Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969) là nhà tư tưởng, danh nhân văn hóa, lãnh tụ cộng sản, người chỉ đường và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam chống ách ngoại xâm, giành độc lập và thống nhất đất nước. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng và hành động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc phải đi cùng với giải phóng con người; kiến thiết quốc gia phải đi cùng với việc chăm lo đời sống nhân dân; vì nước mạnh, dân giàu, độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới. Theo đó, tuy chỉ là một nửa số dân trong nước nhưng phụ nữ và vấn đề phụ nữ gắn với mọi vấn đề của dân tộc và thời đại, giữ một vị trí quan trọng trong học thuyết cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Giải phóng và đấu tranh vì quyền phụ nữ, nam nữ bình quyền và nữ quyền, vì sự tự chủ và tiến bộ của phụ nữ, vì thế, là nhiệm vụ, mục tiêu đồng thời cũng là động lực của cách mạng, của việc xây dựng hiến pháp và pháp luật nước Việt Nam độc lập từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Tư tưởng giải phóng phụ nữ theo cùng với giải phóng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng và hoàn thiện từ những năm 1920, khi chàng thanh niên Việt Nam Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp, nhất là từ khi tham gia sáng lập và hoạt động trong Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản (Section Française de L’Internationale Communiste – tiền thân của Đảng Cộng sản Pháp), tìm thấy lý tưởng và đường lối cách mạng theo chủ nghĩa Marx - Lenin. Hoạt động cách mạng cùng các nữ chiến sĩ cộng sản ở Pháp, tìm hiểu rõ và quan sát thấy vai trò quan trọng của phụ nữ trong các phong trào cách mạng cộng sản ở Nga (trong các cuộc tranh đấu dẫn tới sự khởi sinh Cách mạng Tháng Mười năm 1917) và ở châu Á (nhất là Nhật Bản và Trung Quốc), đặc biệt là nhận thức về sự đau khổ tận cùng của phụ nữ Việt Nam dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, tất cả những điều này đã sớm hình thành ở Nguyễn Ái Quốc sự quan tâm và ý thức cách mạng về phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong cách mạng. Từ khi giành được độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào mùa Thu năm 1945, trong tư cách lãnh tụ cách mạng, người định hướng và dẫn dắt cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa giữ vai trò định hình chính sách về phụ nữ vừa trực tiếp phổ biến tư tưởng cũng như đích thân hành động để đấu tranh cho quyền phụ nữ, nam nữ bình quyền và nữ quyền, vì sự tự chủ và tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. Có thể nói, chính tính chất “tri hành hợp nhất” này đã làm nên đặc trưng và ý nghĩa tiến bộ của học thuyết cách mạng Hồ Chí Minh về vấn đề phụ nữ.
Năm 1911, từ Bến cảng Nhà Rồng, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã quyết tâm theo tàu buôn Đô đốc Latouche-Tréville sang Pháp để có cơ hội trực tiếp tìm hiểu về đế quốc Pháp, từ đó tìm ra con đường cứu nước, giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Sau khi tàu cập bến Marseille, để có thể hợp pháp ở lại Pháp, Nguyễn Tất Thành đã viết thư xin Chính phủ Pháp cho theo học trường Thuộc địa (École Coloniale). Không được chấp thuận, Nguyễn Tất Thành tiếp tục bôn ba sang Hoa Kỳ, Anh, rồi trở lại Pháp cuối năm 1917, tìm cách bắt mối với các trí thức dân tộc chủ nghĩa đến từ Đông Dương và từ các thuộc địa