1. Người Việt Nam ở Nga và văn chương của người Việt Nam ở Nga
Đối với người Việt Nam đương đại, kể cả người Việt Nam các thế hệ sinh sau năm 2000, cụm từ “nước Nga” vẫn gợi nhắc rất nhiều ấn tượng về một mảnh đất gần gũi, thân thương, gắn bó sâu sắc với người Việt Nam. Kể từ khi Việt Nam trở thành một nước dân chủ cộng hòa, đặc biệt là từ khi Việt Nam đặt quan hệ ngoại giao chính thức với Liên bang Nga (30.1.1950) đã có rất nhiều thế hệ người Việt Nam sang Nga học tập, lao động và sinh sống. Cộng đồng người Việt Nam ở Nga đã xây dựng nên một thế giới riêng với những cơ sở kinh doanh, những hiệp hội nghề nghiệp và những dấu ấn văn hóa đặc trưng được thể hiện qua cách họ lao động, học tập, làm việc và kiến tạo bản sắc của mình tại xứ người.
So với cộng đồng người Việt Nam tại các quốc gia khác, tiếng nói văn chương của người Việt Nam tại Nga có vẻ yên ắng hơn, ít day dứt hơn. Có thể lý giải điều này từ lý do sang Nga của người Việt Nam. Người Việt Nam chủ yếu sang Nga theo con đường chính thống: học tập, nghiên cứu, công nhân lao động, kinh doanh. Họ là trí thức (lưu học sinh, nghiên cứu sinh, thực tập sinh, cộng tác viên khoa học), công nhân lao động nói chung. Trên thực tế, cộng đồng người Việt Nam ở Nga được hình thành từ thập niên 70-90 của thế kỷ XX, chủ yếu do những trí thức và công nhân lao động đã hết hạn nhưng không về nước mà tiếp tục ở lại làm ăn. Theo Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng người Việt Nam tại Nga vẫn đang trong giai đoạn ổn định về pháp lý, “chỉ một bộ phận nhất định có quốc tịch và quy chế thường trú, phần đông vẫn là tạm cư”1 nên trong những truyện kể về người Việt Nam, được nhắc đến nhiều hơn là những câu chuyện về người Việt Nam làm thế nào để tồn tại được ở nước Nga trước những áp lực về hộ khẩu, kinh tế, sự an toàn, pháp luật, tình người. Không phải ngẫu nhiên những câu chuyện về người Việt Nam đều được gắn với các trung tâm thương mại. Bởi tính đến năm 2005, có đến 20 trung tâm thương mại thu hút đông đảo người Việt Nam ở Nga tham gia kinh doanh buôn bán như Bến Thành, Sông Hồng…
Trong bối cảnh đó, văn chương của người Việt Nam cũng là một bộ phận có “đời sống” khá khiêm nhường trong cộng đồng người Việt Nam ở Nga. Theo nhà thơ Nguyễn Huy Hoàng, trong bài Truân chuyên gánh văn chương người Việt ở Liên Bang Nga, Hội Những người hoạt động văn học và nghệ thuật ở Liên bang Nga còn được gọi là “đội du kích văn chương” vì những người sáng tác văn chương không nhiều, không chính quy, viết và sống bằng đam mê, tiền in tạp chí của Hội cũng là tiền xin tài trợ, giật gấu vá vai, ăn đong lần hồi: “Kiếp làm văn chương ở cái đất nhà nhà ra chợ, người người ra chợ này mà không bị trải chiếu, cầm ống bơ đứng đường là mả tổ còn phát lắm”2. Vì thế, phần lớn những cây bút văn chương người Việt Nam trên đất Nga đều là những người kiêm nhiệm, viết để kể, để giãi bày và cùng cảm thông, chia sẻ những nỗi niềm của nhau trong công cuộc mưu sinh nơi xứ người: “Thôi thì “đã mang lấy nghiệp vào thân”, trên vai đã vác lấy cây thánh giá văn chương rồi thì cũng phải gắng gỏi, để mong sao nó được tồn tại và đồng hành với cộng đồng trong cuộc mưu sinh ở xứ người”3.
