NHỮNG KHÚC HÁT XUÂN MÃI MÃI XUÂN

Bài viết giới thiệu và phân tích năm ca khúc ra đời trong các thập niên 50-80 của thế kỷ XX, được coi là 'bài hát yêu thích' của nhiều thế hệ, gồm: ''Bài ca hy vọng'' (Văn Ký), ''Đất nước mùa xuân'' (Hoàng Vân), ''Mùa xuân làng lúa làng hoa'' (Ngọc Khuê), ''Lối nhỏ vào đời'' (Phạm Minh Tuấn) và ''Cánh én tuổi thơ'' (Phạm Tuyên). Qua đó, khẳng định những bài hát mùa xuân này đã vượt khỏi giới hạn thời gian, trở thành ký ức văn hóa chung và những giá trị tinh thần bền vững của âm nhạc Việt Nam.

   Trong dòng chảy âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX, đề tài mùa xuân luôn gợi mở những rung cảm đặc biệt, gắn với niềm tin, khát vọng và vẻ đẹp tinh thần của nhiều thế hệ. Từ những thập niên 1950 đến 1980 đã ra đời nhiều ca khúc mùa xuân có sức sống bền bỉ, được công chúng yêu mến và vang lên không chỉ mỗi độ xuân về. Bài viết này tập trung giới thiệu và phân tích năm tác phẩm tiêu biểu gồm: Bài ca hy vọng (Văn Ký), Đất nước mùa xuân (Hoàng Vân), Mùa xuân làng lúa làng hoa (Ngọc Khuê), Lối nhỏ vào đời (Phạm Minh Tuấn) và Cánh én tuổi thơ (Phạm Tuyên), qua đó làm rõ giá trị nghệ thuật cũng như ý nghĩa văn hóa lâu bền của những khúc hát xuân đi cùng năm tháng.

   1. “Có mùa xuân nào đẹp bằng”…

   “Từng đôi chim bay đi tiếng ca rộn ràng
   Cánh chim xao xuyến gió mùa xuân”...

   Chỉ vài nét chấm phá thế thôi đã đủ gợi ra không khí xuân và những xốn xang đầu mùa, để rồi cảm xúc xuân hòa vào nỗi nhớ thương quê hương và những người thân yêu: vợ chồng, mẹ cha, con nhỏ… Lời ca mau chóng dẫn dắt từ cảnh xuân thực tại sang ước mơ về “những mùa xuân bóng dáng tương lai”, từ rung cảm đời thường hướng tới những điều lớn lao, từ hình ảnh cụ thể tới hình tượng khái quát.

   Không còn thụ động ngắm đất trời vào xuân mà chính ta có thể tạo nên mùa xuân, có thể xây đắp những mùa xuân ước vọng cho mình và cho đời. Không còn chỉ dõi theo từng đôi chim bay để thầm gửi lời nhớ nhung tới nửa đất nước ruột thịt mà ta phải chủ động đi lên xây đời và chính ta lại là người dẫn đường gọi đàn chim cùng cất cánh về tương lai, về phía ánh sáng rạng rỡ chân trời mới.

   Xuân là mùa của đôi lứa, chim vẫn có đôi mà hai miền chia cắt, tình người ngăn cách. Xuân là mùa của màu xanh – màu của áo mới, của mộng đời, của niềm tin. Đối nghịch với xuân là mùa đông – là mây mù, gió mưa, buồn thương… Những ẩn dụ ấy được chắp cánh bởi giai điệu đằm thắm, mượt mà, bay bổng. Không một chút lên gân hô hào, không lời thề đanh thép quyết diệt kẻ thù và cũng không một từ nhắc đến thế lực đen tối. Mọi nghịch cảnh gian nan cũng như nỗi đau cùng cực vì chiến tranh chỉ gói gọn vào hình ảnh gió mưa, mây mù… để đọng lại niềm tin “mùa đông và mây mù sẽ tan” trong câu kết Bài ca hy vọng nhẹ nhàng và sâu lắng. Quá dịu dàng! Quá lãng mạn! Có lẽ vì thế bài hát không được đánh giá đúng mức khi ra đời. Nhà xuất bản Âm nhạc từ chối in và yêu cầu tác giả chỉnh sửa sao cho phù hợp với tình hình cách mạng lúc đó. May thay Bài ca hy vọng vẫn được nhạc sĩ Văn Ký giữ nguyên gốc, sáng tác từng bị chê “không hợp thời” hóa ra lại là một trong những bài hát được yêu thích nhất của mọi thời. Vì sao ư? Đấy không hẳn là điều bí ẩn nhưng không phải ai cũng nhận thấy và không phải thời nào cũng biết tận dụng sức mạnh tiềm tàng trong vẻ đẹp của âm nhạc. Bài ca hy vọng là một minh chứng cho sức mạnh chân - thiện - mĩ. Chính vẻ đẹp của giai điệu trữ tình và lời ca lấp lánh niềm tin đã truyền năng lượng và cảm hứng, giúp bao người có đủ nội lực vượt qua những khoảnh khắc kinh hoàng, những gian truân, bất hạnh. Nhiều tù nhân chính trị bị tra tấn thể xác và khủng bố tinh thần đã hát về ngày mai tươi sáng mà quên đớn đau, quên cả chuyện sống chết, mất còn. Anh thương binh cận kề cái chết, vào lúc tuyệt vọng nhất đã níu giữ được sự sống nhờ niềm tin chứa chan trong giai điệu Bài ca hy vọng. Bài hát còn giúp người lính nén nỗi đau mất người thân để lấy lại dũng khí lên đường xung trận, đã tiếp sức cho người tha hương đối mặt với áp lực cuộc sống. Yêu bài hát đã đồng hành trong mọi thành bại buồn vui cuộc đời, có người còn bày tỏ ý nguyện được đưa tiễn bằng “từng đôi chim bay đi” khi trở về cát bụi.

