Không phải ngẫu nhiên lúc đất nước còn đắm chìm trong bóng tối của chế độ thực dân nửa phong kiến, khi nói về vai trò quan thiết của văn hóa trong sự phát triển bền vững của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra ánh sáng chân lý của văn hóa bằng sự khẳng định một luận điểm đầy minh triết: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”1. Cũng xuất phát từ luận điểm này, Người đưa ra một định nghĩa về văn hóa, trong đó lý do tồn sinh của văn hóa như một tất yếu gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội và con người khi cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, ở, và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”2. Quả thật, văn hóa của một dân tộc bao giờ cũng gắn với quá trình hiểu biết, khám phá và sáng tạo để hình thành những giá trị văn hóa mang phẩm tính dân tộc, nhân bản và khai phóng, giúp xã hội vươn tới một hằng số văn hóa như sự kết tinh từ những giá trị cao đẹp của nó là chân, thiện, mĩ.
“Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”, hay chính văn hóa là kim chỉ nam, là động lực, là mục tiêu của sự phát triển xã hội. Vì vậy, sự phát triển xã hội, trong đó có nhân tố kinh tế, không thể tách rời văn hóa và ngược lại, sự phát triển văn hóa cũng không thể tách rời sự phát triển kinh tế, xã hội. Phép biện chứng này là một tất yếu của đời sống xã hội, là căn tính của sự phát triển nhìn từ mối quan hệ giữa hai thành tố kinh tế và văn hóa mà Đảng cần quan tâm khi vạch ra đường lối, chính sách trong hành trình lãnh đạo đất nước bước vào kỷ nguyên mới để làm thế nào thực hiện khát vọng xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, giàu mạnh, thịnh vượng, “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như kỳ vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nhìn nhận về những kết quả đạt được từ lĩnh vực văn hóa trong đời sống xã hội 40 năm đổi mới, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã khẳng định việc phát triển văn hoá, con người và xã hội đạt kết quả rất quan trọng, cụ thể, các cấp ủy Đảng đã “nhận thức đầy đủ hơn về vai trò và tầm quan trọng của văn hoá trong phát triển bền vững. Thể chế, chính sách và nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hoá được tăng cường. Hệ thống thiết chế văn hoá được quan tâm xây dựng và phát huy. Các hoạt động văn hoá, sản phẩm văn hoá, nghệ thuật ngày càng đa dạng, phong phú. Công nghiệp văn hoá, dịch vụ văn hoá và thị trường văn hoá từng bước được phát triển. Hội nhập quốc tế về văn hoá ngày càng được mở rộng. Đã xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hoá giai đoạn 2025-2035” (tr. 4). Điều này được thể hiện rõ trong các hoạt động văn hóa những năm gần đây của đất nước, khi chúng ta không phát triển văn hóa một cách đơn thuần theo hướng chỉ coi trọng yếu tố tinh thần của các giá trị văn hóa mà đã kết hợp một cách hài hòa giữa sự phát triển văn hóa và kinh tế, xem yếu tố kinh tế là một nhân tố không thể thiếu trong các sản phẩm văn hóa. “Là một dạng thức mới của một ngành kinh tế, hay nói cách khác, đó là kết quả của quá trình kinh tế trong văn hóa”3 nên trong sự phát triển kinh tế của một số nước trên thế giới đã hình thành các ngành kinh tế đặc thù, gắn kết giữa kinh tế với văn hóa như: công nghiệp xuất bản, công nghiệp điện ảnh, công nghiệp vui chơi giải trí, công nghiệp nghe nhìn... Ở nước ta, việc phát triển các lễ hội (festival) rầm rộ trong nhiều lĩnh vực ở các địa phương như: Festival Lúa gạo ở Hậu Giang (2009), Festival Lúa gạo Việt Nam ở Hậu Giang (2023), ở Sóc Trăng (2011); Festival Điều ở Bình Phước (2010); Festival Trà Quốc tế Thái Nguyên (2011); Festival Hoa ở Đà Lạt - Lâm Đồng (2012); Festival Hoa ở Sa Đéc (2023); Festival Dừa ở Bến Tre (2012); Festival Biển ở Vũng Tàu (2012), ở Nha Trang (2013,..., 2023, 2025); Festival Café Buôn Ma Thuột (2013,..., 2023); Festival Nghề truyền thống Huế (2013, 2015, 2017, 2019, 2021, 2023, 2025)... cũng đã cho thấy sự gắn bó mật thiết, hữu cơ giữa sự phát triển kinh tế và văn hóa. Tuy nước ta chưa có những ngành kinh tế công nghiệp đặc thù về văn hóa như các nước tiên tiến trên thế giới nhưng không vì thế mà các yếu tố văn hóa không trở thành động lực, mục tiêu của sự phát triển kinh tế, xã hội nếu chúng ta chú trọng đến phép biện chứng trong mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế.