Là một nhà văn trưởng thành từ những năm tháng lăn lộn bôn ba từ học tập, lao động chân tay, làm ăn kinh tế rồi sáng tác văn chương tại nước Nga, Nguyễn Đình Lâm đã tích lũy cho mình một gia tài lớn. Đó là bốn tập truyện ngắn Con kiến tật nguyền (2004), Tình yêu hàng chợ (2005), Áo ấm mùa đông (2013), Dưới tán hoa siren (2024) và một tiểu thuyết Mong manh xứ bạch dương (2009) viết về cuộc sống của người Việt Nam tại Nga. Đọc những tác phẩm này, người đọc sẽ thấy hiện lên một bức tranh đầy đủ và phong phú những cung bậc đời sống, tình cảm và tâm hồn của nhiều thế hệ và tầng lớp người Việt Nam ở Nga, từ những trí thức được tiêu chuẩn sang Nga học tập cho đến những người lao động tìm cách sang Nga bất hợp pháp để mong đổi đời. Những sáng tác của Nguyễn Đình Lâm tuy được xác định là truyện ngắn nhưng ở nhiều tác phẩm có thể coi là truyện ký bởi chất liệu sống ngồn ngộn, những cuộc đời trong tác phẩm được miêu tả chân thật và sống động đến mức dường như tác giả chỉ làm nhiệm vụ kể lại mà không cần phải cấu tứ gì. Trong lời tựa cho tập truyện ngắn Tình yêu hàng chợ, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã viết: “Hình như cuộc sống của người Việt nơi đất khách tự tìm đến Nguyễn Đình Lâm rồi qua ngòi bút anh mà ùa ra trang giấy với tất cả dáng vẻ nguyên khai như nó vẫn từng có. Đối với giới sáng tác, tập sách vừa là sản phẩm, vừa là những nguyên liệu còn tươi ròng để chúng ta tiếp tục khai thác và chế biến. Còn đối với độc giả thông thường, có thể xem đây như một tấm gương trung thành và chân thật, phản ánh nhiều góc độ của đời sống người Việt trên đất Nga”4.
2. Bức tranh đời sống người Việt Nam tại Nga
2.1. Cuộc sống tủi khổ tại trạm dừng chân bất đắc dĩ
Trong các truyện ngắn của mình, Nguyễn Đình Lâm xây dựng một thế giới nhân vật người Việt Nam đa dạng, phong phú. Đa phần họ sang Nga để làm ăn buôn bán, kể cả những người đi học thì họ cũng bị cuốn vào vòng xoáy này. Tuy nhiên, trong những truyện ngắn của Nguyễn Đình Lâm, có những tác phẩm miêu tả số phận của những nhân vật chỉ tạm dừng chân ở nước Nga, coi nước Nga là địa điểm trung chuyển trên hành trình của mình. Nhưng cuối cùng, nước Nga lại quá nhiều duyên nợ cay đắng với họ. Đó là câu chuyện về những cô gái nhẹ dạ cả tin, chấp nhận sang Đức để đổi đời, cuối cùng vì không có đủ tiền, vì trên hành trình vượt biên trái phép thất bại nên buộc phải ở lại nước Nga làm nghề đầy tủi nhục: gái mại dâm. Có người thoát sang được Đức thì cũng có những trải nghiệm đầy tồi tệ ở “trạm trung chuyển” nước Nga. Trong truyện ngắn Mẹ ơi con xin lỗi (tập Dưới tán hoa siren), Nguyễn Đình Lâm kể câu chuyện về nhân vật Huyền. Huyền quê ở An Giang, gia đình nghèo nhưng được học đến hết cấp 3. Do thi đại học không đỗ nên Huyền buồn, muốn đi xuất khẩu lao động để đổi đời. Nhờ người quen, Huyền được hứa hẹn nộp tiền để sang Đức làm ăn. Không có tiền, bố mẹ Huyền thế chấp nhà đất, vay thêm họ hàng để cho Huyền ra nước ngoài. Chuyến bay đến Nga thành công, mang theo hi vọng vào một ngày mai tươi sáng của Huyền. Nhưng mọi thứ trái ngược với hi vọng và niềm tin của Huyền. Đến Nga, cô cùng những người trong đoàn bị nhốt trong căn phòng kín, không được ra ngoài, chỉ có đồ ăn là mì tôm. Huyền thất vọng vì cô cứ tưởng rằng mình sẽ được đường đường chính chính ngắm Quảng trường Đỏ, Điện Kremlin nhưng tất cả đều chỉ là mơ ước. Cô cùng những người trong đoàn buộc phải trốn chui trốn lủi để tránh công an, khi di chuyển thì nằm trên xe chở hàng ngột ngạt. Khi vượt biên từ Nga sang Ba Lan để từ Ba Lan sang Đức, cô bị nhốt, bị làm nhục rồi bị trả về Nga. Không có người thân bảo lãnh, không có tiền, Huyền không có nơi để đi, không có chỗ ở nên buộc phải chấp nhận làm gái làng chơi. Trong hợp đồng làm việc, cô phải phục vụ 25 lần một tháng để trả tiền ăn ở, nếu phục vụ nhiều hơn 25 lần một tháng thì cô sẽ được thêm phần trăm, nếu có tiền bo của khách thì cô cũng không được nhận toàn bộ. Sự trớ trêu trong hoàn cảnh của Huyền nằm ở chỗ cô bị chính những người Việt Nam bóc lột sức lo động, buộc phải bán thân để tồn tại, không biết đến khi nào mới có thể trả tiền vay ngân hàng cho bố mẹ và cũng không biết đến khi nào mới có thể kiếm đủ tiền để trở về.
