ẩm thực, hương vị đã tham gia như thế nào vào quá trình lưu giữ, thăm dò và chất vấn ký ức, căn tính và trải nghiệm di dân của nhà văn?

   1. Ẩm thực trong trải nghiệm di dân và sự xây dựng căn tính

   Trải nghiệm di dân tất yếu gắn với quá trình đổ vỡ, xung đột, tái tạo, xây dựng căn tính/ bản sắc. Quá trình khủng hoảng về căn tính, ở những mức độ khác nhau, là một hiện diện có thật trong tâm thức những người di dân. Sự ly tán, phân tán, trong nghĩa gốc của từ di dân/ lưu vong (diasporá) ngay từ đầu đã tạo nên một đường ranh giữa hai thế giới: quê hương trong quá khứ, hoài niệm và mảnh đất mới trong hiện tại. Tình trạng bị tách lìa quê hương, bị bứng rễ đặt vào một mảnh đất khác tạo ra thử thách cho căn tính. Người di dân thấy mình chòng chành ngay giữa đường biên, luôn tồn tại ở ngay khoảng giữa (in betweenness), nơi họ không thể dứt bỏ quê nhà nhưng vẫn không thấy hoàn toàn thuộc về mảnh đất mới.

   Tháng 4 năm 1975, Monique Truong rời Việt Nam cùng mẹ, khi 7 tuổi, trở thành cột mốc trong cuộc đời Monique Truong, đưa bà vào một tình trạng lưu vong vĩnh viễn. Trong cuộc phỏng vấn với Daniela Fargione trên tờ Gastronomica năm 2016, bà kể lại những trải nghiệm đầu tiên của mình, những va đập, rung chuyển đầu tiên làm rạn vỡ tính nguyên khối của căn tính. Bị kẹt giữa hai quốc gia, mà không quốc gia nào cô thực sự có thể gọi là “nhà”, Monique Truong bày tỏ cảm giác bị mắc kẹt trong “trạng thái ở giữa”, cuối cùng nói rằng Việt Nam chỉ là một “đường cong chữ S mà tôi mang trên cơ thể như một hình xăm... một vết sẹo bí mật để giữ lại”2. Cú va đập đầu tiên là ngôn ngữ: “Tôi không thêm tiếng Anh vào tiếng Việt của mình; tôi đã đổi nó hoàn toàn”, nhà văn khẳng định, người đã coi kết quả của sự đánh đổi này là một trong số những mất mát đã định hình sự thương lượng của cô giữa việc hòa nhập và sự khác biệt3. Thử thách thứ hai đến từ cái tên khai sinh và vẻ bề ngoài châu Á của bà. Sự biến đổi thứ ba liên quan tới cuộc sống mưu sinh hằng ngày của bà: ẩm thực.

   “Những tiểu thuyết của tôi thường được nói là giàu có về ẩm thực. Nhưng chúng thực ra giàu cả sự đói khát”4. Đó là ký ức đưa Monique Truong lần trở lại với nơi chốn đầu tiên và trải nghiệm đói khát đầu tiên của cô bé 7 tuổi trên đất Mĩ: Trại tị nạn Pendleton, nơi mảnh giấy do mẹ cô viết, dù lúc này cô không thể hiểu tiếng Anh, đã giúp cô có được bữa ăn đầu tiên để sinh tồn, một bữa ăn rất Hoa Kỳ với bánh mì kẹp thịt và khoai tây chiên: “Bắt nguồn từ một khoảnh khắc di cư cưỡng bức đã thay đổi và định hình quan điểm của tôi về thực phẩm cũng như mối quan hệ giàu trí tưởng tượng của tôi với nó, bữa ăn và mảnh giấy đó đã giải thích tại sao cái bụng và bộ não của tôi lại có một mối quan hệ đồng phụ thuộc rõ rệt như vậy; tại sao thực phẩm và ngôn từ lại là nỗi ám ảnh song hành của tôi. Tất cả hàng ngàn người tị nạn đó, đứng xếp hàng dài, hết giờ này đến giờ khác cho những bữa ăn đầu tiên của họ, đều đang trong trạng thái sốc, đau buồn và mất phương hướng, nhưng điều duy nhất mà có lẽ họ không phải là đói về thể xác, đặc biệt là khi xét đến thức ăn ở Trại tị nạn Pendleton. Tuy nhiên, thức ăn ở đó lại là nỗi ám ảnh, là trọng tâm và nhiệm vụ duy nhất trong những ngày dài mà nếu không thì chẳng biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Thay vì tìm kiếm những câu trả lời lớn lao, choáng ngợp, không thể tưởng tượng được, chúng tôi, những người tị nạn, lại tập trung vào chiếc xe tải nào có trái cây tươi hơn, chiếc nào có thịt gà, chiếc nào đang cố gắng phục vụ chúng tôi một món gọi là “egg foo young”, một món mà chúng tôi chắc chắn không nhận ra và mọi người đều gọi là mửa”5. Từ đó, sự viết, đối với bà, “chứa đầy sự đói khát, trở thành một nhu cầu thiết yếu”6.