khác của thực dân Pháp, cũng như các trí thức vô chính phủ Pháp có khuynh hướng chống chủ nghĩa thực dân và ủng hộ các phong trào đấu tranh của giai cấp cần lao và nhân dân các nước thuộc địa, để tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp, chính đảng có tư tưởng dân chủ khuynh tả, ủng hộ các phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân bị áp bức, bắt đầu dùng tên Nguyễn Ái Quốc để hoạt động xã hội và chính trị. Giữa năm 1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của lãnh tụ vô sản Vladimir Ilyich Lenin, đăng trên Báo L’Humanité (Nhân đạo) – diễn đàn của Đảng Xã hội Pháp, số ra ngày 16 và 17 tháng 7 năm 1920. Tác phẩm quan trọng này đã soi sáng cho Nguyễn Ái Quốc, thôi thúc chàng thanh niên yêu nước Việt Nam này theo đuổi học thuyết cách mạng vô sản để từ đó tìm ra con đường phù hợp cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Dường như đó cũng là lý do chính dẫn tới việc, vào cuối tháng 12 năm 1920, trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp họp tại Tours, Nguyễn Ái Quốc đã cùng những đồng chí trong Đảng Xã hội Pháp theo đuổi chủ trương gia nhập Quốc tế Cộng sản tuyên bố thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản (Section Française de L’Internationale Communiste), trở thành thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, cũng là người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Từ đây, tình cảm yêu nước đã gặp gỡ với tư tưởng vô sản, dần dần hình thành nên học thuyết Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh về con đường cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
Sự kiện Nguyễn Ái Quốc gặp gỡ nữ đồng chí Clara Zetkin, nữ chiến sĩ cách mạng nổi tiếng của Đức, Ủy viên Ban Thường vụ Quốc tế Cộng sản, được Quốc tế Cộng sản cử đến dự Đại hội Tours, giữ vị trí khởi đầu quan trọng với sự hình thành quan niệm về vấn đề phụ nữ trong cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa trong học thuyết cách mạng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Ngay từ năm 1910, trong khuôn khổ các hội nghị phụ nữ của Quốc tế Cộng sản, bà Clara Zetkin đã trở thành người phụ nữ đầu tiên nêu ý tưởng cần chọn một ngày quốc tế phụ nữ để kỷ niệm những phụ nữ đã đứng lên đấu tranh vì quyền phụ nữ và nữ quyền trên toàn thế giới, mở đầu cho sự ra đời ngày Quốc tế phụ nữ1. Gặp gỡ với một ngọn cờ đầu của phong trào phụ nữ, một nữ chiến sĩ ý thức sâu sắc về vai trò và sự cần thiết của việc đấu tranh cho quyền phụ nữ và nữ quyền như Clara Zetkin, chắc chắn tác động mạnh mẽ đến tư tưởng Nguyễn Ái Quốc. Sau đó, trong thời gian hoạt động ở Pháp từ đầu năm 1921 đến tháng 6 năm 1923 – thời điểm bí mật rời Paris để sang Liên Xô, trong các sinh hoạt chính trị và xã hội ở Đảng Cộng sản Pháp hay Hội Liên hiệp thuộc địa, ghi chép của mật thám Pháp cũng cho biết về việc Nguyễn Ái Quốc có tham gia hoạt động cách mạng với các nữ chiến sĩ cùng chí hướng. Có thể, cùng với những tư tưởng được hấp thụ qua sách báo tuyên truyền, những tiếp xúc hằng ngày này với các nữ đồng chí càng đào luyện ở Nguyễn Ái Quốc ý thức rõ ràng và sâu sắc về những nỗi đau khổ gấp bội đàn ông mà người phụ nữ nô lệ phải chịu đựng, từ đó nhận thấy sự cần thiết của việc phải giải phóng phụ nữ, phải tổ chức họ đứng vào trong hàng ngũ cách mạng, khẳng định và phát huy vai trò và vị trí của họ trong hoạt động tranh đấu vì sự nghiệp giải phóng chung.