May mắn hơn Huyền trong Mẹ ơi, con xin lỗi, nhân vật Huyền trong Mảnh đời và nước mắt (tập Tình yêu hàng chợ) đã đến được nước Đức. Nhưng ở Nga, cô cũng có những trải nghiệm tồi tệ: bị nhốt trong phòng kín, bị nằm trên những chiếc xe tải chở hàng kín mít, bị chính những người Việt Nam làm dịch vụ đưa người sang Đức làm nhục, coi là món hàng. Tất cả khiến cho cô vỡ mộng về một thế giới mới tươi đẹp nơi trời Tây nhưng cô vẫn nhẫn nhục chịu đựng vì tương lai của những đứa con. Hai truyện ngắn Mẹ ơi con xin lỗi và Mảnh đời và nước mắt của Nguyễn Đình Lâm gợi nhắc đến tiểu thuyết 25 độ âm (2024) của Thảo Trang. Vì hoàn cảnh nghèo đói, vì món nợ phải trả, những nhân vật trong Mẹ ơi con xin lỗi và Mảnh đời và nước mắt buộc phải cam phận nhịn nhục trong suốt hành trình còn lại của cuộc đời. Nhưng chí ít họ vẫn còn được thấy ánh sáng, được hít thở không khí, được tồn tại trong cuộc đời để hi vọng vào ngày mai. Còn các nhân vật trong 25 độ âm của Thảo Trang thì không có ngày trở về bởi tuy họ đã vượt qua chặng đường từ Nga sang Ba Lan, từ Ba Lan sang Đức, từ Đức sang Pháp nhưng trong chặng đường cuối từ Pháp sang Anh, họ đã bị đông cứng trong container đông lạnh. Người đọc xót xa theo dõi những tủi nhục, mất mát cả về mặt thể chất và tinh thần của họ trên những chặng đường từ Nga sang Ba Lan, sang Đức, sang Pháp và càng đau xót hơn khi chứng kiến cảnh những người không thể thở nổi dưới cái lạnh 25 độ âm trong container. Truyện ngắn của Nguyễn Đình Lâm cũng như tiểu thuyết của Thảo Trang không còn là những câu chuyện kể đơn thuần về các số phận người Việt Nam lênh đênh sang xứ người kiếm tìm cuộc đổi đời mà là những lời cảnh tỉnh đầy nghiêm túc cho những người đang có ý định đổi đời bằng những con đường phi pháp, cảnh tỉnh cho cả cha mẹ và những người giám hộ của những thanh niên Việt Nam đương thời có ý định đổi đời bằng con đường ấy.
Qua những sáng tác trên, tác giả Nguyễn Đình Lâm không chỉ tái dựng thế giới muôn màu cuộc sống, tâm tư nguyện vọng của người Việt Nam ở Nga, nhà văn còn gián tiếp phản ánh thực trạng của xã hội Việt Nam thông qua những tâm sự của người Việt Nam về lý do họ buộc phải sang Nga kiếm sống, thông qua cách họ ứng xử với những người Việt Nam về thăm nhà sau một thời gian đi Nga (những nhân vật như Hòa và Sinh ở Những nụ cười méo mó trong tập Tình yêu hàng chợ buộc phải đi lánh nạn vì mọi người trong gia đình tưởng họ là đại gia, tìm đến xin tiền, vay tiền, nhờ giúp đỡ trong khi thực tế họ phải tích cóp từng đồng mua vé máy bay giá rẻ để về thăm nhà). Từ đó, người đọc hiểu thêm một trong những góc khuất, những tâm sự khó nói của những người con đi làm xa xứ, cũng thêm một lần nhìn nhận lại cách suy nghĩ, cách ứng xử tưởng như vô tư nhưng thực tế lại rất vô tâm và nghiệt ngã của con người ở trong nước. Điều này đã được nhân vật GS. Rowling trong 25 độ âm nhận ra: “Sự so bì của nhiều gia đình, đặc biệt là các gia đình tại Á Đông, chính là phần lớn nguyên nhân để nhiều người thúc ép con em mình phải rời khỏi quê hương, bước vào vòng sinh tử. Gia đình nợ nần ư? Không thiếu cách để trả nợ. Hoàn cảnh khó khăn ư? Nhiều người còn khốn cùng hơn thế. Lý do cơ bản nhất, cũng là lý do đau lòng nhất, gia đình những người này thấy người khác đi vượt biên và trở nên giàu có hơn mình. Thói tị nạnh, ganh ghét, muốn bản thân không thể thua kém người khác. Đó chính là tính xã hội trong tiềm thức của con người”5. Từ đó, những người Việt Nam ở nhà cũng có thêm một kênh để hiểu về thế giới bên ngoài và về chính bản thân mình. Hiểu mình cũng là một cách để thêm yêu mình, trân trọng mình.