   Vẻ đẹp bình dị mà cuốn hút của Bài ca hy vọng hình thành trong sự hòa quyện khéo léo giữa lời và nhạc, giữa những chi tiết tinh tế mang tính học thuật và lối phát triển linh hoạt của dân gian. Có thể thấy sự liên kết hai truyền thống âm nhạc Tây và ta trong mối quan hệ điệu tính - điệu thức. Nhờ nhấn nhá vào những nét đặc trưng nhạc cổ dân tộc mà chuỗi bảy âm trong điệu rê trưởng phương Tây hóa thành phép tổng của thủ pháp lồng vài thang năm âm của điệu thức ngũ cung.

   Thêm nữa, bài hát không duy trì tính cân đối vuông vắn của những nhịp đầu, cũng không tái hiện mà dựa trên nguyên tắc phát triển liên tục. Đoạn trước mang tính tự sự với âm hình tiết tấu chủ đạo nhấn vào các âm cùng cao độ, ứng với các cụm từ “… đôi chim bay đi”, “chim yêu thương tới…”, “… Nam quê hương nhắn…”, “ta đi lên xây…”, “trong hoa thơm có…”. Đoạn sau mở rộng biên độ vươn tới âm khu cao hơn. Dựa trên bước nhảy các quãng 4 và 5 đặc trưng ngũ cung, giai điệu dâng dần lên đỉnh điểm cao trào. Trước đó không câu nhạc nào dừng ở âm chủ, có lẽ âm chính được để dành cho vị trí cao nhất ứng với từ “chiếu” ngân dài trong cường độ mạnh nhất, như tăng thêm độ vững chãi cho niềm tin tỏa sáng.

   Giai điệu luôn đổi mới không làm mất đi tính thống nhất của toàn bài là nhờ đoạn sau vẫn bảo lưu đôi nét luyến láy đã có trước đó: “mộng đời” lặp lại nguyên xi nét lướt của “rộn ràng”; “gió mưa buồn thương” họa lại “chứa chan niềm tin”; còn “màu xanh áo mới” lại mượn cao độ “chim xao xuyến gió”; và cũng từ “xao xuyến gió” mà sinh ra nét nhạc “về tương lai” ở đầu cả hai câu của đoạn sau. Lối tô điểm đậm chất dân ca đó cho phép giai điệu di chuyển tự do hơn, một từ uốn lượn trên hai, ba, thậm chí bốn nốt nhạc. Đặc biệt truyền cảm là từ “sẽ” ngân nga hết nhịp áp chót với cường độ tăng lên rồi giảm dần, làm cho câu kết trở nên mềm mại và lắng đọng tình yêu thương.

   Bài ca hy vọng là một trong những dẫn chứng cho “tính khí nhạc trong thanh nhạc” khá hiếm hoi vào những năm 50 thế kỷ trước. Bên cạnh những nốt thêu lướt và những chỉ dẫn sắc thái biểu hiện còn có thể kể đến vai trò dấu lặng. Tuyến giai điệu bị ngắt vụn đem lại cơ hội “điền vào chỗ trống” cho nhạc cụ lên tiếng đối đáp với giọng hát. Ngay từ năm 1958, tác giả còn viết thêm phiên bản giọng la giáng trưởng kèm phần đệm piano, đưa Bài ca hy vọng lên tầm romance (ca khúc nghệ thuật).

