1. Đặc sắc nghệ thuật múa Tắc Xình của người Cao Lan ở Tuyên Quang
Múa Tắc Xình của người Cao Lan có khoảng trên 10 điệu múa như: múa Xúc tép (Tệt Soọc côông), Nhảy ma (Tệt màng), múa Thỉnh thần an tọa (Tệt sếnh sằn an xu), múa Bái lễ (Tệt pai), Thỉnh nhị thập tứ hiếu (Sịnh ngưi sệp slơi hi), Đạp lên bước xuống (Tợp xưng), Phát lộ hanh thông (Hai tao són lô), Múa cờ (Sêu cầy), múa Chim gâu (Tệt nộc lau), Nhảy tam thanh (Tệt slam sênh), Dâng hương (Phu dinh), múa Khai đèn (Tém tăng), múa Phá ngục cõi âm (Phu nhục), Vũ điệu ngày mùa1...
Múa Xúc tép (Tệt Soọc cộng): Diễn tả cuộc đi xúc tép dưới suối của các cô gái Cao Lan. Điệu múa này thời xưa chỉ có nam giới diễn, vì phụ nữ không được tham gia vào những công việc thuộc về nghi lễ tâm linh. Số người múa cũng tùy thuộc vào số lượng người tham gia (khoảng 8-12 người), chia thành nhóm 4 người một, quay mặt vào nhau thành một vòng tròn thể hiện tinh thần đoàn kết. Khi múa vừa xoay người vừa chuyển vị trí giống như mò tìm tôm cá, động tác có lúc chậm rãi như kiểu thăm dò, có lúc nhanh mạnh dứt khoát như khi xúc được tôm tép. Không khí vui nhộn, đoàn múa vừa đi vừa nhảy, tay cầm vợt xúc xuống, đi theo hình ngoằn ngoèo như dòng suối. Nhạc trống mỗi lúc một dồn dập, khi xúc được cá to họ reo lên “hui hui” và cười vui.
Nhảy ma (Tệt màng): Là điệu múa phổ thông dùng cho tất cả mọi người từ già tới trẻ, không giới hạn bao nhiêu người múa. Thường có 3 động tác chủ yếu: Thứ nhất là hai tay đan vào nhau giơ lên che mặt, vừa múa vừa tự xoay quanh mình thể hiện sự khép nép chưa muốn lộ mình của những đạo tràng mới bắt đầu học múa. Động tác thứ hai quay mặt vào trong, hai tay chụm vào giữa thể hiện sự soi tỏ, lộ diện dần dần. Động tác thứ ba, một tay chống hông, một tay vẫy thấp trước mặt thể hiện sự chào hỏi, mời mọc rằng “ta ở đây rồi”. Cứ như thế các động tác múa lặp đi lặp lại cho đến khi thuộc và quen với nhịp trống, người nào mệt thì nghỉ, người ngoài lại vào cuộc nhảy, không được dừng. Trống cũng được đánh liên tục từ 3 đến 4 giờ. Ngày xưa, các cụ thường dùng điệu múa Nhảy ma làm thước đo cho sự trưởng thành của nam thanh niên Cao Lan. Vì thế, các cụ thường hỏi thanh niên dân tộc Cao Lan: “Anh có biết Nhảy ma không?”. Nếu câu trả lời là không thì chắc chắn sẽ có cảm giác bị coi thường. Còn nếu trả lời một cách khiêm tốn biết nhảy nhưng không được dẻo thì được người lớn tôn trọng hơn. Ngày nay, điệu Nhảy ma đã được bà con đồng bào Cao Lan nhận thức với một ý nghĩa cởi mở, khoáng đạt hơn. Đồng bào coi đây là điệu múa vui nhộn nhất vì khi tham gia cuộc múa, mọi người dường như xóa đi mọi mặc cảm, e dè ban đầu, để lại những tiếng cười náo nhiệt, chỉ còn lại tinh thần cộng cảm, cố kết cộng đồng.
Điệu Thỉnh thần an tọa (Sếnh sằn an xu): Đồng bào còn hay gọi nôm na là “Vặt rau cải sống”. Thực hiện điệu múa gồm 4 vị đạo tràng mặc áo dài, biểu hiện 3 động tác cơ bản: Lúc đứng múa ở ngoài, một tay đỡ khuỷu tay kia vẫy chào thể hiện sự kính mời. Khi vào là vào thẳng chân, hai bàn tay bưng lên, bưng xuống thể hiện ý nghĩa mời ngồi. Lúc đi ra, hai tay đan vào nhau giống động tác thứ nhất trong điệu Nhảy ma, vừa đi vừa nhảy thể hiện ý niệm đang di chuyển trên đường.