2.2. Cuộc sống mưu sinh, làm ăn đầy bất trắc
Chiếm số lượng lớn trong những truyện ngắn của Nguyễn Đình Lâm là cuộc sống của những người Việt Nam ở các chợ, các khu trung tâm thương mại của người Việt Nam ở Nga. Tác giả dựng lên bức tranh lao động vất vả, khốn khó của những con người dốc hết vốn liếng và sức lực trong những khu chợ ấy. Họ phải vật lộn với những thay đổi của cơ chế thị trường, phải đối phó với bạn hàng, đối phó với pháp luật, công an, nạn trộm cướp và đối phó với chính những người Việt Nam cùng lao động. Trong mảng truyện ngắn về đề tài làm ăn của người Việt Nam trên đất Nga, Nguyễn Đình Lâm xây dựng những câu chuyện đầy gay cấn của những người lãnh đạo khu chợ để giải cứu hàng hóa cho các tiểu thương khi hàng bị đoàn kiểm tra hàng lậu, hàng trốn thuế làm việc trong Cuộc chiến lúc nửa đêm. Câu chuyện là cuộc đấu trí của Tâm – Tổng Giám đốc công ty với Trưởng hải quan mới để bảo vệ hàng hóa của các chủ hàng người Việt Nam. Về lý, Tâm và những người Việt Nam sai vì họ đều buôn bán hàng đắt tiền (áo da, quần bò của Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ…) mà chỉ nộp thuế với danh nghĩa hàng thực phẩm mì tôm, nước mắm, gạo… Nhưng về tình, họ cũng vì cuộc mưu sinh khó khăn ở đất Nga mà buộc phải làm vậy, vốn liếng là số tiền họ tích cóp hàng năm trời, thậm chí phải đánh đổi, hi sinh nhiều thứ. Tâm đã thể hiện sự khéo léo khi thương lượng được với Andrey – Phó hải quan và những nhân viên của Andrey giúp mình. Nhưng Tâm cũng nhận ra rằng họ sẽ phải đối mặt với pháp luật và tìm cách khác để tồn tại. Không chỉ trong Cuộc chiến lúc nửa đêm, trong Giải cứu hay Kẻ phản bội, Tâm cũng phải dùng những mối quan hệ thân thiết mà mình đã tạo dựng với công an, hải quan Nga để giúp đồng bào mình thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật Nga (Tâm giúp Quyên thoát khỏi phòng giam của công an hộ tịch, giúp Tùng và Lan giải quyết rắc rối với công an vì Tùng bị nghi bắt cóc Lan). Về lý, rõ ràng Tâm và những người Việt Nam sai nhưng về tình, họ buộc phải làm thế để giúp những người Việt Nam có thể tồn tại ở nước Nga. Những câu chuyện về những người Việt Nam tìm cách lách luật ở nước Nga để tồn tại một mặt cho thấy những người Việt Nam đã tự tạo cho mình một vỏ bọc, một thế giới ngầm ở nơi xứ người; mặt khác, phản ánh những thực tế rất khốc liệt, thậm chí là mặt trái của một xã hội được cho là lý tưởng với người Việt Nam khi ấy. Cảnh Kiên trong Bữa tiệc cuối năm (tập Tình yêu hàng chợ) hồi hộp và căng thẳng lo hết tiền khi chiêu đãi bà thủ trưởng hải quan Nga để bà chiếu cố cho những người Việt Nam trong thời gian sắp tới vừa phơi bày những mặt trái của xã hội Nga vừa cho thấy sự nhập cuộc vào mọi mặt, thậm chí cả những góc khuất nhất trong xã hội Nga đương thời của những người Việt Nam. Nhưng cũng từ những câu chuyện này, có thể thấy người Việt Nam đã có ý thức tương trợ nhau trong hoạn nạn, khó khăn, nhất là khi đối mặt với chính quyền nước sở tại.