Báo chí và sách vở là diễn đàn đầu tiên thể hiện quan niệm về vấn đề phụ nữ của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn trước năm 1945, trong thời gian hoạt động cách mạng ở Pháp (1917-1923), ở Liên Xô (lần thứ nhất, 1923-1924; lần thứ hai, 1934-1938), ở Trung Quốc (lần thứ nhất, 1924-1927; lần thứ hai, 1929-1933; lần thứ ba, 1938-1941), ở Thái Lan (1928-1929); và trong cả thời kỳ bí mật về nước trực tiếp chỉ đạo và xây dựng lực lượng cách mạng Việt Nam từ năm 19412 . Những bài báo được Nguyễn Ái Quốc đăng trên các tờ báo như Le Libertaire (Người tự do), La Vie Ouvrière (Đời sống thợ thuyền), L’Humanité (Nhân đạo), đặc biệt là tờ Le Paria (Người cùng khổ) do Nguyễn Ái Quốc là thành viên sáng lập và điều hành, để vạch trần và tố cáo tội ác của thực dân Pháp, đã trở đi trở lại các hình ảnh bi thương của người phụ nữ thuộc địa, bằng việc trích dẫn những cảnh cướp bóc, giết chóc, cưỡng bức, đày đọa phụ nữ, gồm cả người già và bé gái, được chính những kẻ thực dân ghi lại. Hơn một lần, khi nhắc lại những hành vi man rợ này, Nguyễn Ái Quốc đã thổ lộ: “tôi run lên, mắt mờ lệ, nước mắt chảy xuống hoà với mực”3, căm giận lên án rằng “thói dâm bạo ở thuộc địa là một hiện tượng phổ biến và tàn ác không thể nào tưởng tượng được”4.
Khi trực tiếp bàn về vấn đề phụ nữ ở thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc sớm chỉ ra nỗi đau khổ chập đôi chập ba của người phụ nữ, trên cả phương diện giới và xã hội: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi. Bạo lực đó, đem ra đối xử với trẻ em và phụ nữ, lại càng bỉ ổi hơn nữa”5. Nguyễn Ái Quốc cũng mượn chính hình ảnh Nữ thần Tự Do để mỉa mai luận điệu “khai hóa văn minh” của những kẻ thực dân, khi đặt một bên “hình ảnh một người đàn bà dịu hiền” tượng trưng cho tự do, công lý, bình đẳng, bác ái, tức những chỉ dấu của văn minh, và bên kia là “người đàn bà bằng xương bằng thịt” ở thuộc địa bị chính những “người nổi tiếng là hào hoa phong nhã ra sức điểm tô” cho vị Nữ thần kia “đối xử một cách hết sức bỉ ổi” và “xúc phạm một cách vô liêm sỉ tới phong hoá, trinh tiết và đời sống”6. Lựa chọn viết về “phụ nữ An Nam và sự đô hộ của thực dân Pháp”, thông qua việc trưng dẫn “một vài sự việc mà những người vô tư đã chứng kiến và kể lại những điều tai nghe mắt thấy”, Nguyễn Ái Quốc trước hết muốn “để chị em phụ nữ phương Tây hiểu rõ giá trị của cái gọi là “sứ mạng khai hoá” mà bọn tư bản đã giành lấy độc quyền thi hành, đồng thời hiểu rõ nỗi đau khổ của chị em phụ nữ ở thuộc địa”7, và cố nhiên, sau đó, nhằm thức tỉnh đồng bào và phụ nữ ở trong nước đang chìm đắm trong vòng nô lệ.