Điệu Bái lễ (Tệt pai): Gồm 2 hoặc 4 người múa, cứ 2 người này vào thì 2 người kia nhảy ra hoán đổi liên tục. Khi vào trong, hạ hai đầu gối xuống, hai tay đưa ra trước gật đầu làm 3 lễ, ở phía ngoài thì 2 người kia vẫn đứng nhảy. Khi lùi hoán đổi vị trí cho nhau thì vừa lùi vừa nhảy, mặt quay vào bàn gia tiên thể hiện sự kính trọng.
Điệu Thỉnh nhị thập tứ hiếu (Sịnh ngưi sệp slơi hi): Được thực hiện theo tốp 4 người chia làm 2 nhóm; 2 người khoác tay nhau chống lưng bước liên tục vào đến bàn gia tiên thì dúm người xuống rồi lại lùi ra ngoài, tốp kia lại tiến vào thay vị trí tốp trước. Cứ như vậy, theo hiệu lệnh trống sành, lúc đi cùng đi, lúc dúm cùng dúm. Điệu múa thể hiện đang trên đường đi tới điện tiền mời 24 thần thành về dự cuộc.
Điệu Phát lộ hanh thông (Hai tao són lô): Gồm 2 người hoặc 4 người, mỗi người cầm một con dao, cứ 2 người tiến vào, 2 người tiến ra. Tay cầm dao trúc xuống giống như đang mài dao, khi tay đưa lên chống hông thể hiện hành động phát cây, dọn đường; phía ngoài đưa dao kẹp vào bàn chân tượng trưng cho động tác dùng xẻng đắp đất, vừa múa vừa xoay tròn nghĩa là san đất từ chỗ cao sang chỗ thấp; khi đi vào dùng dao kẹp nách rồi xoay tròn. Đến giai đoạn cuối coi như công việc đã hoàn thành thì vác dao lên vai.
Múa cờ (Sêu cầy): Điệu múa do 1 đến 2 người thực hiện. Múa cờ là sự dẫn dắt từng đoàn, từng thầy đến và lên bục an tọa. Lúc múa cờ, dáng chân theo nhịp các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc thể hiện sư sãi xếp bốn bên, mỗi vị an tọa một bàn. Đến lần cuối, vị thần to nhất đến sau có sự nhộn nhịp, mạnh mẽ hơn. Có 3 lần ra nghênh múa cờ, chia làm 3 phần, mỗi phần 3 lần vào ra, thành 9 lượt. Phần 1: tay cầm cờ múa phất từ thấp lên cao. Phần 2: tay cầm đôi âm dương như múa cờ, khi ra đến chiếu bỏ xuống 1 âm, 1 dương được bình an. Phần 3: tay cầm kiếm múa xiên đi, xiên lại, lượt cuối miệng ngậm kiếm nhảy vào bàn.
Nhảy Tam thanh (Tệt slam sênh): Gồm 3 đạo tràng mặc áo cà sa, bài nhảy này có tính nguyên tắc là 3 người, 1 chân nhảy đi, 1 chân cất lên với ý nghĩa “đi mây về gió”, tay cầm cờ, người đi trước cầm kiếm. Mục đích bài múa này phục vụ cho việc ma tươi hoặc đám ma lạnh mà người mất là ông thầy được cấp sắc. Ba đạo tràng được coi là 3 vị Tam thanh Phật - Pháp - Tăng để đưa vong hồn người mất về với Dương Châu, nơi đó tương truyền có nhà của các họ người Cao Lan. Khi nhảy, miệng niệm đi 3 vòng xung quanh rồi đi ra cửa nhảy vòng tròn 3 lượt – được hiểu là đã hóa thân thành 3 con hạc đi qua 3, 5, 7, 9 tầng mây không quỷ quái gì nhìn thấy. Đi qua Đông - Tây - Nam - Bắc, vượt qua bát quái đến Dương Châu – nơi an nghỉ của vong hồn.
Vũ điệu ngày mùa: Là điệu múa mới được phát triển trong những năm gần đây dựa trên nhịp điệu của trống tang sành, thể hiện cuộc sống sinh hoạt lao động sản xuất của bà con Cao Lan. Điệu múa có các động tác đi cấy (đăm nà), tát nước (kon num), xúc đất (họt tôm), gặt lúa (băn báy hu), giã cốm (loóng hô), quạt sàng thóc (pây phây hô), tra hạt trên nương (num lưây).