Không chỉ phải đối phó với chính quyền nước sở tại, trong nhiều câu chuyện, Nguyễn Đình Lâm miêu tả cảnh nhiều người Việt Nam bị bọn cướp và xã hội đen ở Nga hành hung, cướp bóc. Đó là thực trạng thường xuyên xảy ra khiến những người Việt Nam không khỏi nơm nớp lo sợ. Những câu chuyện Hai mươi bốn giờ đồng hồ, Nỗi đau tuyệt vọng, Con sâu (cùng trong tập Tình yêu hàng chợ)… đã miêu tả tình cảnh ấy. Tác giả không chỉ giúp những người Việt Nam nhìn nhận rõ thực tế tiêu cực trong xã hội Nga mà còn giúp họ nhận thức rõ chân tướng những người sống quanh mình. Nhân vật Hương trong Hai mươi bốn giờ đồng hồ đã nhận ra bản chất của người mình lấy làm chồng sau khi ngôi nhà của hai người bị cướp; nhân vật Huệ trong Con sâu đã nhận ra Cường, bạn của anh trai mình, thực chất là kẻ chỉ điểm cho bọn cướp vơ vét hết tiền bạc của bà con người Việt Nam; nhân vật Vi trong Nỗi đau tuyệt vọng bị mafia tống tiền đến bước đường cùng, buộc phải trở thành tội phạm ở nước Nga. Lời cuối của cô gây ám ảnh sâu sắc với người đọc: “Thằng đểu cáng, sao chúng mày không cho tao làm người lương thiện”6. Sau khi nhận ra bản chất của Tùng, Hương đã rời bỏ anh để tự xây dựng cuộc sống riêng của mình, cuộc sống vui tươi, tự chủ, yêu lao động trước kia mà cô đã tự nguyện từ bỏ vì tưởng đã tìm được Kinh Kha của đời mình; Hoa trong Con sâu cũng dũng cảm và mưu trí khi đã khéo léo tìm cách vạch trần kẻ chỉ điểm… Hai nhân vật Hương và Hoa đã thể hiện bản lĩnh của mình và vượt lên trên hoàn cảnh.
Thực tế những người Việt Nam ở Nga không chỉ phải đối phó với pháp luật và xã hội đen, đối tượng mà họ phải đối phó lớn nhất chính là những người Việt Nam ở Nga, những người biến chất, tha hóa, sẵn sàng bán rẻ cả lương tâm để hãm hại đồng bào mình. Đó là Vũ Văn Cường trong Con sâu (tập Tình yêu hàng chợ). Bản chất là một trí thức được cử sang Nga học, do buôn bán trái phép mà bị công an bắt và bị đuổi học nên ở lại lưu vong ở nước Nga, Cường đã chỉ điểm cho bọn cướp người Nga tổ chức cướp xe chở bà con người Việt Nam lên chợ Vòm lấy hàng. Đó là Nguyễn Văn Thanh, Lê Thanh Tú và đồng bọn tên Lân đã tổ chức buôn người từ Việt Nam sang Nga rồi đẩy họ vào bước đường cùng trong truyện ngắn Món nợ đời (tập Áo ấm mùa đông). Đó là cô Ngân trong truyện Ngõ tối đã nhẫn tâm lừa anh Hòa khiến Hòa buộc phải tự sát sau khi bị cô và Bình lừa. Đó là băng cướp của Sung “chột” chuyên cướp hàng của những chủ hàng người Việt Nam sang trong Sóng ngầm (tập Tình yêu hàng chợ); là Hùng, Linh trong truyện Kẻ phản bội đã tố cáo Quyên – người đã cưu mang mình ở Nga; là Hùng trong Món nợ ân tình đã lừa Phương làm ăn cùng rồi ẵm tiền của cô bỏ trốn; là bà chủ Nguyên và ông chủ Thanh trong Khổ tận cam lai đã hãm hại để Quang và Phượng không thể tồn tại được ở khu chợ chỉ vì họ không chịu hiến thân cho những người chủ ấy; là những cô gái như Lài, Thơ trong Tình yêu hàng chợ đã lừa tình nhân vật Tuấn bởi tưởng anh chàng thơ ngây mới từ Việt Nam sang có nhiều tiền… Những câu chuyện khiến người đọc thêm ngậm ngùi trước một thực trạng của người Việt Nam khi ở nước ngoài: chỉ vì tư thù cá nhân, vì lợi ích cá nhân mà đẩy người khác vào cảnh khốn cùng, thậm chí tuyệt vọng. Nhưng đằng sau thực trạng ngậm ngùi ấy, rất may vẫn có những người tốt như nhân vật Tâm trong Kẻ phản bội, Món nợ ân tình, Khổ tận cam lai, Thảo trong Món nợ đời, ông Đồng trong Con sâu… đã âm thầm hay công khai đấu tranh với những con sâu trong xã hội người Việt Nam ở Nga để giúp họ đòi lại công bằng và tìm được hạnh phúc.