Song nhìn vào thực tiễn của quá trình xây dựng và phát triển đất nước những năm qua, không phải lúc nào mối quan hệ biện chứng mang tính quy luật này cũng được tôn trọng và vận dụng một cách đúng đắn. Ngược lại, có lúc, có nơi quy luật ấy không được quan tâm đúng mức, không được nhận thức đầy đủ về giá trị của nó khi vận dụng vào thực tiễn của công cuộc xây dựng đất nước, mặc dù người ta vẫn “thuộc lòng” Nghị quyết: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”. Chính vì vậy, có hiện tượng xem nhẹ vai trò của văn hóa, “chỉ lo tăng trưởng kinh tế đơn thuần, không giải quyết đúng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển, cho rằng kinh tế, khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định toàn bộ sự phát triển, còn các yếu tố văn hóa không đóng góp trực tiếp cho sự phát triển”4. Từ quan điểm sai lệch này, một số nơi đã chạy theo sự phát triển kinh tế đơn thuần mà không hề quan tâm đến vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, họ đã đi đến một số hành động cực đoan, sẵn sàng “hi sinh”, phá bỏ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của địa phương nhằm “ưu tiên”, “đầu tư” cho những “dự án” gắn với “lợi ích nhóm” để “phát triển” kinh tế - xã hội với những lời thuyết minh có cánh nhằm qua mặt cơ quan chức năng mà không hề quan tâm đến việc kiến tạo những công trình văn hóa để nâng cao đời sống văn hóa vật chất và tinh thần cho cộng đồng trên tinh thần dân tộc, nhân bản và khai phóng, làm thế nào thực hiện tốt nhất nguyên lý “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”.
Nhận thức thiếu tính biện chứng như trên dẫn đến thực trạng nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước đã “vô tư” phá bỏ, di dời một số thiết chế văn hóa hoặc những kiến trúc văn hóa cổ kính vốn là những di sản văn hóa đã gắn bó với tâm thức và ký ức văn hóa của cộng đồng cư dân bao thế hệ để “ưu tiên” xây dựng nhà hàng, khách sạn, các trung tâm kinh tế, thương mại... Không những thế, ở một số địa phương có bờ biển, người ta tha hồ lấn biển, xâm hại môi trường sinh thái biển một cách lạnh lùng để xây resort phục vụ cho “phát triển kinh tế”, nhằm tận thu ngân sách cho địa phương mà không hề lưu tâm đến môi trường văn hóa, đến không gian văn hóa của cư dân ven biển, dẫn đến tình trạng trẻ em vùng biển không còn bãi cát để vui chơi, nô đùa; người già không còn những rừng phi lao để nghỉ ngơi tĩnh dưỡng... Cứ thế, những ngôi nhà chọc trời lại mọc lên, những nhà hàng ồn ào, náo động hơn cả tiếng sóng lại được xây dựng nuốt chửng vào nó vẻ đẹp thơ mộng ngàn đời của không gian văn hóa biển, khiến những con người khát khao vẻ đẹp hoang sơ của biển không khỏi chạnh lòng. Ở Tây Nguyên, cũng với quan điểm chạy theo sự phát triển kinh tế đơn thuần mà nhiều năm qua người ta đã băm nát những cánh rừng đầy huyền thoại của Tây Nguyên hùng vĩ để khai thác gỗ, khai thác tài nguyên rừng mà không hề quan tâm đến việc trồng rừng, kiến tạo văn hóa rừng vốn là một giá trị không thể thay thế của vùng đất Tây Nguyên – bởi rừng là môi trường sống gắn bó máu thịt với sự tồn sinh ngàn đời của đồng bào các tộc người Tây Nguyên. Ở các vùng nông thôn, làng xóm vốn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống hàng ngàn năm, nay cũng đứng trước nguy cơ bị “mất trắng” những giá trị văn hóa truyền thống. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với đô thị hóa cũng làm biến dạng diện mạo văn hóa nông thôn làng xã Việt Nam mà nếu không có một sự kiểm soát và định hướng tốt, chắc hẳn trong một thời gian không xa, chúng ta khó tìm thấy dấu ấn của những giá trị văn hóa truyền thống ở các làng quê Việt Nam vốn yên bình và thơ mộng. Vì vậy, trong việc xây dựng nông thôn mới, khi đề ra các tiêu chí cũng cần lưu ý đến mối quan hệ biện chứng trong sự phát triển giữa văn hóa và kinh tế. Điều này, theo chúng tôi cũng cần được bổ sung trong Dự thảo Báo cáo chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Có như vậy thì chúng ta mới kiến tạo được diện mạo nông thôn Việt Nam trong kỷ nguyên mới là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa văn hóa và kinh tế, và việc phát triển nông thôn mới của chúng ta mới đáp ứng yêu cầu nhân văn của một đất nước có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với những phẩm tính cơ bản: dân tộc, nhân bản và khai phóng.