   Nhờ tiềm ẩn tính khí nhạc, Bài ca hy vọng còn được diễn tấu như nhạc không lời, không chỉ độc tấu nhạc cụ (violon, violoncelle, guitare, flute…) mà cả hòa tấu thính phòng, dàn nhạc dân tộc, dàn nhạc giao hưởng. Bài hát đã đi vào điện ảnh, làm sống lại cảnh phòng giam nữ tù chính trị trong phim Nguyễn Văn Trỗi (1966) và góp mặt trong nhạc nền phim Đừng đốt (2009).

   Chào đời qua giọng ca kỳ cựu Khánh Vân, Bài ca hy vọng luôn là lựa chọn của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng các thế hệ khác nhau: Trung Kiên, Bích Liên, Lê Dung, Quang Thọ, Thanh Hoa, Lan Anh, Tùng Dương… Được coi là một trong những bài ca hay nhất về mùa xuân, đây cũng là tác phẩm nổi bật nhất trong sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ Văn Ký – người được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2001) và truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (2022).

   Bài ca hy vọng được Bảo tàng Cách mạng Việt Nam lưu giữ bản viết tay của tác giả như một kỷ vật lịch sử – kỷ vật về một giá trị phi vật thể mãi còn xanh thắm cùng những mùa xuân tương lai.

   2. Em là mùa xuân đất nước

   Mở đầu bài Đất nước mùa xuân của nhạc sĩ Hoàng Vân:

   “Trời cao trong xanh
   Sương sớm long lanh
   Mặt nước xanh xanh
   Cành lá rung rinh”…

   Thật trong trẻo, tươi tắn qua con mắt trẻ thơ: lung linh bầu trời soi mặt nước, lấp lánh giọt sương trên lá cây, rộn ràng bầy chim cùng đàn bướm.

   Thật dễ nhớ dễ hát như những câu đồng dao mộc mạc với các tính từ cuối câu đều cùng âm vần “anh”: trong xanh, long lanh, xanh xanh.

   Thật đơn giản tự nhiên mà rất chuẩn xác trong mối quan hệ giữa lời và nhạc qua chuỗi từ láy “long lanh, xanh xanh, rung rinh” ứng với các cặp âm cùng cao độ.

   Con đường đến trường, đến với kiến thức của chúng ta – bọn trẻ con ngày ấy sao mà nhẹ nhàng, hân hoan đến thế! Đâu phải căng thẳng vì áp lực, mệt mỏi vì kẹt xe, còng lưng cõng chiếc ba lô nhồi các kiểu sách vở như con cháu chúng ta hôm nay.

   Sau vẻ vô tư, nhún nhảy chân sáo tới lớp, câu nhạc dàn trải hơn, mở rộng dần cả về trường độ và cao độ. Cũng không dừng ở tả thực cảnh sắc nữa, lời ca mang ý nghĩa khái quát hơn, liên quan đến đất nước và niềm tin. Với cấu trúc rành mạch cân đối và giai điệu trầm bổng trong âm sắc ngũ cung, khổ thứ hai lấy đà từ nốt thấp nhất nâng dần lên nốt cao nhất “mang cho chúng em bao hi vọng”.

   Vẫn giữ kết cấu vuông vắn, khổ thứ ba chuyển tải lời nhắn nhủ uống nước nhớ nguồn, nhớ công ơn thế hệ cha ông. Lồng bài học đạo lý vào giai điệu du dương là một cách dạy trẻ con “vừa chơi vừa học” hiệu quả, dễ ngấm, nhớ lâu.

   Có mấy phiên bản khác nhau vài chi tiết lời ca và nhan đề, phổ biến hơn cả là Ca ngợi Tổ quốc. Theo bản chép tay của nhạc sĩ Hoàng Vân, bài hát mang tên Đất nước mùa xuân có khổ cuối tổng hợp tiết tấu dồn dập của khổ đầu và nét ngân nga của các khổ giữa, để hỏi đi hỏi lại “mùa xuân đang gọi ai” và chốt bài bằng lời đáp “mùa xuân đang gọi em”.

   Các khổ nhạc luôn đổi mới giai điệu nhưng đều thống nhất nguyên tắc phát triển dựa trên âm hình tiết tấu của mỗi khổ. Bài hát bình dị, hồn nhiên dành cho trẻ nhỏ còn cho thấy sự kết hợp tính linh hoạt của cấu trúc nhiều “trổ” đặc trưng nhạc cổ truyền dân tộc và tính khúc triết cân phương của phương Tây, cũng như sự hài hòa giữa tính nghệ thuật và tính học thuật.