Từ khoảng cuối năm 1923, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu chú ý nghiên cứu phong trào cách mạng ở phương Đông. Trong các bài viết đăng báo La Vie Ouvrière, L’Humanité, khi tìm hiểu về cách mạng Nhật Bản, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã nhắc tới vai trò của các tổ chức và hoạt động đấu tranh giải phóng phụ nữ. Chẳng hạn, với Nhật Bản, Nguyễn Ái Quốc đã chú ý tới phong trào của người Eta, một giai cấp những người bần cùng dưới đáy trong xã hội Nhật Bản đã biết kết đoàn lại để đấu tranh đòi quyền lợi. Điều đáng chú ý là cương lĩnh hoạt động của tổ chức Xuikhây (Bình đẳng) do người Eta thành lập có nhấn mạnh tới việc “thành lập các chi bộ của Hội cho phụ nữ và thanh niên”8. Còn ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc chú ý tới Hội Sinh viên cách mạng, một tổ chức thanh niên chịu ảnh hưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, có khoảng 100 nghìn hội viên. Cương lĩnh chính trị của Hội cũng chú ý tới vấn đề phụ nữ, trong đó nhấn mạnh vào việc thực thi “bình đẳng về giáo dục chính trị và kinh tế cho cả nam và nữ”, thi hành “hệ thống trường học thống nhất – tức là thành lập các trường học trong đó con trai và con gái cùng học”, “trả công như nhau cho lao động như nhau”, không phân biệt nam nữ, thực hiện “quyền nghỉ ngơi và tiền trợ cấp cho trường hợp đau ốm và sản phụ”9. Nguyễn Ái Quốc cũng bày tỏ sự vui mừng với sự tiến bộ của phụ nữ phương Đông. Hơn một lần, trong các bài báo viết bằng tiếng Nga (đăng trên Tạp chí Rabôtnhítxa/ Nữ công nhân) và tiếng Pháp (đăng trên Báo Le Paria), Nguyễn Ái Quốc đã giới thiệu tới độc giả quốc tế lời kêu gọi của một nữ sinh viên Trung Quốc, vốn được đăng trên một tờ báo phụ nữ ở Thượng Hải, khi nghe tin Lenin qua đời, và xem việc phụ nữ phương Đông để tang và tưởng nhớ Lenin là chỉ dấu mang tính “bước ngoặt”10, có “ý nghĩa lịch sử”11. Thông qua việc phụ nữ “khóc thương Lenin”, Nguyễn Ái Quốc khẳng định đó là một biểu hiện của sự “thức tỉnh”12 của người phụ nữ phương Đông trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và nhân loại.
Cuối năm 1924, khi từ Liên Xô về hoạt động cách mạng ở Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã tìm cách quốc tế hóa phong trào phụ nữ ở phương Đông. Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã viết thư cho Tạp chí Rabôtnhítxa do Hội Phụ nữ Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga chủ trương, đề nghị được tiếp tục cộng tác13. Với kinh nghiệm làm báo lâu năm, Nguyễn Ái Quốc muốn những bài viết đó sẽ được gửi đến tạp chí “dưới hình thức “Những bức thư từ Trung Quốc” và ký tên một phụ nữ”, vừa để làm cho “những bài viết có tính chất độc đáo hơn và phong phú hơn đối với độc giả” vừa “đồng thời cũng bảo đảm giấu được tên thật” trong tình thế phải hoạt động cách mạng bất hợp pháp. Trong bức thư, về phía mình, Nguyễn Ái Quốc muốn cung cấp cho tờ báo các “tin tức về phong trào phụ nữ ở phương Đông nói chung và ở Trung Quốc nói riêng”; từ phía tạp chí, Nguyễn Ái Quốc đề nghị họ “gửi đều đặn cho tôi không chỉ riêng báo của các đồng chí, mà cả những sách báo Nga mà phụ nữ và thiếu nhi có thể ưa thích, bởi vì ở đây còn phải làm nhiều việc vận động phụ nữ và thiếu nhi, nhưng các đồng chí của chúng ta ở đây lại chưa có đủ tài liệu huấn luyện và tuyên truyền”14.