Có thể nói, tất cả những thực trạng nêu trên đã được các phương tiện truyền thông đại chúng cảnh báo rất nhiều trong những năm qua, từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới. Nhưng xem chừng tình hình này vẫn không được cải thiện, trái lại, nguy cơ càng ngày càng trầm trọng hơn mà hệ quả gần đây với những thiệt hại về con người và của cải vô cùng đau thương của nhân dân ở các vùng Tây Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, các tỉnh Tây Nguyên, Trung Bộ do bão lũ, sạt lở đất chồng chất liên tục là những minh chứng cho sự phát triển nóng, phát triển không tôn trọng quy luật của phép biện chứng về sự phát triển trong mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, mà cụ thể ở đây là việc tôn trọng môi trường sinh thái văn hóa trong việc xây dựng các chương trình mục tiêu, đề án phát triển kinh tế ở các địa phương cũng như trên phạm vi cả nước.
Sự vận hành nền kinh tế của đất nước nếu không tuân thủ quy luật của phép biện chứng sẽ đặt nền văn hóa của đất nước trước nguy cơ bị bức tử do quan điểm phát triển kinh tế đơn thuần và xem “tăng trưởng kinh tế tự nó sẽ giải quyết những vấn đề về văn hóa và xã hội”5. Hậu quả của quan điểm sai lầm này đã dẫn đến những hệ quả đáng quan ngại khi cùng với sự tăng trưởng kinh tế là sự suy thoái về mặt đạo đức, lối sống, sự xuống cấp của nhiều giá trị văn hóa và tinh thần. Chưa bao giờ nạn bạo hành và bạo lực từ trong học đường cho đến ngoài xã hội lại nhiều như hiện nay. Thói vô cảm, sự thờ ơ với nỗi đau của đồng loại đang là một căn bệnh trầm kha trong cộng đồng. Nạn tham nhũng, hối lộ từ những dự án kinh tế của đất nước đã trở thành những vụ án dù đã đưa ra xét xử để nghiêm trị trước pháp luật nhưng cũng đã và đang làm xói mòn niềm tin của nhân dân. Phải chăng đó là do sự phát triển kinh tế theo kiểu bất chấp nền tảng văn hóa, tăng trưởng thô bạo, tăng trưởng mất gốc hay tăng trưởng bất chấp tương lai như người ta đã nói? Sự phát triển vênh lệch này sẽ tạo ra những hạng người không hoàn thiện về nhân cách, làm đảo lộn mọi giá trị xã hội! Như vậy, đất nước sẽ đi về đâu, dân tộc sẽ đi về đâu trong thời kỳ hội nhập của quá trình toàn cầu hóa hôm nay!? Câu hỏi ấy không chỉ đơn thuần là tiếng gọi đầy trách nhiệm của hiện tại, của tương lai mà còn là tiếng vọng thao thiết từ trong tâm thức của truyền thống văn hóa dân tộc. Không trả lời được câu hỏi này là chúng ta “có tội với tiền nhân”, với muôn đời “con cháu mai sau”. Điều này cũng đã được chỉ ra trong Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng: “Văn hoá chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh và động lực mạnh mẽ của sự phát triển. Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam chậm được làm rõ. Chưa tạo lập được đồng bộ cơ chế, chính sách, môi trường xã hội cần thiết cho sự phát triển toàn diện con người, nguồn nhân lực chất lượng cao và trọng dụng nhân tài. Đầu tư cho văn hoá còn thấp và dàn trải. Công nghiệp văn hoá, dịch vụ văn hoá, du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Thị trường văn hoá chậm phát triển. Môi trường văn hoá chưa thật sự lành mạnh; đạo đức xã hội còn biểu hiện xuống cấp. Việc quản lý một số hoạt động văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng còn bất cập, có dấu hiệu bị buông lỏng. Cơ hội tiếp cận và mức độ thụ hưởng thành quả phát triển văn hoá còn chênh lệch giữa các vùng, miền, tầng lớp nhân dân” (tr. 11-12). Vì vậy, như đã nói ở trên, trong Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ XIV cần nêu định hướng về phép biện chứng của sự phát triển giữa văn hóa và kinh tế như một cơ sở lý luận để sau này sẽ được cụ thể hóa trong chính sách của Nhà nước. Có như vậy, đất nước mới có thể phát triển một cách bền vững khi bước vào kỷ nguyên mới.