   Bàn về học thuật trong bài hát thiếu nhi có vẻ không mấy phù hợp, ấy vậy mà vẫn rất “liên quan” vì khúc hát này được sinh ra từ bản đại hợp xướng Hồi tưởng (1960) soạn cho dàn nhạc giao hưởng và hợp xướng phức hợp (gồm hợp xướng thiếu nhi và hợp xướng bốn bè). Trong tác phẩm được đánh giá cao về giá trị nghệ thuật này, giai điệu của dàn hợp xướng thiếu nhi giữ vai trò hết sức quan trọng, không những độc tôn ở phần trình bày mà còn được tái hiện huy hoàng trong phần kết đa tầng đa nghĩa. Giai điệu mùa xuân thêm rộn ràng, bay bổng nhờ được nâng cánh bởi các thủ pháp phối khí tinh tế, có thể nhận thấy âm sắc thánh thót của dàn nhạc láy lại hai âm trùng cuối câu “cành lá rung rinh” như tiếng chim lảnh lót vừa đối đáp giọng hát trẻ thơ vừa chuẩn bị “tình huống” dẫn dắt sang câu sau: “bày chim non hát ca vang”. Đặc biệt ấn tượng về tính học thuật là phần kết với thủ pháp phức điệu song hành hai chủ đề âm nhạc: “Trời cao trong xanh” của hợp xướng thiếu nhi được lồng vào hợp xướng người lớn – “Ta đi tới”. Cảm xúc được đẩy lên cao trào trong sự hòa hợp các thế hệ: tuổi măng non được nâng đỡ bằng cả một bề dày truyền thống lịch sử đất nước.

   Trích đoạn Đất nước mùa xuân đã sống như một tác phẩm độc lập và luôn có mặt trong danh sách những bài hát thiếu nhi được yêu thích nhất. Khúc ca xinh xắn cùng bản đại hợp xướng Hồi tưởng đã khẳng định tên tuổi Hoàng Vân như một nhạc sĩ của tuổi thơ cũng như một nhà soạn nhạc với đúng nghĩa của từ này. Tác phẩm góp phần đáng kể trong một sự nghiệp thành công của Hoàng Vân ở nhiều thể loại lớn nhỏ – từ ca khúc thiếu nhi đến hợp xướng giao hưởng, một sự nghiệp âm nhạc được ghi nhận bằng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000.

   Xuân là mùa chuyển giao năm cũ sang năm mới. Tuổi xuân đất nước không ngừng luân chuyển từ thế hệ trước sang thế hệ sau. Khúc ca xuân của trẻ thơ cũng được chuyển tiếp qua nhiều thế hệ, từ ông bà sang cha mẹ rồi tới con cháu. Nghe lại Đất nước mùa xuân, có bao giờ bỗng dưng ta tự hỏi: Thế hệ mùa xuân của đất nước năm nào đã thực sự biết trân trọng vẻ đẹp tự nhiên của đất trời, biết gìn giữ môi trường thiên nhiên trong lành mà tuổi thơ mình từng được hưởng để trao lại cho những thế hệ sau? Sống lại cảm giác phơi phới nhẹ tênh “theo bước chân em đi đến trường” của một thời đã xa, có khi nào bỗng dưng ta thấy thương, thấy áy náy vì sự thiệt thòi trong nhịp sống nhiều áp lực không đáng có của tuổi thơ thời @?

   “Mùa xuân đang đến, nhìn đất nước đổi mới muôn màu”...

   Khát khao, hi vọng, hồi sinh, khởi đầu, đổi mới là những điều diệu kỳ mùa xuân mang lại. Đổi mới không có nghĩa là xóa hết những gì đã có và để hồi sinh vẻ đẹp đã mất cần có những đổi mới trong nhận thức. Cảm xúc xuân, âm điệu của bài ca đón xuân biết đâu lại lần nữa nhắc ta, thúc ta hướng tới sự đổi mới thực sự cho đất nước, cho con trẻ, cho nhiều thế hệ mùa xuân của đất nước mai sau.

   3. Có một Hà Nội “làng lúa làng hoa”

   Hà Nội sở hữu nhiều bài hát đến mức cánh báo chí, với tinh thần tự tôn dân tộc, đã không ngại ngần khẳng định đây là thành phố có nhiều bài hát nhất thế giới. Trong khối tài sản đồ sộ về Hà Nội đó có thể tìm thấy không ít bài ngợi ca mùa xuân. Một trong những địa danh của Hà Thành được nhắc đến nhiều nhất là Hồ Tây nhưng về làng lúa làng hoa Tây Hồ mà nhiều người thuộc nằm lòng chắc chỉ có một Mùa xuân làng lúa làng hoa của nhạc sĩ Ngọc Khuê.