Đồng thời với quá trình quốc tế hóa là quá trình dân tộc hóa vấn đề phụ nữ. Năm 1925, khi sáng lập Báo Thanh niên làm cơ quan tuyên truyền của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (còn gọi là Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội), Nguyễn Ái Quốc cũng đăng tải các bài viết hướng tới phụ nữ Việt Nam. Trong bài viết “Trả lời bạn nữ sinh viên X của chúng ta” đăng trên Báo Thanh niên số 13, cùng với việc giải thích về đặc điểm và vai trò của các tầng lớp và giai cấp trong cách mạng, bài viết đã đề cập đến vấn đề phụ nữ và cách mạng. Sau khi khẳng định “đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân. Nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do. Ngược lại nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ”, giới thiệu về việc thực thi nam nữ bình quyền và quyền chính trị của phụ nữ ở Liên Xô, xem đó là các cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề phụ nữ và cách mạng, tác giả bài viết dõng dạc đưa ra kết luận: “Điều đó chứng tỏ rằng vì quyền lợi của đàn bà con gái An Nam mà chúng ta làm cách mạng”15. Các bài viết khác cũng cho thấy cách tiếp cận đa dạng với vấn đề phụ nữ. Trong mục có tên là “Mục dành cho phụ nữ” trên Báo Thanh niên số 40, tác giả Mộng Liên đã giải nghĩa “về sự bất công”16. Sau khi nói về tình hình ở Trung Quốc, tác giả quay lại với thực tế ở Việt Nam, phê phán quan niệm cho rằng “đàn bà phải quanh quẩn trong bếp”. Dưới ánh sáng cách mạng, tác giả cho rằng kiểu quan niệm như thế dẫn tới tình trạng “trong xã hội và trong gia đình, người phụ nữ bị hạ thấp tột bậc và không được hưởng chút quyền gì”. Để không phải chịu ách áp bức bất công như thế, tác giả đứng lên kêu gọi: “Hỡi chị em! Vì sao chị em lại phải chịu sự áp bức bất công này?”17. Trong khi, ở một số khác, như trên Báo Thanh niên số 73, tác giả H.T lại kể câu chuyện về nữ anh hùng dân tộc Trưng Trắc18. Để rồi từ câu chuyện trong lịch sử hướng về hiện tại, tác giả cho rằng ngay như buổi phong kiến mà đàn bà, con gái còn biết cách mạng thì ngày nay, khi ở ngoài nước thì hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế giới, còn ở trong nước thì dân tình gặp phải cảnh suy vi, đứng trước tình thế đó chị em “nỡ lòng nào ngồi yên được”. Và khi lòng đã không yên thì phải biến thành hành động, “mau mau đoàn kết lại”, để đấu tranh giải phóng phụ nữ, giải phóng dân tộc19.
Bên cạnh báo chí, vấn đề phụ nữ cũng xuất hiện trong hai cuốn sách quan trọng nhất của Nguyễn Ái Quốc ở giai đoạn này: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và Đường Kách mệnh (1927). So với các bài viết xuất hiện lẻ tẻ trên các tờ báo, hai cuốn sách này đã thể hiện một cách hệ thống và bài bản những nền tảng căn bản trong học thuyết cách mạng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Với Bản án chế độ thực dân Pháp, đó là con đường đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản. Với Đường Kách mệnh, đó là con đường vận dụng sáng tạo chủ nghĩa vô sản vào chủ nghĩa dân tộc, gắn đấu tranh giai cấp với đấu tranh giải phóng dân tộc, vì dân tộc độc lập và thế giới đại đồng.
Bản án chế độ thực dân Pháp được Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp, xuất bản lần đầu tiên bởi Thư quán Lao động Paris (Pháp) năm 1925. Đây là tác phẩm quan trọng của Nguyễn Ái Quốc, vừa vạch trần được tội ác của thực dân Pháp vừa qua đó khéo léo truyền bá chủ nghĩa Marx - Lenin vào Việt Nam và các nước thuộc địa khác, góp phần vào việc thức tỉnh và kêu gọi đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, vì độc lập, tự chủ và tiến bộ xã hội. Trong 12 chương và một phụ lục “Gửi thanh niên Việt Nam”, Nguyễn Ái Quốc đã dành hẳn một chương – “Nỗi khổ nhục của người phụ nữ bản xứ”20 – để vạch trần tội ác của thực dân Pháp không chỉ với phụ nữ Việt Nam mà với toàn bộ phụ nữ bản xứ ở những thuộc địa khác. Cũng giống như với các bài báo, độc giả trực tiếp mà Nguyễn Ái Quốc hướng tới là phụ nữ chính quốc, giúp họ thấu hiểu phụ nữ bản xứ ở các thuộc địa Pháp “sống quằn quại trong cảnh lầm than và bị áp bức như thế nào”21, từ đó kêu gọi đoàn kết giới và đoàn kết quốc tế, thôi thúc họ ủng hộ và tham gia các phong trào đấu tranh phản chiến, vì hòa bình và tình cảm quốc tế trong sáng cao đẹp. Tất nhiên, một cách ngầm ẩn, khi tác phẩm được bí mật tuyên truyền tới các phong trào tranh đấu ở các thuộc địa, việc phơi bày tội ác của thực dân đối với phụ nữ bản xứ22 cũng góp phần thức tỉnh người dân nói chung và phụ nữ nói riêng, kêu gọi họ đứng dậy đấu tranh đập tan xích xiềng nô lệ, giành lấy tự do, bảo vệ phẩm giá làm người.