   Ẩm thực, đối với người di cư cưỡng bức, trong trường hợp của những người tị nạn như Monique Truong, không chỉ là một chỉ dấu của khát khao sinh tồn mà còn là những kết nối, cho dù liền mạch hay đứt gãy, giữa căn tính trước và sau lưu vong. Trong Sách về muối, ta có thể thấy thức ăn, mùi vị như một bảo tàng hoài niệm. Bình nói: “Mỗi căn bếp là một sự trở về…, một câu chuyện quen thuộc mà tôi có thể tô điểm bằng nghệ tây, bạch đậu khấu, nguyệt quế và hoa oải hương”. Đến Đắng ngắt trong miệng, ta có thể chứng kiến thức ăn như một sự ghép nối con người lưu vong với nơi họ muốn nhưng không bao giờ có thể hoàn toàn thuộc về. “Thịt xông khói hun khói bằng gỗ, những lát giăm bông ướp đường dày, và xúc xích đồng quê với hạt tiêu đen và nhiều cây xô thơm” là những thứ mang lại cho cô sự thoải mái và bầu bạn, đồng thời đáp ứng mong muốn thuộc về của cô khi còn nhỏ. Monique Truong bắt đầu tự làm mọi thứ, đọc các sách dạy nấu ăn để bổ sung vào những món Việt và Pháp mà mẹ nấu cho mình, cố gắng nấu những thứ mà lúc bây giờ khiến cô thiếu nữ gốc Á “trở nên Mĩ hơn”. “Do đó, thực phẩm đã đóng một vai trò quan trọng trong việc tái định hình bản sắc của cô khi còn là một cô gái trẻ chuyển từ miền Nam địa lý này sang miền Nam địa lý khác; những món ăn và tập quán ẩm thực mới thường trở thành công cụ để giải tỏa và xoa dịu một cách lý tưởng nỗi đau buồn, mất mát, sự vô hình và sự phủ nhận quyền tự chủ”7.

   Như thế, ẩm thực, một cách vô hình và tự nhiên, tham gia vào sự kiến tạo “tâm thức kép” (double consciousness, mượn lời của W. E. B. Du Bois) của những người di dân: “Đối với một người nhập cư, một người tị nạn, hoặc một người thuộc chủng tộc hoặc dân tộc thiểu số, thường có sự khác biệt giữa thức ăn bạn ăn ở nơi công cộng và thức ăn bạn ăn ở nhà. Điều đó đi đôi với ngôn ngữ bạn nói ở nơi công cộng so với ngôn ngữ bạn nói ở nhà. Có một sự phân chia ngôn ngữ rõ ràng và bạn cần cả hai ngôn ngữ để tồn tại. Ngôn ngữ được nói ở nhà là ngôn ngữ của tình yêu và gia đình. Tương tự, thức ăn được ăn ở nhà là thức ăn của sự thoải mái và thuộc về. Chúng ta học cách xoay chuyển qua lại để tạo ra một “bản sao” của chính mình có thể bước vào lĩnh vực công cộng để đi học hoặc đi làm. Đó là cách chúng ta vượt qua chấn thương và sự cô đơn của sự ly tán, nhập cư hoặc phân biệt chủng tộc. Tất nhiên, các nhân vật trong tác phẩm hư cấu của tôi sẽ phản ánh sự nhân đôi này trong ngôn ngữ và ẩm thực mà tôi đã trải nghiệm trong cuộc sống của chính mình”8. Ẩm thực, vì thế, đối với cuộc đời và văn chương Monique Truong, tham gia trong một mối liên kết sâu sắc với sự trải nghiệm di dân, quá trình biến đổi và không ngừng kiến tạo căn tính của người lưu vong.