2.3. Cuộc sống thấm đẫm tình người nơi xa xứ
Cũng có những tác phẩm mà Nguyễn Đình Lâm kể câu chuyện về những người Việt Nam giàu nghị lực, giàu lòng vị tha, giàu tình yêu và niềm tin. Họ đã vượt lên trên nghịch cảnh để chiến thắng số phận và đem lại niềm vui cho chính bản thân mình. Những tác phẩm mang âm hưởng yêu thương, chia sẻ và nghị lực ấy là Con kiến tật nguyền, Dưới tán hoa siren, Chuyến buôn cuối cùng, Con mèo, Làng Chờ, Trầm cảm, Sương mai, Vượt lên số phận… Trong Con kiến tật nguyền (tập Áo ấm mùa đông), Nguyễn Đình Lâm kể câu chuyện về Quang, một sĩ quan quân đội giải ngũ, đã từng phiên dịch cho phái đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô, một người làm việc có nguyên tắc, trung thực, tốt bụng. Khi xuất ngũ, ước ao được sang Liên Xô làm việc, anh đi theo một đơn vị xuất khẩu lao động. Nhưng Liên Xô tan rã, các hợp đồng bị hủy bỏ và anh buộc phải lao động vất vả để ở lại. Vì không có tiền đăng ký hộ khẩu nên anh bị ngồi tù, chờ ngày về nước. Chua xót, ngậm ngùi, cay đắng, Quang không nuốt nổi đồ ăn trong tù. Nhưng anh còn cay đắng hơn khi buộc phải tuân theo luật lệ của những người Việt Nam vào đây trước anh. Quang phải tẩm quất cho đại ca Lý và khi đại ca không vừa ý đã bắt anh phải chăn kiến trong hai ngày. Không biết ai nghĩ ra hình thức chăn kiến ấy nhưng dường như với Quang, anh lại cảm thấy mình đồng cảm với những con kiến được chăn trong tù làm trò mua vui cho những người Việt Nam bị giam. Anh phát hiện ra những con kiến bị cắt mất một bên chân phải, vì thế, chúng không thể nào đi thẳng và cứ chệch ra khỏi cái vòng tròn đã được vẽ sẵn. Quang ngậm ngùi: “Ai đã làm cho mày tật nguyền thế kia? Mà chúng nó cắt bằng cái gì mà sắc thế? Các chân bị đứt rất đều nhau. Sao số phận của mày và tao, dù khác loài mà lại giống nhau đến thế. Mày chỉ được ở trong lọ và vòng tròn vẽ sẵn, luôn bị người ta hành hạ, còn tao cũng đang bị hành hạ như mày. Người ta thường lấy mày để ví với thân phận nhỏ nhoi, còn tao, tao là con người theo đúng nghĩa của nó, thế mà mày xem tao nào có hơn mày. Mày cần tự do và tao cũng thế, đến bao giờ tao với mày mới được thả tự do hả con kiến tật nguyền?”7. Quang không chỉ đồng cảm, anh còn chăm sóc chúng, cho chúng ăn, canh chừng chúng, tìm hiểu cách sinh hoạt của chúng. Nhờ thế, thời gian trong tù trôi đi rất nhanh. Khi được những người bạn mua cho vé về nước, Quang nhã nhặn chia tay những người tù đã hành hạ mình và xin mang lọ kiến về nước. Điều khiến câu chuyện đọng lại dư âm của yêu thương ấy là khi Quang chào mọi người ra sân bay, khi anh ngoái lại phòng giam, tất cả những người đã hành hạ anh đều vẫy tay chào anh, có lẽ thái độ và cảm xúc của anh đã tác động đến họ, khiến tâm hồn họ bớt chai sạn. Câu chuyện khép lại với những giọt nước mắt cảm động của Quang khi những người bạn của anh đã góp tiền mua vé