   Ngày ấy, Hà Nội rất nhiều màu xanh: xanh sông hồ, xanh cỏ cây, xanh ruộng vườn… Từ trung tâm thành phố đạp xe nhoáng cái đã tới làng hoa ven hồ bốn mùa ngào ngạt hương sắc, dấn thêm nữa là bát ngát cánh đồng ven đê lúc mơn mởn mướt xanh, lúc trĩu bông ruộm vàng. Hoa ấy, lúa ấy đã khơi dậy cảm xúc dào dạt tình đất, tình người.

   Có một người lính từ lâu vẫn ấp ủ dự định họa lại cảnh sắc thanh bình đến nao lòng ấy bằng âm thanh. Những nét nhạc đầu tiên hiện lên dần theo vòng quay bánh xe lượn quanh con đường ven hồ vào một chiều đông nhưng lời ca lại hướng tới mùa xuân – mùa đơm hoa kết trái không chỉ của cây cối mà còn của tình yêu. Tình yêu đôi lứa được gửi vào tình lúa, tình hoa, ẩn dụ ý nhị cho sự kết hợp hài hòa giữa thể chất lành mạnh và tâm hồn thuần khiết, giữa đời sống vật chất với văn hóa tinh thần của mảnh đất thanh lịch, nho nhã. Anh như cây lúa nuôi dưỡng sự sống con người và em là bông hoa làm đẹp cho đời. “Hạnh phúc trên đôi tay” của “chàng lúa”, “nàng hoa” đáng được trân trọng, nâng niu để mãi nhớ những người gieo mầm cho “tình ca đơm hoa từ lòng đất”.

   Với hình thức hai đoạn đơn không tái hiện, tính thống nhất tổng thể được hình thành từ vài điểm nhấn. Trước tiên là sự duy trì chỉ một mẫu hình tiết tấu ở đoạn đầu: âm hình tiết tấu câu đầu “Bên lúa, anh bên lúa/ Cánh đồng làng ven đê” được lặp lại gần như nguyên vẹn ở ba câu sau, trong đó hai từ “anh bên” ứng với chùm bốn nốt đơn được sử dụng như hạt nhân phát triển. Cũng như các nốt lướt, nét luyến láy chùm bốn này làm cho giai điệu nhịp 6/8 càng thêm mềm mại và cái “chiêu” học từ ông bà ta thật hiệu nghiệm để câu hát trở nên mượt mà, duyên dáng như câu dân ca.

   Cũng gần với dân ca là cấu trúc tự do của đoạn sau, phá vỡ kết cấu vuông vắn cân đối ở đoạn đầu. Không phát triển đi dần lên đỉnh điểm cao trào như lẽ thường mà ngược lại, giai điệu đoạn sau bắt ngay vào nốt cao nhất (f1 ) rồi từ từ hạ xuống nốt thấp nhất (c). Hạt nhân phát triển ở đây là ba âm đi xuống liền bậc pha-mi-rê (ở điệu rê thứ tự nhiên). Motif này được đay đi đay lại “lúa ơi thơm ngát cho em hát cùng người” trước khi hòa trộn cùng các âm trùng và các quãng đặc trưng ngũ cung “sóng lấp lánh mặt hồ cho hoa em ngào ngạt…”. Cứ thế, các câu hát nối nhau đổ xuống, tựa như sóng gợn trên mặt hồ hoặc sóng trên biển lúa nghiêng ngả dập dờn theo gió. Motif ba âm đi xuống liền bậc tiếp tục ẩn trong mấy nhịp kết trở lại đỉnh điểm cao trào “đôi lứa tình yêu mùa xuân” và kết thúc bằng các nốt pha-mi-rê được nhấn vào đầu nhịp với các từ khóa “lúa - hoa - xuân”.

   Về các quãng đặc trưng ngũ cung, vai trò tạo điểm nhấn thống nhất toàn bài thuộc về quãng 4. Bước nhảy lên quãng 4 thường rơi vào các từ chủ chốt trong nội dung lời ca: Hồ Tây (ba lần), mùa xuân (hai lần), tình yêu và tình ca. Với nhiều lần gọi tên mùa xuân, bài hát ban đầu là Làng lúa làng hoa được góp ý đổi thành Mùa xuân làng lúa làng hoa khi thu âm lần đầu tiên tại Đài Tiếng nói Việt Nam năm 1981. Từ đó, danh mục ca khúc xuân Hà Nội có thêm một tác phẩm được công chúng yêu thích và tác giả của nó có thêm biệt danh “ông Làng lúa làng hoa”.