Múa Chim gâu (Tệt nộc lau): Đây là điệu múa cổ được đông đảo người biết đến và được xem như điệu múa đại diện cho vũ điệu của đồng bào Cao Lan ở Tuyên Quang. Hình ảnh những chàng trai, cô gái dân tộc Cao Lan hóa thân thành những con chim gâu đi tìm bạn đời và giao hòa với nhau thể hiện tín ngưỡng phồn thực, ước muốn ngàn đời về duy trì nòi giống của đồng bào. Điệu múa được chia làm 3 giai đoạn: thượng nguyên, trung nguyên, hạ nguyên gắn liền với ý nghĩa Tết thượng nguyên rằm tháng Giêng, dịp đầu xuân các đôi trai gái đi chơi làng, chơi hội để làm quen nhau. Trong không khí mùa xuân ấm áp cùng với những cảm xúc ban đầu e lệ, những con chim gâu bay đi, bay lại vẫn còn rụt rè, múa quay lưng lại với nhau, động tác chậm rãi, chưa thể hiện kết quả; rồi xòe ra nhưng chim lại bay tản ra coi như hết hội trở về tổ của mình, lúc này múa cùng chạy đi, trống dừng thì nhúm xuống. Giai đoạn trung nguyên gắn với Tết trung nguyên rằm tháng Bảy, chim tìm gặp lại bạn và trao đổi tâm tình đã đổi thay hơn trước, quay mặt vào nhau, vừa múa vừa tay chân chạm nhau. Giai đoạn hạ nguyên gắn với Tết Hạ Nguyên rằm tháng Mười khi đồng bào đã thu hoạch xong lúa, mùa ăn Tết cơm mới, mừng vụ mùa thắng lợi, những con chim cũng có động tác đạp lúa, túc mồi... Ăn xong no nê, chim vươn mình rũ cánh, rũ lông; chim nằm ra phơi cánh, làm tổ... Đoạn này động tác mạnh mẽ, nhanh, rồi chim tìm bạn giao hòa với nhau thể hiện đã thành duyên đôi lứa. Cứ như vậy, họ múa đôi theo nhịp trống, khi trầm bổng, lúc du dương thể hiện đôi chim quấn quýt lấy nhau. Điệu Chim gâu cũng được các thầy cô trường múa Việt Nam từ những năm 60 của thế kỷ XX sưu tầm, đưa vào hệ thống giáo trình giảng dạy trong nhà trường múa chuyên nghiệp Việt Nam và được nhiều đoàn văn công khai thác nâng cao, biểu diễn phục vụ công chúng trong và ngoài nước.
2. Nỗ lực bảo tồn, truyền dạy và lan tỏa di sản múa Tắc Xình – Sình ca
Nhiều năm qua, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 (giai đoạn I: 2021-2025) đã được tỉnh Tuyên Quang triển khai hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, trong đó đặc biệt chú trọng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch (Dự án 6). Trên cơ sở đó, tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết, chương trình, đề án và kế hoạch chuyên đề về phát triển văn hóa kết hợp phát triển du lịch, nhấn mạnh nhiệm vụ bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn. Việc thực hiện các chính sách này góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, đưa các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững, đồng thời nâng cao ý thức, trách nhiệm và đời sống của người dân.
Trong thực tiễn bảo tồn văn hóa người Cao Lan ở Tuyên Quang, vai trò của các nghệ nhân giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Nghệ nhân Nhân dân Sầm Văn Dừn (sinh năm 1946), người Cao Lan ở thôn Mãn Hóa, xã Đại Phú, huyện Sơn Dương (cũ), là một trong những cá nhân tiêu biểu. Dù tuổi cao, ông vẫn bền bỉ nghiên cứu, phục dựng và truyền dạy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình, đặc biệt là hát Sình ca và các điệu múa dân gian Cao Lan. Những đóng góp của ông không chỉ góp phần gìn giữ di sản văn hóa mà còn thúc đẩy sự gắn kết cộng đồng, xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh ở cơ sở.
Tiếp nối truyền thống gia đình, nghệ nhân trẻ Sầm Văn Đạo, con trai ông Sầm Văn Dừn, là gương mặt tiêu biểu của thế hệ kế cận trong công cuộc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Cao Lan. Ngay từ khi còn trẻ, anh đã thông thạo nhiều sách cổ, điệu múa, nhạc cụ, nghi lễ và chữ viết liên quan đến đời sống tín ngưỡng của đồng bào Cao Lan. Với quan niệm “giữ văn hóa là giữ lấy cội rễ dân tộc”, anh Đạo đã dành nhiều năm sưu tầm, phục dựng, truyền dạy hát Sình ca và các điệu múa truyền thống như múa Chim gâu, múa Xúc tép, múa Tam nguyên, múa Khai đao phát lộ… gắn với lao động nông nghiệp và tín ngưỡng bản địa.