Đường Kách mệnh là cuốn sách tập hợp những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên trong những năm 1925-1927, do Bị áp bức dân tộc liên hợp hội tuyên truyền bộ (Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông) xuất bản năm 1927 tại Quảng Châu (Trung Quốc), để dùng làm tài liệu học tập và tuyên truyền cách mạng. Đây là tác phẩm quan trọng của Nguyễn Ái Quốc, ghi nhận một sự trưởng thành trong học thuyết cách mạng Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, cũng là một bước chuẩn bị cho sự thành lập Đảng Cộng sản, tư tưởng và lực lượng cách mạng Việt Nam. Đường Kách mệnh tập hợp 15 bài giảng. Đầu tiên là các bài giảng về tư cách người cách mạng, về tính chất và mục đích của cuốn sách, về bản chất của cách mạng, giúp cho học viên và đồng bào hiểu rõ về sự cần thiết phải làm cách mạng, cách mạng là việc làm của tất cả mọi người. Tiếp theo, cuốn sách tập trung vào việc giới thiệu lịch sử cách mạng các nước và các phong trào cách mạng thế giới, xem đó là tấm gương, là bài học soi sáng cho cách mạng Việt Nam, chỉ cho học viên và đồng bào hiểu rõ ai là bạn, ai là thù trong cuộc cách mạng. Cuối cùng, cuốn sách trình bày cách thức tổ chức và đấu tranh cách mạng. Vấn đề phụ nữ được hiện diện ở phần thứ hai, trong bài giảng về “Phụ nữ Quốc tế”23.
Trong bài giảng ngắn gọn này, để trả lời cho câu hỏi “vì sao lập ra Phụ nữ Quốc tế?”, Nguyễn Ái Quốc dẫn lời các lãnh tụ vô sản (với Karl Marx, “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tấn bộ ra thế nào?”; với V. I. Lenin, “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”) và thực tế lịch sử cách mạng các nước Pháp và Nga, để khẳng định rằng “muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động đàn bà con gái công nông các nước”. Đệ tam quốc tế (tức Quốc tế Cộng sản) “tổ chức Phụ nữ Quốc tế” là vì lẽ ấy24. Tiếp theo, bài giảng cũng lược thuật về lịch sử hình thành và phát triển của Phụ nữ Quốc tế, nhấn mạnh vào vai trò sáng lập của bà Zetkin và thành tựu mà tổ chức này có được trong đời sống cách mạng Liên Xô. Cuối cùng, trình bày vắn tắt về “cách tổ chức của Phụ nữ Quốc tế”25. Trong hình dung chung, Phụ nữ Quốc tế có “quy tắc và chương trình thì đại khái cũng như Đệ tam quốc tế”, song “chỉ chuyên trách về mặt tuyên truyền, tổ chức và huấn luyện đàn bà con gái, và giúp về đường giáo dục trẻ con công nông”; trong Đệ tam quốc tế, mỗi đảng cộng sản trực thuộc “phải có một bộ phụ nữ, trực tiếp thuộc về Phụ nữ Quốc tế”26. Điều lệ hoạt động của “đảng viên đàn bà” cũng giống như các đảng viên cộng sản. Vì thế, dưới sự lãnh đạo của tổ chức, dù “quy tắc rất nghiêm, hành động rất thống nhất, và việc làm cũng rất khó”, dù “phần nhiều đàn bà con gái còn có tư tưởng thủ cựu”, song trong Quốc tế Phụ nữ, “ai cũng hết lòng, cho nên tiến bộ mau”. Điều này khiến cho, ở ngay những đảng cộng sản mới lập như đảng ở Java (Indonesia), “đảng viên đàn bà mỗi ngày một thêm nhiều”. Soi vào thực tế cách mạng Việt Nam, Đường Kách mệnh dõng dạc khẳng định: “An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công, mà nữ giới An Nam muốn cách mệnh thì phải theo Phụ nữ Quốc tế chỉ bảo”27. Vậy là ngay từ khi mới bồi dưỡng lực lượng thành lập Đảng Cộng sản để dẫn dắt phong trào cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã hết sức chú ý và coi trọng vai trò của phụ nữ, xem họ là một lực lượng cách mạng quan trọng, cần bồi dưỡng để họ từ bỏ “tư tưởng thủ cựu” để “tiến bộ”, từ đó tham gia vào cuộc cách mạng chung, giải phóng phụ nữ, giải phóng giai cấp cần lao, giải phóng dân tộc.
