1. Thể chế văn hóa trong tiến trình phát triển đất nước: yêu cầu đặt ra từ thực tiễn
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán khẳng định vị trí đặc biệt của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển bền vững. Tuy nhiên, nhìn từ thực tiễn phát triển những năm qua, có thể thấy văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ như kỳ vọng; nhiều chủ trương, định hướng đúng đắn về văn hóa chậm được hiện thực hóa; hiệu quả quản lý và phát triển văn hóa còn những hạn chế nhất định. “Các chương trình, kế hoạch cụ thể trong xây dựng các cơ chế, chính sách về phát triển văn hóa, con người và tổ chức thực hiện còn chưa sát hợp với thực tiễn đang thay đổi rất nhanh. Đặc biệt, với cách tiếp cận mới về vai trò của văn hóa trong phát triển, các chiến lược, kế hoạch và nguồn lực cho phát triển văn hóa vẫn chưa được kết nối đồng bộ với các chiến lược, kế hoạch và nguồn lực phát triển của các ngành, lĩnh vực khác và chưa đặt trong sự phát triển tổng thể, hài hòa nhưng có trọng tâm, trọng điểm của phát triển quốc gia, các vùng miền và địa phương trong cả nước”1. Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV thẳng thắn chỉ ra rằng: “Văn hoá chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh và động lực mạnh mẽ của sự phát triển”, “chưa tạo lập được đồng bộ cơ chế, chính sách, môi trường xã hội cần thiết cho sự phát triển toàn diện con người, nguồn nhân lực chất lượng cao và trọng dụng nhân tài. Đầu tư cho văn hoá còn thấp và dàn trải. Công nghiệp văn hoá, dịch vụ văn hoá, du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Thị trường văn hoá chậm phát triển. Môi trường văn hoá chưa thật sự lành mạnh; đạo đức xã hội còn biểu hiện xuống cấp”2.
Những hạn chế đó không chỉ xuất phát từ điều kiện kinh tế hay nguồn lực đầu tư, mà sâu xa hơn là từ thể chế phát triển văn hóa. Trong một thời gian dài, văn hóa và quản lý văn hóa chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ giá trị tinh thần, vận động xã hội và quản lý hành chính, trong khi các cơ chế, chính sách cụ thể để biến văn hóa thành động lực phát triển còn thiếu đồng bộ, chậm đổi mới và chưa theo kịp yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số. “Phương thức lãnh đạo và quản lý văn hóa chậm được đổi mới, chưa thích ứng kịp thời với sự vận động và phát triển văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện đường lối văn hóa của Đảng còn thiếu đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả”3. Chính vì vậy, khoảng cách giữa nhận thức và hành động trong lĩnh vực văn hóa vẫn tồn tại, làm giảm hiệu quả của nhiều chủ trương lớn.
Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận lại phát triển văn hóa từ góc độ thể chế, coi thể chế văn hóa là một bộ phận hữu cơ của thể chế phát triển đất nước. Chỉ khi các giá trị văn hóa được “dịch chuyển” thành những cơ chế vận hành cụ thể, được bảo đảm bằng pháp luật, chính sách và các công cụ quản trị phù hợp, văn hóa mới có thể thực sự phát huy vai trò là nguồn lực nội sinh cho phát triển. Đây chính là bối cảnh và yêu cầu thực tiễn để Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đặt vấn đề hoàn thiện thể chế, trong đó có thể chế văn hóa, như một nội dung trọng tâm, có ý nghĩa nền tảng.
2. Hoàn thiện thể chế trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV: bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về văn hóa
Một trong những điểm mới nổi bật của Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV là lần đầu tiên vấn đề hoàn thiện thể chế phát triển đất nước được dành thành một mục riêng, được đặt ở vị trí có tính xuyên suốt trong tổng thể định hướng phát triển giai đoạn tới. Cách cấu trúc này cho thấy sự chuyển biến quan trọng trong tư duy của Đảng, từ nhấn mạnh chủ trương, định hướng sang coi trọng thiết kế và vận hành thể chế như điều kiện quyết định để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển.
Trong chỉnh thể đó, thể chế văn hóa không đứng riêng lẻ mà được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với thể chế kinh tế, chính trị và xã hội. Điều này phản ánh nhận thức ngày càng rõ ràng rằng văn hóa không chỉ là lĩnh vực giá trị tinh thần thuần túy mà còn là một cấu phần quan trọng của hệ thống phát triển quốc gia, cần được tổ chức, điều tiết và thúc đẩy bằng các cơ chế, chính sách phù hợp. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV cho thấy quyết tâm chính trị trong việc đổi mới tư duy và cách tiếp cận đối với thể chế nói chung và thể chế văn hóa nói riêng: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, bảo đảm quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của nhân dân; tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng”4.