   Trong Đắng ngắt trong miệng, sự hoà quyện ngôn ngữ và mùi vị của Linda tạo thành một trải nghiệm cảm giác tổng hợp. Vượt qua phạm vi của giác quan, chứng sysesthesia này của Linda còn là một biểu đạt cho tình trạng đan xen và “xếp chồng lên nhau”9 của ký ức, lịch sử và căn tính. Âm thanh của một từ được nói ra trong hiện tại nhuốm đẫm hương vị của ký ức: “Hương vị trải nghiệm phải đến trước. Một khi ký ức về chúng – về những thứ đóng hộp, đông lạnh, bất ngờ, kiểu “a la king” – đã ăn sâu vào não tôi, thì và chỉ khi đó những hương vị này mới có thể gắn liền với các từ trong vốn từ vựng của tôi, không có nguyên nhân hay sự xem xét nào đến ý nghĩa của các từ”10. Nhưng điều chúng tôi muốn quan tâm là cách Linda ứng xử với sự pha trộn cảm giác này. Cô giữ lấy nó như một “giác quan bí mật” và dùng nó như tấm khiên để né những tổn thương từ xung quanh, trốn vào thế giới của riêng mình: Khi còn nhỏ, Linda nhận ra rằng việc từ chối những món khó ăn mẹ nấu sẽ khiến DeAnne gọi cô là “ích kỷ”, một điều khiến cô dễ chịu bởi từ “ích kỷ” mang theo hương vị của bắp ngô cuối hè. Sự đan xen mùi vị vào âm thanh ngôn ngữ như một thứ “thuốc giải độc” những hương vị khó chịu của thức ăn và là một “biện pháp phòng ngừa cảm xúc” kháng cự lại sự phản đối của mẹ11. Một mặt, Linda dùng sự khác biệt của mình để kháng cự với những tổn thương bên ngoài, một môi trường mà cô ngay từ đầu đã mơ hồ cảm thấy một sự xa lạ và không thân thuộc. Nhưng mặt khác, thế giới riêng khác này cũng chính là nơi Linda nương náu và tìm thấy niềm phấn khích chứ không phải nỗi tủi hổ. Thay vì xem như nó là một sự khiếm khuyết, một sự lệch lạc hay yếu thế, sự trộn hoà giác quan này ngược lại mang đến một thế giới đủ đầy hơn. Khi gọi chứng synesthesia của mình là một “giác quan bí mật”, Linda đã xem nó như một hiện diện tự nhiên như hơi thở. Trong trường hợp này, chúng tôi bị thuyết phục bởi lập luận của Michele Janette rằng đây là cách nhà văn Monique Truong đã chống lại cái nhìn bệnh lý hoá đối với chứng synesthesia và giải phóng nó khỏi những đường cắt nhị phân giữa bình thường và khuyết tật, để thừa nhận sức mạnh của nó trong việc đem đến một thế giới kỳ diệu, lấp lánh và đủ đầy cho nhân vật. Ở đây, sự hiện diện độc đáo của vị giác đã cung cấp một cách mã hoá độc đáo cho nhân vật, tương thích với tình trạng chia cắt, xung đột lẫn những chòng chành và không ngừng tái tạo căn tính của một cá thể di dân.