   Mùa xuân làng lúa làng hoa gắn với tên tuổi NSND. Thanh Hoa, tiếp đến là các ca sĩ thế hệ sau: Trung Anh, Tố Nga, Mỹ Lệ... Có tên trong top 10 bài hát hay nhất về Hà Nội, trong top 20 bài hát hay nhất về nông nghiệp và nông thôn Việt Nam, ca khúc này đã giúp tác giả đoạt nhiều giải thưởng, đáng kể nhất là Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2012.

   Hơn bốn thập kỷ qua, Mùa xuân làng lúa làng hoa được hát không chỉ mỗi độ xuân về bởi đây còn là bài ca đẹp về Thủ đô, về tuổi trẻ và tình yêu, bởi sự lan tỏa cảm giác ấm áp, lạc quan, yêu đời, yêu người. Từng có những bạn trẻ thành đôi chính nhờ sự kết nối bằng âm nhạc của “sợi tơ hồng” Mùa xuân làng lúa làng hoa. Đây còn là ký ức thanh xuân thương nhớ của bao người vẫn nặng lòng với Hà Nội một thời chưa xa – mộc mạc, yên ả, khi những làng lúa, làng hoa vẫn chưa bị cơn lốc đô thị hóa cuốn đi. May thay, vẻ đẹp bình dị của Hà Nội ngày ấy đã trở thành vĩnh cửu trong bài ca đi cùng năm tháng – bài ca kết tinh từ rung động của riêng người nghệ sĩ nhưng lại khiến nhiều người có thể nhận ra chính mình trong đó.

   4. “Anh sẽ là”…

   “Anh sẽ là dòng sông
   Để em là biển rộng
   Anh sẽ là gió lộng
   Để em là mây bay”…

   Đó là những lời đầu bài hát Lối nhỏ vào đời của Phạm Minh Tuấn, trong sáng và an lành tựa nắng mai, nhẫn nại và hào phóng như dòng chảy, vô hình mà mạnh mẽ cùng ngọn gió, tận tâm và khiêm nhường làm lối nhỏ đưa em vào đời, cho đời em được rộng mở, nở hoa, tỏa hương, cất cánh, tung bay, rực cháy... Chừng ấy đã đủ làm nên mùa xuân cho riêng em.

   Phép so sánh được sử dụng liên tiếp suốt bài, mỗi câu đều ví anh hay em là gì, chỉ duy nhất câu cuối không còn từ “là” nữa nhưng ngầm chốt lại hai vế tương đương: những gì anh muốn dành cho em đều tinh khôi như mùa xuân. Tình yêu có cho, có nhận nhưng với tấm lòng bao dung lặng thầm, anh chỉ cho mà quên nhận. Cho đi để có niềm vui được thấy em hạnh phúc, đó cũng là “nhận” rồi.

   Những hình ảnh so sánh của nhân vật anh đều giả định với từ “sẽ”, mơ đấy mà thực đấy. Tất cả vẫn chỉ là ước ao, là khát khao, song tình anh là thật. Mọi thứ vẫn ở thì tương lai nhưng hứa hẹn một mùa yêu đang tới và nhất định sẽ tới:

   “Đời em là chim én bay
   Đời em là hương tỏa đâu đây
   Đời em là bình minh rực cháy
   Đời em là hạnh phúc tràn đầy”.

   Nhờ những liên tưởng thi vị và cách gieo vần cuối câu mà lời ca tách khỏi nhạc vẫn gợi cảm và mang âm điệu một bài thơ. Rất ý thức về chất văn học trong ca từ, nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn luôn trau chuốt câu chữ và để tâm đến sự chuẩn xác dấu giọng trong mối quan hệ hữu cơ giữa nhạc với lời. Lối nhỏ vào đời bình dị như tên gọi, ngắn gọn mà vẫn chứa đựng nhiều nét đặc trưng cho phong cách sáng tác của ông, từ lời ca giàu hình ảnh và ý thơ đến giai điệu rành mạch, khúc chiết mà không bị gò theo khuôn mẫu cứng nhắc.

   Với hình thức hai đoạn đơn phát triển mở rộng và không có phần tái hiện như đa số ca khúc nổi tiếng của Phạm Minh Tuấn, Lối nhỏ vào đời thoạt đầu tưởng vuông vắn nhưng cấu trúc cân đối đã bị “phá sản” do đoạn đầu ngân dài âm kết, còn điệp khúc nối thêm vài nhịp lặp lại câu cuối để lần nữa nhấn mạnh: “Anh đã cho em mùa xuân”.