Việc đặt thể chế văn hóa trong mục hoàn thiện thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước hết, nó khẳng định phát triển văn hóa không thể chỉ dựa vào vận động xã hội hay quản lý hành chính mà phải được bảo đảm bằng một hệ thống thể chế đồng bộ, ổn định và có khả năng kiến tạo phát triển. Thứ hai, cách tiếp cận này mở ra khả năng chuyển từ tư duy “quản lý văn hóa” sang tư duy “kiến tạo phát triển văn hóa”, trong đó nhà nước đóng vai trò thiết lập khuôn khổ pháp lý, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để các chủ thể xã hội tham gia sáng tạo, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Cuối cùng, đây cũng là cơ sở để giải quyết những vấn đề tồn tại kéo dài trong phát triển văn hóa, từ môi trường văn hóa, thiết chế văn hóa, di sản văn hóa, công nghiệp văn hóa, thị trường sản phẩm và dịch vụ văn hóa,… đến việc bảo đảm vai trò chủ thể của nhân dân trong đời sống văn hóa.
Như vậy, việc Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV lần đầu tiên đặt trọng tâm vào hoàn thiện thể chế, trong đó có thể chế văn hóa, không chỉ là sự điều chỉnh về cấu trúc văn bản mà còn phản ánh một bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về con đường phát triển văn hóa. Đây chính là tiền đề quan trọng để “bảo đảm phát triển văn hoá ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, để văn hoá thực sự là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”5.
3. Nội dung thể chế văn hóa trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV
3.1. Chuyển đổi phương thức quản trị văn hóa theo hướng kiến tạo phát triển
Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt trong cách tiếp cận đối với quản trị văn hóa gắn với yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Nếu như trong một thời gian dài, quản lý văn hóa chủ yếu được thực hiện theo logic hành chính, nhấn mạnh kiểm soát và quản lý hoạt động, thì Dự thảo lần này đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị theo hướng phù hợp hơn với bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số. Cách đặt vấn đề này xuất phát từ thực tiễn nhiều chủ trương đúng về phát triển văn hóa chậm đi vào cuộc sống, hiệu quả chưa cao, trong đó có nguyên nhân quan trọng từ hạn chế của thể chế và phương thức quản lý.
Trong tiếp cận mới của Dự thảo, quản trị văn hóa không còn được hiểu chủ yếu là hoạt động quản lý hành chính các lĩnh vực văn hóa cụ thể mà được đặt trong mối quan hệ với nhiệm vụ kiến tạo môi trường và điều kiện phát triển. Điều đó thể hiện ở việc nhấn mạnh hoàn thiện thể chế, chính sách, tạo lập môi trường văn hóa lành mạnh, khơi thông và phát huy các nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa. Vai trò của nhà nước theo đó được xác định lại theo hướng tập trung vào thiết kế khuôn khổ pháp lý, cơ chế chính sách và công cụ điều tiết phù hợp thay vì can thiệp sâu vào hoạt động sáng tạo và đời sống văn hóa xã hội.
Chuyển đổi phương thức quản trị văn hóa theo hướng kiến tạo phát triển cũng hàm ý sự thay đổi trong cách nhìn về mối quan hệ giữa nhà nước và các chủ thể xã hội. Dự thảo nhấn mạnh phát huy vai trò của nhân dân, cộng đồng và các chủ thể xã hội trong sáng tạo, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, coi đây là điều kiện quan trọng để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh của phát triển. Khi quản trị văn hóa được đặt trên nền tảng thể chế kiến tạo, các lĩnh vực cụ thể của văn hóa, từ công nghiệp văn hóa đến di sản văn hóa, không còn vận hành rời rạc mà được đặt trong một chỉnh thể thống nhất, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
3.2. Hàm ý thể chế rút ra từ các nội dung phát triển văn hóa trong Dự thảo Văn kiện
Bên cạnh việc đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị văn hóa theo hướng kiến tạo phát triển, Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV còn đề cập đến nhiều nội dung cụ thể của phát triển văn hóa trong bối cảnh mới. Mặc dù các nội dung này chưa được trình bày trực tiếp dưới dạng các luận điểm về thể chế văn hóa, song từ cách Dự thảo đánh giá những hạn chế và định hướng phát triển đối với các lĩnh vực văn hóa, có thể nhận thấy những hàm ý quan trọng liên quan đến yêu cầu hoàn thiện thể chế trong lĩnh vực này.