   2. Những bí mật đắng ngắt - ký ức và lịch sử vùng miền

   “Tôi nghĩ về mùi vị như một cách để du hành thời gian. Ví dụ, từ chỗ chúng ta đang ngồi đây, chúng ta có thể thấy cây sung ở sân sau nhà tôi. Tôi luôn nghĩ rằng khi đứng dưới gốc cây sung đó, hái một quả sung chín và ăn nó, đây là một hành động, một hương vị và một trải nghiệm mà con người đã có trong nhiều thế kỷ ở nhiều nơi trên thế giới. Nó khiến tôi cảm thấy kết nối với lịch sử. Mùi vị cũng có thể mang tính dịch chuyển theo một cách khác. Chúng có thể hoạt động như một loại thuốc, đặc biệt đối với người nhập cư, người tị nạn hoặc bất kỳ ai xa nhà. Khi bạn nếm một thứ gì đó mà bạn đã ăn trong một cuộc sống trước đây, ở một đất nước trước đây, nó sẽ đưa bạn trở lại đó, dù chỉ trong một khoảnh khắc. Toàn bộ cơ thể bạn phản ứng, không chỉ riêng lưỡi”12. Phần chia sẻ này của nhà văn Monique Truong khiến ta nhớ về đoạn văn trứ danh của Marcel Proust khi mở ra cuộc phiêu lưu trong tâm tưởng miên man kể từ khi vị giác được đánh thức bởi một nhấp trà và mẩu bánh madeline. Theo một cách nào đó, Monique Truong đã gia nhập vào một dòng mạch văn chương nơi mùi vị có thể đánh thức ký ức và ngôn ngữ. Bà từng nhận mình có một liên kết đặc biệt giữa ký ức và hương vị: “Khẩu vị là cảm giác chủ đạo của tôi. Tôi thích nó, và nó thích tôi lại ngay. Tôi có ký ức cực tốt về các hương vị và có thể kết hợp chúng trong đầu, trải nghiệm chúng một cách trừu tượng. Tôi nghĩ nhiều đầu bếp tại gia, bếp trưởng giỏi cũng có thể trải nghiệm điều này. Các ký ức của tôi thường gắn liền với những khẩu vị thức ăn rất rõ ràng mà tôi ăn đúng vào những giây phút lén lút ấy. Chẳng hạn, tôi có cô bạn học chung đại học, người giới thiệu tôi món ô liu sấy khô. Bất cứ khi nào nghĩ tới cô ấy, tôi đều ngửi thấy mùi hương mặn mà, béo ngậy nhè nhẹ của những quả ô liu đen và có thể thấy chúng đang ở trong chiếc đĩa nhỏ trên bàn cô ấy”13. Nhưng cần lưu ý rằng, đối với nhà văn, ẩm thực không chỉ là một bảo tàng hoài niệm, nó còn can dự năng động vào sự tồn tại của con người trong hiện tại. Monique Truong nói, “thông thường, trong ẩm thực cũng như trong văn hóa, bản sắc và ngôn ngữ, “tính xác thực” đi đôi với mong muốn bảo tồn quá khứ. Tôi không quan tâm đến những gì tĩnh tại và được trưng bày trong viện bảo tàng; tôi quan tâm hơn đến cách thức mà thực phẩm, văn hóa, bản sắc và ngôn ngữ thay đổi, biến đổi và thích nghi”14.