và mua quà để anh về, những người cửu vạn, bán hàng thuê và cũng không có hộ khẩu hay giấy tờ như anh. Tình người vẫn là điều đáng quý đọng lại trong những câu chuyện của Nguyễn Đình Lâm. Trong truyện ngắn Làng Chờ (tập Tình yêu hàng chợ), câu chuyện tình người – tình yêu của nhân vật Phong và cô giáo Ngần đã gây xúc động mạnh. Xuất phát điểm là một mối tình ngang trái khi Phong và Ngần đều là giáo viên, yêu nhau trong khi Phong đã có gia đình, vợ Phong đang đi học nước ngoài. Khi vợ Phong về, Phong và Ngần chia tay, Ngần bỏ đi sang Đức xuất khẩu lao động nhưng tình cảm của họ vẫn sâu nặng. Phong không thể sống được cùng người vợ thờ ơ, lãnh đạm, chỉ biết phấn đấu sự nghiệp, coi việc ở với Phong như nghĩa vụ nhưng lại đòi hỏi Phong trách nhiệm, anh đã ly hôn, trở sang Nga học tập, lao động kiếm tiền để kiếm cơ hội sang Đức tìm Ngần. Khi Phong sang được Đức thì Ngần đã lại về Việt Nam. Họ vẫn không thể gặp nhau. Nhưng may mắn khi Phong tình cờ đi thăm làng Chờ như một sự tò mò, nơi chỉ dành cho những người phụ nữ độc thân và họ đã hội ngộ nhau tại đây. Câu chuyện như một minh chứng cho sức mạnh của tình yêu và niềm tin đích thực sẽ được đền đáp. Đó cũng là thông điệp của truyện ngắn Trầm cảm (tập Áo ấm mùa đông) với những đổi thay tâm lý tích cực của Lan và Quân – bác sĩ tâm lý tại Matxcova, hay câu chuyện trong Con mèo (tập Tình yêu hàng chợ) với những đổi thay tâm lý tinh tế và đáng yêu của nhân vật Bảo khi chứng kiến con mèo đã cứu sống con gái mình…
Có lẽ những xúc cảm sâu xa nhất nhưng cũng ngọt ngào nhất về nước Nga được Nguyễn Đình Lâm để dành cho nhân vật Việt trong tiểu thuyết Mong manh xứ bạch dương cất lời. Việt sang Nga lập nghiệp với khát khao làm giàu, với ý chí trở thành người công dân có ích. Anh sáng lập Trung tâm Thương mại Âu Lạc để bà con Việt Nam có chỗ buôn bán; anh ra tay cứu giúp những mảnh đời bất hạnh, trong đó có Tâm và Phong – những người bạn chí cốt của anh nhưng đi sai đường (Tâm buộc phải bỏ trốn sang Đức để tránh ngồi tù do bị gài bẫy buôn bán heroin, Phong ngồi tù 10 năm vì tội đưa người sang Nga làm gái mại dâm). Việt đã trải qua những gian nan tột cùng trước những khó khăn của thời mở cửa: Trung tâm bị những người Việt Nam khác ghen ghét hãm hại, bị Giám đốc pháp luật người Nga phản bội và đỉnh điểm là bị tăng tiền thuê nhà một cách vô lý đến mức không thể trả và có nguy cơ giải tán. Nhờ mối quan hệ với những người Nga tốt bụng, Việt đã tìm được giải pháp. Trên đường trở về sau khi tháo gỡ được khó khăn, Việt miên man trong dòng suy nghĩ: “Trước kia mình yêu nước Nga chỉ là vẻ đẹp thiên nhiên và những kỷ niệm sinh viên. Ngày nay mình yêu nước Nga bởi những con người chất phác, hiền lành, sống luôn nghĩ cho người khác như ba ông già vừa gặp. Nếu không có những người nhân hậu như các ông ấy thì không biết Âu Lạc sẽ đi về đâu?”8.