Chẳng hạn, khi Dự thảo chỉ ra rằng công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa và thị trường văn hóa phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, điều đó không chỉ phản ánh vấn đề về quy mô hay nguồn lực đầu tư mà còn gợi mở yêu cầu phải xem xét các điều kiện vận hành và môi trường phát triển của các hoạt động văn hóa trong nền kinh tế thị trường. Từ góc độ nghiên cứu, có thể thấy rằng sự phát triển của các lĩnh vực này phụ thuộc không nhỏ vào khuôn khổ cơ chế, chính sách và các điều kiện bảo đảm thực thi. Khi các yếu tố thể chế chưa đồng bộ hoặc chưa tạo được động lực phù hợp, tiềm năng văn hóa khó có thể được chuyển hóa thành giá trị và nguồn lực phát triển bền vững.
Tương tự, cách Dự thảo tiếp cận di sản văn hóa theo hướng gắn bảo tồn với phát huy giá trị, gắn di sản với phát triển kinh tế - xã hội và đời sống cộng đồng, trong đó có đề cập đến phát triển kinh tế di sản, hàm chứa những gợi mở thể chế đáng chú ý. Việc lần đầu tiên đưa nội dung kinh tế di sản vào định hướng phát triển cho thấy di sản không chỉ được nhìn nhận như đối tượng bảo tồn mà còn như một nguồn lực văn hóa có thể đóng góp cho phát triển nếu được phát huy phù hợp. Tuy nhiên, cách đặt vấn đề trong Dự thảo không tách rời kinh tế di sản khỏi yêu cầu bảo tồn và phát huy giá trị mà đặt nội dung này trong chỉnh thể mục tiêu phát triển bền vững.
Từ góc độ nghiên cứu, điều này gợi mở rằng bảo tồn và phát huy di sản không thể chỉ dựa vào các biện pháp quản lý chuyên ngành hay đầu tư ngân sách đơn thuần mà cần được đặt trong tổng thể các cơ chế quản trị, phân bổ nguồn lực và phối hợp giữa các chủ thể liên quan. Hàm ý thể chế ở đây không nằm ở việc mở rộng các hoạt động gắn với di sản một cách giản đơn mà ở việc thiết kế khuôn khổ chính sách đủ rõ ràng và linh hoạt để vừa bảo đảm gìn giữ các giá trị cốt lõi vừa tạo điều kiện cho di sản tham gia vào đời sống kinh tế - xã hội một cách phù hợp, tránh cả xu hướng hành chính hóa lẫn thương mại hóa cực đoan.
Một hàm ý thể chế khác có thể rút ra từ Dự thảo là yêu cầu phát huy vai trò của các chủ thể xã hội, đặc biệt là nhân dân và cộng đồng trong phát triển văn hóa. Dự thảo nhiều lần nhấn mạnh vai trò trung tâm của nhân dân trong sự nghiệp phát triển đất nước, đồng thời đặt ra yêu cầu xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách để bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Phát triển văn hóa bền vững không thể tách rời việc thiết kế các cơ chế phù hợp để người dân và cộng đồng tham gia thực chất vào quá trình sáng tạo, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa.
Như vậy, dù Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV chưa trực tiếp xây dựng một hệ thống luận điểm hoàn chỉnh về thể chế văn hóa đối với từng lĩnh vực cụ thể, song từ các nội dung và cách đặt vấn đề trong Văn kiện có thể nhận thấy yêu cầu xuyên suốt là cần tiếp cận phát triển văn hóa từ góc độ thể chế. Những hàm ý này, khi được tiếp tục nghiên cứu và cụ thể hóa một cách phù hợp, sẽ góp phần làm rõ hơn con đường để văn hóa thực sự trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực to lớn, hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
4. Một số gợi mở từ Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV về hoàn thiện thể chế văn hóa
Từ những nội dung được phân tích trong Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV, có thể nhận thấy yêu cầu hoàn thiện thể chế văn hóa không được đặt ra như một nhiệm vụ kỹ thuật đơn lẻ mà gắn chặt với mục tiêu hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Cách tiếp cận này cho thấy phát triển văn hóa không thể tách rời khỏi yêu cầu đổi mới tư duy quản trị, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống thể chế nói chung. Văn hóa, trong chỉnh thể đó, vừa chịu tác động của thể chế chung vừa đòi hỏi những cơ chế đặc thù phù hợp với tính chất sáng tạo, giá trị và xã hội của lĩnh vực này.