   Nhan đề Đắng ngắt trong miệng xuất phát từ chi tiết khi nhân vật chính lần đầu trải nghiệm cảm giác kết nối giữa ngôn ngữ và mùi vị. Đó là một thời khắc lùi xa trong quá khứ, khi Linda còn là một cô bé nhỏ tuổi đã theo cha mẹ sang Hoa Kỳ. Một ai đó đã ẵm cô bé thoát khỏi ngôi nhà đang chìm trong ngọn lửa và lời cuối cùng người này nói ra đã chỉ để lại “vị đắng” trong miệng cô: “Nếu bầu trời trước cơn lốc xoáy có thể bị cắn và nuốt chửng, thì có lẽ nó sẽ mang vị đắng chát của ký ức đầu tiên của tôi”15. Kể từ đó, Linda bắt đầu sống cùng một bí mật của đời mình, chứng bệnh rối loạn từ vựng - cảm giác. Nếu như vị giác hiện lên trong Sách của muối chủ yếu qua không gian căn bếp, từ đó lan toả theo mạch hồi tưởng của đầu bếp Bình, thì vị giác trong Đắng ngắt trong miệng sẽ theo thụ cảm giác quan của Linda bắt đầu từ thị trấn nhỏ cô sống ở miền Nam Hoa Kỳ. Vì thế, câu chuyện vị giác trong tác phẩm gắn bó máu thịt với câu chuyện về ký ức, lịch sử vùng đất, về thực trạng miền Nam Hoa Kỳ và lịch sử Việt Nam.

   “Tôi thường nói với mọi người rằng tôi là một cô gái miền Nam hai lần, nghĩa là tôi sinh ra ở miền Nam Việt Nam và tôi được tái sinh ở miền Nam nước Mĩ với một cái tên mới và một ngôn ngữ mới. Tất nhiên, chỉ một trong những nơi này được “viết” trên cơ thể tôi. Chỉ một trong những nơi này định nghĩa tôi trong mắt hầu hết những người nhìn thấy tôi. Miền Nam nước Mĩ là bí mật của tôi. Mối quan hệ của tôi với vùng đất này, nổi tiếng với sự “hiếu khách miền Nam” hào phóng, nồng nhiệt, và vào năm 1975 cũng nổi tiếng với nạn phân biệt chủng tộc ngoan cố, là một mối quan hệ phức tạp. Trong suốt thời thơ ấu của tôi ở Boiling Springs, tôi vừa là người được hưởng lợi vừa là mục tiêu của cả hai điều đó”16. Những tự thuật đó của Monique Truong có thể giúp ta hình dung phần nào mối quan hệ nước đôi giữa cô với nơi cô sống cũng như một lịch sử phức tạp của miền Nam Hoa Kỳ. Là một người gốc Á, di dân, nhà văn từ thời thơ bé đã trải nghiệm cảm giác của một “kẻ khác”, thuộc về một cộng đồng thiểu số và xa lạ ngay trên nơi mình sống. Cảm giác nước đôi, một phần là cảm giác gắn bó, một bên là cảm giác bị tách lìa và sự “không thuộc về” đó càng bị tô đậm khi chính mảnh đất miền Nam nước Mĩ lúc bấy giờ vừa là mảnh đất “hào phóng, nồng nhiệt” nhưng cũng là nơi mà những di sản của chủ nghĩa nô lệ, sự đè nặng của nạn phân biệt chủng tộc và bạo lực vẫn còn nặng nề. Bằng cuốn tiểu thuyết thứ hai của mình, Monique Truong đã kết hợp với chất liệu tiểu sử đời tư để trung thực và đau đớn, khám phá những bí mật của lịch sử cá nhân của những cá thể di dân và lịch sử vùng đất miền Nam Hoa Kỳ.