Suốt gần hai thập niên thực hành và truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể, Sầm Văn Đạo đã tổ chức nhiều lớp học, buổi biểu diễn văn nghệ cộng đồng, trực tiếp hướng dẫn cho thanh thiếu niên và các câu lạc bộ văn hóa dân gian trong và ngoài tỉnh. Anh hiện là người hiếm hoi còn nắm vững toàn bộ quy trình nghi lễ truyền thống của người Cao Lan, đồng thời là người duy nhất đang chế tác trống sành phục vụ sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Bên cạnh đó, anh còn sưu tầm, dịch thuật và chú giải hơn 30 cuốn sách cổ chữ Hán - Nôm liên quan đến tín ngưỡng và Sình ca, phục vụ công tác giảng dạy và truyền bá di sản.
Nhờ những đóng góp bền bỉ và tâm huyết, nghệ nhân Sầm Văn Đạo đã được công nhận là Nghệ nhân tiêu biểu trong bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số (năm 2023), đồng thời giữ vai trò Chủ nhiệm Câu lạc bộ Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Cao Lan tại xã Đại Phú. Tính đến nay, anh đã trực tiếp truyền dạy cho hàng chục câu lạc bộ Sình ca và múa Cao Lan với hàng nghìn học viên tham gia. Những nỗ lực của anh và các nghệ nhân Cao Lan khác đã và đang góp phần quan trọng vào việc bảo tồn, lan tỏa và làm sống động di sản văn hóa Cao Lan trong đời sống đương đại, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của cộng đồng trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
3. Kết luận
Từ những phân tích ở trên có thể khẳng định rằng múa Tắc Xình – Sình ca của người Cao Lan ở Tuyên Quang là một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, kết tinh nhiều lớp giá trị nghệ thuật, tín ngưỡng và xã hội. Hệ thống các điệu múa phong phú với hơn mười vũ điệu tiêu biểu như Xúc tép, Nhảy ma, Thỉnh thần an tọa, Tam thanh, Phát lộ hanh thông, Chim gâu… không chỉ tái hiện sinh hoạt lao động, đời sống tâm linh và vũ trụ quan của cộng đồng mà còn thể hiện tư duy thẩm mĩ độc đáo, kỹ năng biểu diễn gắn chặt với nghi lễ, nhịp trống sành và ngôn ngữ cơ thể mang đặc trưng Cao Lan. Nhiều điệu múa trở thành “thước đo” văn hóa trong cộng đồng, là phương tiện gắn kết con người, khẳng định bản sắc và duy trì tính liên tục văn hóa qua các thế hệ.
Trong bối cảnh hiện đại, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản múa Tắc Xình – Sình ca đã và đang đạt được nhiều kết quả tích cực. Các chủ trương, chính sách của Nhà nước và tỉnh Tuyên Quang, đặc biệt thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021-2030, đã tạo hành lang pháp lý và nguồn lực quan trọng để bảo tồn song hành với phát triển du lịch văn hóa bền vững. Hoạt động truyền dạy, phục dựng và quảng bá di sản được thúc đẩy mạnh mẽ tại cơ sở, đặc biệt nhờ vai trò của đội ngũ nghệ nhân, trong đó tiêu biểu là Nghệ nhân Nhân dân Sầm Văn Dừn và nghệ nhân trẻ Sầm Văn Đạo – những người đại diện cho sự kế tục và lan tỏa, vừa giữ gìn truyền thống vừa chủ động thích ứng với yêu cầu đương đại.
Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố truyền thống và nhu cầu phát triển mới đã mở ra cơ hội để đưa múa Tắc Xình vào môi trường trình diễn, giáo dục văn hóa dân gian và hoạt động du lịch cộng đồng, qua đó tạo thêm sinh kế, nâng cao vị thế và niềm tự hào văn hóa của người dân. Thực tiễn cho thấy, khi cộng đồng được đặt ở vị trí trung tâm, di sản không chỉ được bảo tồn “tĩnh” mà được “sống”, được vận hành như một nguồn lực mềm thúc đẩy phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của địa phương.
Từ những kết quả trên, có thể kết luận rằng múa Tắc Xình – Sình ca của người Cao Lan ở Tuyên Quang vừa là di sản có giá trị nghệ thuật, tín ngưỡng và bản sắc sâu sắc vừa là nguồn lực văn hóa quan trọng cần tiếp tục được bảo tồn có chiến lược, truyền dạy có hệ thống và phát huy bằng những mô hình phù hợp với bối cảnh mới. Đây là nền tảng để di sản không chỉ tồn tại trong ký ức cộng đồng mà còn đồng hành cùng sự phát triển của đời sống đương đại, góp phần làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Chú thích:
1 Phỏng vấn Nghệ nhân Nhân dân Sầm Văn Dừn và nghệ nhân Sầm Văn Đạo ở thôn Mãn Hóa, xã Đại Phú, huyện Sơn Dương (cũ), tỉnh Tuyên Quang - Tư liệu điền dã của tác giả, ngày 12.4.2025.