Có thể nói từ Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) đến Đường Kách mệnh (1927), Nguyễn Ái Quốc đã hình thành bộ khung tư tưởng về cách mạng Việt Nam. Ở những vấn đề căn bản nhất ấy, vấn đề phụ nữ đã hiện diện và chiếm một vị trí quan trọng trong tôn chỉ, chương trình, mục tiêu, giải pháp của đấu tranh cách mạng. Vì vậy, khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào tháng 3 năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng28, văn kiện quan trọng đặt nền tảng cho cách mạng Việt Nam, khi xác định mục tiêu trên các phương diện “xã hội”, “chính trị”, “kinh tế”, vấn đề “nam nữ bình quyền” đã được đặt ra bên cạnh các vấn đề “dân chúng được tự do tổ chức” và “phổ thông giáo dục theo công nông hóa”, để hợp thành ba mục tiêu chính trên phương diện văn hóa của cuộc cách mạng29. “Thực hiện nam nữ bình quyền” cũng là một trong mười mục tiêu mà Đảng Cộng sản Việt Nam ưu tiên thực hiện, theo như “Lời kêu gọi” được Nguyễn Ái Quốc thay mặt Đảng và Quốc tế Cộng sản gửi tới các đồng chí cộng sản trên thế giới và đồng bào cả nước30.
Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc bí mật về nước hoạt động tuyên truyền và tổ chức cơ sở cách mạng. Tháng 5 năm 1941, tại Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí trong Đảng đã quyết định thành lập Hội Việt Nam độc lập đồng minh (thường gọi tắt là Việt Minh) nhằm kết đoàn rộng rãi tất cả các đảng phái, tổ chức, giai cấp, đoàn thể quần chúng thành một mặt trận thống nhất đấu tranh đánh Pháp, đuổi Nhật, giành lấy độc lập tự do. Giống như cách thức tuyên truyền cổ động của Đảng Cộng sản Việt Nam khi trước, dường như để dễ nhớ và dễ phổ biến, Việt Minh cũng ban hành mười chính sách quan trọng tương đương với mười mục tiêu mà tổ chức này đề ra để thực hiện. Trong mười chính sách của Việt Minh, mà ngoài văn kiện chính thức còn được phổ biến bởi một bài thơ mang âm hưởng diễn ca do chính Nguyễn Ái Quốc sáng tác31, có một chính sách là giải phóng phụ nữ, đấu tranh vì bình quyền nam nữ: “Đàn bà cũng được tự do/ Bất phân nam nữ, đều cho bình quyền”32. Vậy là trong nội bộ tổ chức của Đảng hay trong toàn thể đồng bào không phân biệt giai cấp đảng phái, vấn đề phụ nữ luôn hiện diện như một vấn đề trọng tâm. Điều đó lý giải cho việc, không phải ngẫu nhiên, ngay trên những số đầu tiên của Báo Việt Nam độc lập, số 104 (tức số 4), ra ngày 1 tháng 9 năm 1941, là cơ quan tuyên truyền của Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc đã đăng bài thơ Phụ nữ, với lời lẽ trong sáng, giản dị để phổ biến rộng rãi nhận thức về vai trò, vị trí của phụ nữ, cổ động cho phong trào phụ nữ:
“Việt Nam phụ nữ đời đời
Nhiều người vì nước, vì nòi hi sinh.