   Có thể nói, sự tham dự cốt lõi nhất của ẩm thực và mùi vị trong tác phẩm này là ở sự gói ghém và khơi mở, tiết lộ và che giấu những bí mật của lịch sử cá nhân và lịch sử cộng đồng. Một điểm chung của tác phẩm này với cuốn sách đầu tay của Monique Truong là các nhân vật chính trong đó đều chứa đựng rất nhiều bí mật. Bằng ngôi kể thứ nhất, các nhân vật kể cho độc giả nghe những gì họ muốn tiết lộ, che giấu những gì họ muốn giấu và quyết định thời điểm cho những che giấu và tiết lộ ấy. Trở lại với Đắng ngắt trong miệng, chứng bệnh rối loạn cảm giác - từ vựng là bí mật đầu tiên mà cô bé Linda tự mình che giấu. Bí mật thứ hai sẽ được tiết lộ khá sớm cho bạn đọc (dù vẫn được giấu kín với các nhân vật khác) là việc cô bị cưỡng hiếp năm 11 tuổi. Bí mật thứ ba, chỉ được hé lộ ở tận nửa sau của tiểu thuyết, là về xuất thân của cô gái: cô không phải là con gái của ông bà Hammerick, một gia đình da trắng quý tộc lâu đời ở miền Nam Hoa Kỳ mà là Linh-Đào, sinh ra ở Việt Nam và nhập cư vào Hoa Kỳ năm 1974 cùng với cha mẹ người Việt của mình. Cha mẹ cô, Khánh và Mai-Đào Nguyễn, đã qua đời trong một vụ hỏa hoạn ở Bắc Carolina năm 1975, sau đó Linh-Đào được gia đình Hammerick nhận nuôi và đổi tên. Michele Janette đã hình dung kết cấu tiểu thuyết này bao gồm “những lớp lang mờ ảo”, tạo thành “một bản viết chồng” (palimpsest) với những bí mật xếp đan xen lên nhau nhằm khiến ta phải suy nghĩ về sự phức tạp của việc xây dựng bản sắc cũng như các vấn đề về khuyết tật, bạo lực tình dục và nạn phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ17.

   Chứng synesthesia, mà Linda coi là một “giác quan bí mật”, là tấm màn bí mật đầu tiên che giấu những lớp bí mật tiếp sau của câu chuyện. Khi bí mật thứ hai, việc Linda bị Bobby cưỡng hiếp, được tiết lộ, cách kể chuyện của Monique Truong ngầm cho ta không chỉ biết một thủ phạm cụ thể mà còn thấy lớp không khí đặc quánh xung quanh dung túng cho tội ác ấy: sự thờ ơ của người mẹ, định kiến của một xã hội nam quyền. Trên thực tế, thủ phạm xuất hiện mờ nhạt trong tác phẩm: hắn không có quá khứ, không có lời thoại trực tiếp, hắn bị trừng phạt bởi một tai nạn xe hơi chỉ trong vài trang sách sau đó. Sự truy vấn trách nhiệm kẻ có tội dường như chuyển sang nhân vật khác: mẹ của Linda – DeAnne: “Mẹ tôi thuê Bobby cắt cỏ. Đó là khi bà trở thành DeAnne đối với tôi. Một người mẹ đã phải biết rõ hơn”. Khi Linda cố gắng chia sẻ bí mật về người làm vườn nguy hiểm và về chứng synesthesia của mình, DeAnne không chấp nhận: “Linda [...] Mẹ chịu được kẹo cao su FruitStripe nhiều thứ cà chua. Nhưng mẹ sẽ không chịu nổi kẹo cao su FruitStripe kem tươi đặc quánh”. Sự khước từ cảm giác về mùi vị và ngôn ngữ đi liền với sự thờ ơ và đóng băng trước những tổn thương của con mình. Phản ứng của Linda cũng quay trở lại trở thành những cảm giác rõ về mùi vị và ngôn ngữ: cô từ chối gọi mẹ mình là “mẹ” nữa mà bắt đầu gọi bằng tên riêng. Người cha, gia đình, cộng đồng cô sinh sống, với hệ thống quan niệm nam quyền, trở thành những kẻ đồng loã cho tổn thương vĩnh viễn của cô gái. Khi tới nửa sau của tiểu thuyết, ta còn biết rằng Linda không phải là một cô gái da trắng, vụ tấn công tình dục không chỉ là câu chuyện về bạo lực giới, nó còn được xếp chồng lên một khía cạnh khác: chủng tộc. Ở đây, một lần nữa tác phẩm cho ta ngầm hiểu một sự thờ ơ và khước từ của xã hội đối với các chủ thể thiểu số. Câu văn của nhà thơ Michael Mlekoday cũng nói về điều này: “Một số từ đẫm trong máu. Và nếu đó không phải là máu của bạn, bạn không thể nói được chúng”. Tác phẩm không trực tiếp cho ta biết về chứng rối loạn cảm giác của Linda là một thuộc tính bẩm sinh hay là một triệu chứng xuất hiện sau thương tổn cũng như nguyên nhân vụ hoả hoạn không bao giờ được tiết lộ. Những lớp bí mật tồn tại như những lớp màn bao quanh câu chuyện. Nhưng sức căng được hé lộ qua những chi tiết nhỏ cho ta hình dung về sự cộng hưởng của những bạo lực và thương tổn: cha ruột của Linh-Đào trở nên “dễ cáu gắt và có phần mất lý trí”, “người đàn ông hiếm khi lớn tiếng giận dữ” trở thành người hay la hét và gào thét, buộc tội người vợ ngoại tình. Vụ hoả hoạn như là kết quả sự leo thang ngầm từ sự cuồng nộ của Khánh thành bạo lực, vụ cưỡng hiếp Linda như một sự bạo lực giới và chủng tộc cho thấy những bi kịch cá nhân tồn tại trong sức căng của bối cảnh xã hội và lịch sử. Như thế, lấy bối cảnh là thị trấn Boiling Springs ở miền Nam Hoa Kỳ vào thập niên 1970-1980, nhà văn có thể hồi tưởng, giải mã và tái ký ức mảnh đất này – mảnh đất mà bà coi như ngôi nhà Mĩ đầu tiên của mình.