   Giai điệu mềm mại nhờ những nét luyến vuốt lên, đặc biệt “rất Phạm Minh Tuấn” ở dấu luyến cuối câu nối hai hoặc ba âm cho một từ có dấu hỏi (lối nhỏ, hoa đỏ). Vẻ mềm mại còn tăng thêm nhờ chùm ba (triolet) trong âm hình tiết tấu lặp lại như một hạt nhân phát triển của điệp khúc. Dao động trong khoảng âm khá rộng, giai điệu đoạn đầu hơn một lần lắng xuống nốt thấp nhất, sang điệp khúc mới vút lên theo hình ảnh “chim én bay”, rồi dập dềnh như cánh diều hạ dần xuống và cuối cùng lại vươn tới nốt cao nhất ứng với từ “xuân”. Lối kết “lên đỉnh” khá quen thuộc với một người lạc quan, sẵn lòng khẳng định niềm tin yêu dù trong hoàn cảnh nào. Giữa thập niên 80, vào lúc sân khấu ca nhạc thị trường đang ào ạt những ca khúc dễ dãi, đơn điệu trong tình sầu, tình bi, tình dối lừa, Lối nhỏ vào đời vẫn giữ được vẻ lung linh của những cảm xúc hướng thiện, hồn hậu, yêu đời, yêu người, vẫn tô đậm thêm những nét riêng cho chân dung âm nhạc Phạm Minh Tuấn.

   Còn một điểm riêng nữa, đó là những chỉ dẫn cường độ sắc thái biểu hiện. Đoạn đầu tâm tình trong âm lượng nhỏ (mp), đoạn sau dâng lên cao trào với âm lượng lớn hơn (mf) nhưng không cường điệu ồn ã mà bình dị và dịu dàng trong lời ca gắn với câu hát ru, với sáo diều vi vu… và với xuân.

   Lối nhỏ vào đời là bài hát viết cho phim Ngỡ ngàng (1986), được thể hiện qua tiếng hát của nam ca sĩ Thái Châu. Sau đó bài hát được rất nhiều giọng ca ăn khách thuộc các thế hệ khác nhau đưa vào chương trình ca nhạc như Duy Quang, Cẩm Vân, Phương Thanh, Thanh Thảo, Trọng Tấn, Nhật Tinh Anh, Hồ Trung Dũng, Cao Thái Sơn… Phiên bản được tác giả ưng ý nhất là của ca sĩ Mỹ Tâm. Vừa sâu lắng vừa bay bổng, bài hát giản dị này đã vượt khỏi những thước phim nhựa để sống cuộc đời độc lập, góp thêm cho đời một bài ca không quên về tình yêu, về mùa xuân.

   5. Cánh én và ước vọng tuổi thơ

   Với dáng bay thanh thoát nhờ đôi cánh dài thuôn nhọn và cái đuôi điệu đà xẻ chữ V, chim én còn có những tên gọi mĩ miều: huyền điểu, thiên nữ. Nhân gian lưu truyền rằng cánh én gieo mầm cho niềm tin và hi vọng vào một khởi đầu thuận lợi, vào sự sinh trưởng, may mắn, đủ đầy, yên ấm… Điềm lành luôn xuất hiện cùng loài chim bé nhỏ nhưng bản lĩnh, sống tự do giữa bầu trời khoáng đạt mà cũng rất mực thủy chung. Các thi sĩ, văn sĩ gắn chim én với mùa xuân – bình minh của tứ quý. Còn nhạc sĩ Phạm Tuyên đã gắn cánh én với tuổi thơ – bình minh của đời người qua Cánh én tuổi thơ:

   “Những cánh én chấp chới của mọi tuổi thơ
   Những cánh én lấp lánh đầy nhạc và thơ”.

   Trời cao bao la, nắng mới ấm áp, cỏ cây tươi xanh, bầy én rủ nhau tung cánh dệt mùa xuân bằng muôn ngàn tia nắng… Nhạc sĩ đã mở ra trước mắt trẻ thơ bức tranh thiên nhiên không chỉ phóng khoáng đường nét, rực rỡ sắc màu mà còn đầy ắp ý thơ hồn nhạc. Lồng vào cảnh tượng thanh bình ấy là thông điệp về tình yêu thương và tính cộng đồng. Một cánh én nhỏ lạc bầy cô đơn giữa mùa đông mịt mùng, thấp thoáng trong đó bóng dáng cô con gái út dễ tủi thân của ông đang một mình lặn lội trên hành trình đèn sách nơi tuyết rơi giá lạnh. Dường như ông muốn gửi lời nhắn nhủ tới đứa con luôn còn bé bỏng với ông qua hình ảnh loài chim hữu ích, cần mẫn và nghị lực, biết kết bên nhau chan chứa tình thân để cùng tung cánh bay tới nắng ấm trời xuân.