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, F. Mayor – nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, bằng sự nghiệm sinh của mình trong quá trình theo dõi sự phát triển của các dân tộc trên thế giới, đã xác quyết: “Kinh nghiệm của hai thập kỷ qua cho thấy rằng trong mọi xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triển kinh tế nào, hoặc theo xu hướng chính trị nào, văn hóa và phát triển là hai mặt gắn liền với nhau [...]. Hễ nước nào tự đặt ra cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều”6. Rõ ràng sự khẳng định của nguyên Tổng Giám đốc UNESCO đã là một minh chứng hùng hồn cho phép biện chứng về sự phát triển giữa văn hóa và kinh tế. Đó không chỉ là một kinh nghiệm đơn thuần mà còn là một giá trị mang tính quy luật trong sự phát triển kinh tế và văn hóa của mọi quốc gia. Phải chăng xuất phát từ bài học kinh nghiệm này nên trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) cũng như nhiều nghị quyết sau này của Đảng như các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, XII, XIII đã luôn khẳng định vai trò của văn hóa trong sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như mối quan hệ kinh tế và văn hóa khi cho rằng: “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”7.
Thật vậy, trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự phát triển của nền kinh tế tri thức đang là một giá trị khẳng định tính hơn hẳn của các sản phẩm kinh tế. Tỉ lệ chất xám trong các sản phẩm kinh tế, xã hội ngày càng lớn và như thế đồng nghĩa với các yếu tố văn hóa ngày càng có vai trò quyết định đến giá trị của các sản phẩm kinh tế. Chưa bao giờ “yếu tính của văn hóa với ý nghĩa là một quá trình sáng tạo” lại được các dân tộc quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế như lúc này. Việc từ lâu Đảng đã xem giáo dục và công nghệ là quốc sách hàng đầu để phát triển kinh tế, xã hội cũng đã khẳng định điều đó. Vì vậy, Cương lĩnh của Đảng được thông qua tại Đại hội lần thứ XI đã khẳng đinh: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ, làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”8; trong Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng cũng đã khẳng định: “Xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với các giá trị cơ bản: Dân tộc, dân chủ, nhân văn và khoa học; bảo đảm phát triển văn hoá ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, để văn hoá thực sự là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước; xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. [...] Phát triển các làng nghề gắn với phát huy các giá trị văn hoá và bảo vệ môi trường” (tr. 23).
Những điều Đảng đã đề cập trong Cương lĩnh cũng như trong các nghị quyết cũng cho thấy rõ sự gắn bó giữa kinh tế và văn hóa như một phép biện chứng của sự phát triển. Song để khái quát nó thành một quan điểm mang tính luận lý và cần ghi rõ trong Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thì chưa được đề cấp đến. Vì thế, đây là vấn đề cần được quan tâm, bởi chỉ có nhận thức một cách đúng đắn và tuân theo những quy luật vận động khách quan của cuộc sống, trong đó có quy luật về phép biện chứng trong sự phát triển giữa văn hóa và kinh tế, không nóng vội, duy ý chí thì chúng ta mới mong thoát khỏi khủng hoảng và đưa đất nước đi lên trong kỷ nguyên mới để xây dựng một nước Việt Nam có nền kinh tế, xã hội phồn vinh, thịnh vượng trên nền tảng một nền văn hóa Việt Nam “tiên tiến, đâm đà bản sắc dân tộc” với những phẩm tính phổ quát gắn với xu hướng toàn cầu hóa. Đó là một dòng sinh mệnh văn hóa gắn với tâm thức: dân tộc, nhân bản, khai phóng... bởi phép biện chứng nhìn từ mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa là vấn đề không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về thực tiễn nhằm “Đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng và quản lý tốt môi trường văn hoá; phát triển và quản lý có hiệu quả thị trường sản phẩm, dịch vụ văn hoá số. Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, năng lực sáng tạo, thẩm mĩ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp” (tr. 27) như tinh thần Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã định hướng.
Chú thích:
1, 2 Hồ Chí Minh (1997), Về văn hóa, Bảo tàng Hồ Chí Minh xuất bản, tr. 320, 320.
3, 4, 5 Đinh Xuân Dũng (2012), Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, văn học nghệ thuật trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, NXB. Chính trị quốc gia - Sự thật, tr. 22, 19, 19.
6 Ủy ban quốc gia về Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa (1992), Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, Bộ Văn hóa - Thông tin và Thể thao, tr. 23.
7, 8 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ XI, NXB. Chính trị Quốc gia - Sự thật, tr. 75, 76.