   Đắng ngắt trong miệng, cũng như văn chương của Monique Truong, đẫm vị hương. Tác phẩm để lại dấu ấn độc đáo bởi lối tiếp cận mùi vị, ẩm thực trong sự quyện hoà với ngôn ngữ, khơi gợi những thiếu khuyết và đủ đầy, những xung đột và hoà hợp, những bất hạnh và hạnh phúc trong trải nghiệm di dân và trong ký ức, hiện tại. Monique Truong đã không nhìn chứng rối loạn cảm giác của nhân vật như là một thiếu khuyết. Nó, ngược lại, là một thế giới đủ đầy mà nhân vật nếm trải, được thụ hưởng và nhằm để chống chọi với thế giới bị phân mảnh của chính mình. Viết về ẩm thực, món ăn hay mùi vị, đối với Monique Truong, như đã nói ở đầu bài viết, là “sự trình diễn, nghi lễ, sự thay thế, phần thưởng, hình phạt, niềm hứng khởi, sự kháng cự, và như phương tiện sáng tạo và giao tiếp”. Bằng tâm thức của một người di dân và trái tim của nhà văn, điều mà Monique Truong hướng đến trong những trang văn đẫm vị hương của mình là sự hàn gắn, chữa lành và toàn vẹn: “Chúng ta khao khát một khoảnh khắc, khi cơ thể và những câu chuyện nội tâm của chính mình không còn bị chia cắt, rời rạc hay lệch pha với chính bản thân mình hay với môi trường xung quanh. Chúng ta thèm khát một thứ cảm giác hiếm có trên đời, cảm giác vẹn tròn”18.

 

 

 

Chú thích:
1, 4, 5, 6, 16, 18 Monique Truong (2019): “The Rarest of Senses”, Southern Cultures, Volume 25, Number 2, p. 121, 122, 122, 122, 123, 124.
2, 3, 7, 8, 12, 14 Daniela Fargione và Monique Truong (2016): “Food and Imagination: An Interview with Monique Truong”, Gastronomica, tập 16, số 4, p. 1-7, 1, 1, 4, 4, 5.
9, 11, 17 Michele Janette (2014), “Distorting Overlaps”: Identity as Palimpsest in “Bitter in the Mouth”, Melus, Volume 39, Number 3, Thick Historical and Cultural Contexts for the Study of Multi-Ethnic Literary Texts, p. 155-177, 156, 155-177.
10, 15 Monique Truong (2010), Bitter in the mouth, Chatto & Windus, p. 74, 163.
13 Christine Lee Zika và Sunny Woan (2013): “Phỏng vấn tác giả Monique Truong”, Kartika Review, số 15; đăng lại trên website DVAN https:// dvan.org/2015/09/phong-van-tac-gia-moniquetruong/, truy cập ngày 19.9.2015.

Bình luận

    Chưa có bình luận