Một gợi mở quan trọng từ Dự thảo là yêu cầu bảo đảm tính đồng bộ và nhất quán của thể chế văn hóa trong mối quan hệ với thể chế kinh tế, chính trị và xã hội. Thực tiễn cho thấy, khi thể chế văn hóa vận hành rời rạc, thiếu liên thông với các lĩnh vực khác thì các mục tiêu phát triển văn hóa khó đạt được hiệu quả mong muốn. Việc đặt thể chế văn hóa trong mục hoàn thiện thể chế phát triển đất nước vì vậy hàm ý rằng những vấn đề của văn hóa cần được xem xét trong tổng thể vận hành của hệ thống chính sách, từ phân bổ nguồn lực, phối hợp liên ngành đến tổ chức thực thi ở các cấp.
Dự thảo Văn kiện cũng gợi mở yêu cầu chuyển trọng tâm từ ban hành chủ trương sang nâng cao năng lực thực thi thể chế văn hóa. Không ít hạn chế trong phát triển văn hóa thời gian qua xuất phát từ khoảng cách giữa định hướng chính sách và khả năng triển khai trong thực tiễn. Do đó, hoàn thiện thể chế văn hóa không chỉ là việc bổ sung, sửa đổi các quy định pháp luật mà còn là vấn đề nâng cao chất lượng quản trị, làm rõ trách nhiệm của các chủ thể và bảo đảm các điều kiện để thể chế đi vào đời sống xã hội.
Bên cạnh đó, các nội dung của Dự thảo cho thấy yêu cầu chú trọng hơn tới tính linh hoạt và khả năng thích ứng của thể chế văn hóa trong bối cảnh mới. Sự phát triển của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số đang tạo ra những không gian văn hóa mới, đồng thời đặt ra những thách thức mới đối với quản lý và phát triển văn hóa. Điều này đòi hỏi thể chế văn hóa không chỉ bảo đảm tính ổn định mà còn đủ mở để khuyến khích sáng tạo, phát huy nguồn lực xã hội, đồng thời giữ vững các giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc.
Những gợi mở trên cho thấy việc hoàn thiện thể chế văn hóa theo tinh thần Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV không nhằm tạo ra những thay đổi mang tính hình thức mà hướng tới xây dựng một khuôn khổ thể chế có khả năng kiến tạo phát triển, trong đó văn hóa được phát huy đúng vai trò là nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực của phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV cho thấy bước tiến trong tư duy của Đảng về văn hóa, thể hiện qua cách tiếp cận ngày càng gắn văn hóa với yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển của đất nước. Việc đặt thể chế văn hóa trong chỉnh thể thể chế kinh tế, chính trị và xã hội phản ánh nhận thức rõ hơn về những điều kiện nền tảng chi phối hiệu quả của các mục tiêu văn hóa trong giai đoạn mới. Từ góc độ nghiên cứu, tiếp cận Dự thảo Văn kiện theo hướng thể chế giúp làm rõ sự chuyển đổi trong phương thức quản trị văn hóa, từ nhấn mạnh quản lý hành chính sang coi trọng kiến tạo môi trường và điều kiện vận hành phù hợp. Cách tiếp cận này đồng thời gợi mở những yêu cầu đối với việc thiết kế và thực thi các cơ chế nhằm khơi thông và phát huy các nguồn lực văn hóa trong đời sống xã hội. Việc hiện thực hóa tinh thần thể chế được thể hiện trong Dự thảo sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với vai trò của văn hóa trong tiến trình phát triển bền vững đất nước thời gian tới.
Chú thích:
* Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
1 Ủy ban Văn hóa giáo dục của Quốc hội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tỉnh Bắc Ninh (2023), Thể chế, chính sách và nguồn lực cho phát triển văn hóa, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia, NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 15.
2,3,4https://dangcongsan.vn/gop-y-du-thao-vankien-dai-hoi-xiv-cua-dang/du-thao-bao-caochinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dangkhoa-xiii-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thuxiv-cua-dan3.html?categoryId=3000343.
5 Nguyễn Phú Trọng (2024), Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 42.