Có những câu chuyện mà Nguyễn Đình Lâm thể hiện niềm tin vào nhận thức của con người, niềm tin vào nghị lực của những người Việt Nam trên đất Nga đã vượt mọi nghịch cảnh để tồn tại. Đó là nhân vật Khang trong Vượt lên số phận (tập Áo ấm mùa đông). Vì lo lắng cho buổi học và thi, Khang đã đánh Anton – cậu bạn Nga ở cùng phòng vì cậu này tổ chức tiệc đến đêm khuya vẫn chưa tàn. Anh bị đuổi học. Không được đi học, không tìm được việc gì để làm, Khang lang thang khắp nơi, cuối cùng đến vùng nông thôn xin đất. Được ông Chủ tịch xã đồng ý, Khang bắt tay vào lao động. Bằng đôi bàn tay, khối óc và nghị lực, vượt qua nắng, mưa, gió, tuyết, đói, rét, ốm, sốt, Khang đã làm mảnh đất hồi sinh. Ông Chủ tịch xã cho anh đất sửng sốt khi thấy nơi xưa kia là miếng đất giữa núi đồi hoang vắng, giờ xanh rờn các loại rau, gà lợn đòi ăn ầm ĩ, “ông ôm chầm lấy Khang, khen không ngớt miệng, khâm phục về ý chí và bản lĩnh của anh vô cùng”9. Sau hai mươi năm, anh đã có một cơ ngơi đồ sộ, trở thành một ông chủ trang trại cung ứng nông sản, được lên truyền hình thành phố… Hành trình của anh là hành trình rất đáng trân trọng – hành trình vượt lên trên sự khắc nghiệt của số phận. Cũng mang âm hưởng ngợi ca nghị lực của những thanh niên Việt trên đất Nga, Dưới tán hoa siren (tập Dưới tán hoa siren) lại viết về Tâm – anh sinh viên người Việt Nam chăm chỉ làm thêm vào mùa hè để có thêm tiền cho ngày về nước. Tâm tham gia đội sinh viên xây dựng chuyên đi về các vùng nông thôn xây nhà kho và chuồng trại chăn nuôi. Công việc nặng nhọc nhưng Tâm không nề hà, ban ngày anh làm việc năng suất ngang người Nga, dù vóc dáng và thể trạng nhỏ bé hơn họ; buổi tối anh vui vẻ tận hưởng thành quả. Cứ chiều đến, khi xong việc ở công trường xây dựng, anh lại dành cho mình những phút nghỉ ngơi dưới tán hoa siren, vừa ngắm hoa vừa nghĩ về quê nhà. Trong những phút thư thái ấy, Tâm thêm yêu cuộc sống hơn, thêm yêu nước Nga hơn: “Ngồi dưới tán hoa siren, hít hà cái hương thơm man mác, ngắm nhìn vẻ đẹp tinh khiết của các chùm hoa đủ màu sắc, chắc ai cũng phải cảm thấy như tâm hồn mình đang được thăng hoa, yêu cuộc sống hơn!”10. Đó là những phút giây ngọt ngào của cuộc sống nơi xứ người mà những tâm hồn như Tâm không thể nào quên.
Qua những câu chuyện được Nguyễn Đình Lâm kể trong Tình yêu hàng chợ, Áo ấm mùa đông, Dưới tán hoa siren, Mong manh xứ bạch dương, người đọc biết thêm về cuộc sống đầy vất vả của người Việt Nam ở Nga. Đó không phải là một cuộc sống màu hồng mà là một cuộc mưu sinh thực sự, một cuộc mưu sinh được đánh đổi bằng mưu trí, sức khỏe, bản lĩnh, sự kiên trì, lòng chung thủy. Nhà văn không ngại miêu tả những mặt trái của cuộc sống ấy, những thói xấu cũng như những “con sâu” người Việt Nam trên đất Nga. Bởi đó là thực tế cuộc sống, là thế giới muôn màu. Dù có những câu chuyện khiến người đọc không khỏi xót xa nhưng đọng lại nhiều hơn trong những truyện ngắn của Nguyễn Đình Lâm vẫn là tình yêu thương, niềm tin vào tình người, tình yêu, nghị lực của con người. Ngay cả việc viết nên những câu chuyện chua xót và thực tế ấy cũng đã là sự dũng cảm và nghị lực của người viết, bởi nhà văn không chỉ ca ngợi mà còn phê phán, không chỉ phản ánh mà còn cảnh tỉnh để bất cứ ai khi đọc cũng tìm được sự cảm thông, chia sẻ và thức tỉnh, làm tiền đề cho những quyết định của mình, nhất là khi rời quê hương đến lập nghiệp nơi xứ người.
Chú thích:
1 Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài (2005), Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Những vấn đề cần biết, NXB. Thế giới, tr. 31. 2, 3 Nguyễn Huy Hoàng (2012), Đếm bước cuộc hành trình, NXB. Lao động - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, tr. 46, 56.
4 Nguyễn Đình Lâm (2005), Tình yêu hàng chợ, NXB. Thanh Niên, tr. 12.
5 Thảo Trang (2024), 25 độ âm, NXB. Phụ nữ Việt Nam, tr. 20-21.
6 Nguyễn Đình Lâm (2005): “Nỗi đau tuyệt vọng”, trong tập Tình yêu hàng chợ, NXB. Thanh Niên, tr. 214.
7 Nguyễn Đình Lâm (2013): “Con kiến tật nguyền”, trong tập Áo ấm mùa đông, NXB. Dân trí, tr. 15.
8 Nguyễn Đình Lâm (2009), Mong manh xứ bạch dương, NXB. Hội Nhà văn, tr. 287.
9 Nguyễn Đình Lâm (2013): “Vượt lên số phận”, trong tập Áo ấm mùa đông, NXB. Dân trí, tr. 88.
10 Nguyễn Đình Lâm (2024): “Dưới tán hoa siren”, trong tập Dưới tán hoa siren, NXB. Hội Nhà văn, tr. 12.