   Cánh én tuổi thơ dễ vào, dễ ngấm bởi vẻ đẹp dịu dàng, âu yếm; dễ hát, dễ thuộc với cấu trúc vuông vắn và âm hình tiết tấu lặp lại ở từng cặp câu hát. Giai điệu từ từ đưa cảm xúc dâng lên tới đỉnh cao trào ở đầu điệp khúc “những cánh én…”, rồi hạ dần xuống câu kết chan chứa điều ước cho mai sau. Sự xuất hiện dấu thăng ở các hợp âm trưởng trong mấy nhịp cuối đã pha chút sắc màu sáng hơn cho điệu tính thứ man mác buồn của toàn bài.

   Một cánh én không làm nên mùa xuân nhưng nhiều cánh én tạo nên sức mạnh cộng đồng có thể dệt thành điều diệu kỳ. Cần những cánh én như thế cho sự thăng hoa của nền âm nhạc thiếu nhi, cần nhiều nhạc sĩ ưu ái con trẻ để có thêm nhiều bài hát chở thơ, chở nhạc đến cho tuổi thần tiên. Đấy là mong ước sâu xa, là nỗi niềm đau đáu ở một “nhạc sĩ của tuổi thơ”, một tác giả có thâm niên hơn 70 năm viết nhạc thiếu nhi và trong nhiều năm giữ kỷ lục người sáng tác cho thiếu nhi nhiều nhất với hơn 200 bài, chiếm 1/3 gia tài âm nhạc của ông. Ông cũng là một trong những nhạc sĩ có nhiều bài nhất trong danh mục bình chọn “50 bài hát thiếu nhi hay nhất”.

   Nỗi niềm riêng được gói trong cái chung là điều thường thấy trong các sáng tác của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Theo con qua từng chặng đường từ tuổi nhà trẻ đến khi khôn lớn, những ca khúc viết cho riêng con đã trở thành bài hát chung cho thiếu nhi nhiều thế hệ. Cánh én tuổi thơ vì thế không chỉ được trẻ nhỏ yêu mến mà còn chạm tới cảm xúc của người lớn. NSND. Lê Dung đã hát bài này ấn tượng đến mức nhiều năm sau vẫn còn được nhắc tới.

   Không gì hiệu quả trong hình thành nhân cách và thẩm mĩ trẻ thơ bằng những câu hát đẹp, tự nhiên, trong sáng, chân thành. Nhờ vậy mà sức sống bài hát thiếu nhi của Phạm Tuyên không những trải dài theo thời gian, từ thế hệ ông bà đến bố mẹ rồi con cháu, mà còn lan tỏa rộng khắp. Cánh én tuổi thơ là bài mở màn cho dự án ca khúc thiếu nhi song ngữ trên các nền tảng số, góp một cánh én làm phong phú hơn đời sống ca nhạc thiếu nhi trong nước và quảng bá văn hóa Việt Nam cho người ngoài biên giới yêu nhạc.

   Cánh én tuổi thơ (1987) là ca khúc xuân giàu hình ảnh, một bài hát trữ tình nhẹ nhàng mà sâu sắc tính giáo dục và tính thời đại, vừa khích lệ sự hòa đồng vừa nâng cánh cho khát vọng bay cao. Bài hát sau mấy thập niên còn gợi mở những điều đáng suy ngẫm liên quan đến môi trường sống hôm nay. Giống chim chăm chỉ bắt sâu được coi là bạn của nhà nông, là đồng minh của con người trong cân bằng sinh thái đang có nguy cơ diệt chủng vì nạn săn bắt kinh doanh. Trớ trêu thay, chính con người lại là kẻ gây tổn hại cho sự sinh tồn của loài én! Hình tượng “én rủ xuân về” phai dần còn vì không chỉ đô thị mà cả miền quê đều hối hả bê tông hóa. Giữa thành phố bạt ngàn nhà chọc trời ngày nay, có tìm mỏi mắt cũng chẳng thấy đâu bóng dáng sứ giả mùa xuân. Có lẽ nào cánh én chỉ còn trong bài hát thiếu nhi và trong ký ức người lớn như một ước vọng xa vời:

   “Em ước mong sao bầu trời chẳng đen bóng mây
   Để ngàn chim hót để đàn én bay”?

   Có phải bài hát đang nhắn nhủ thế hệ từng lưu giữ cánh én trong kỷ niệm tuổi thơ: hãy trả lại chim én cho con cháu chúng ta, hãy giữ cho “đất lành chim đậu” để hình ảnh đàn én tung cánh bay liệng trên trời xanh chào đón xuân về được thực sự sống mãi với trẻ thơ các thế hệ mai sau?

Bình luận

    Chưa có bình luận