Ngàn thu rạng tiếng Bà Trưng,
Ra tay cứu nước, cứu dân đến cùng.
[…] Đua nhau vào Hội Việt Minh
Trước giúp nước, sau giúp mình mới nên.
Làm cho thiên hạ biết tên
Làm cho rõ mặt cháu Tiên, con Rồng”33.
Ở đây, cũng cần nói thêm rằng, như được thể hiện trong các bài thơ Mười chính sách của Việt Minh, Phụ nữ, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã ý thức một cách sâu sắc và thực hiện một cách hiệu quả việc quần chúng hóa các vấn đề tư tưởng ngay từ khi trở về nước trực tiếp dẫn dắt và lãnh đạo phong trào cách mạng. Những bài thơ có tính chất “nôm na” như Mười chính sách của Việt Minh, Phụ nữ chính là việc hiện thực hóa, có ý nghĩa như một bước ngoặt diễn ngôn, quan niệm và thực hành tuyên truyền cách mạng, góp phần quan trọng vào việc phổ biến một cách rộng rãi tư tưởng cách mạng tới quảng đại quần chúng phần nhiều còn thất học, mù chữ vì chính sách ngu dân của chính quyền thuộc địa. Như chúng ta sẽ thấy về sau, dù khi đã trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn luôn quán triệt quan điểm này trong việc chỉ đạo và quán triệt tư tưởng và chính sách của Đảng và Nhà nước nói chung, trình bày và phổ biến vấn đề phụ nữ nói riêng, bất luận các phong trào như diệt giặc dốt, bình dân học vụ, cùng sự phát triển của nền giáo dục mới đã góp phần quan trọng vào việc xóa nạn mù chữ cho đông đảo người dân, trong đó chiếm phần đông là phụ nữ.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, xây dựng và bảo vệ nhà nước Việt Nam mới dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục quan tâm đến phụ nữ và vấn đề phụ nữ trong kháng chiến và kiến quốc, trên cả phương diện tổ chức chính thể và con người cá nhân. Điều này thể hiện ở việc Chủ tịch Hồ Chí Minh xúc tiến thể chế hóa các quan niệm tiến bộ và chính sách về vấn đề phụ nữ trong hiến pháp và pháp luật, đồng thời với việc trực tiếp phổ biến và cổ động phong trào phụ nữ, thông qua báo chí sách vở, phát biểu chỉ đạo tại các hội nghị và gặp gỡ thân mật đồng bào và đại biểu phụ nữ khắp cả nước.
Trên phương diện thể chế, Hiến pháp34 đầu tiên (Hiến pháp 1946) của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946 đã khẳng định và đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của phụ nữ trên nhiều phương diện. Điều thứ 1, Chương 1 bàn về Chính thể, khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa”, “tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Đây cũng là một trong ba nguyên tắc xây dựng Hiến pháp, với việc thống nhất đảm bảo đoàn kết toàn dân, đảm bảo các quyền tự do dân chủ và thực hiện chính quyền nhân dân. Điều thứ 9, Mục B, Chương 2 bàn về nghĩa vụ và quyền lợi công dân, khẳng định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Cũng trong chương này, ở Điều thứ 18, Mục C, Hiến pháp cũng khẳng định “tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử”. Vậy là bằng việc đưa ra các điều khoản này, Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khẳng định và đảm bảo nam nữ bình quyền và quyền chính trị cho phụ nữ, một tư tưởng thực sự cấp tiến so với các chính thể trên thế giới cho tới lúc bấy giờ, nhìn trên phương diện ý thức về giới và dân tộc. Hiến pháp sửa đổi (Hiến pháp 1960) được Quốc hội thông qua ngày 31 tháng 12 năm 1959 tiếp tục khẳng định và đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của phụ nữ. Trong đó, quyền chính trị của phụ nữ được ghi ở Điều 23, Chương 3, xác định các quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Các quyền lợi và nghĩa vụ khác của phụ nữ được ghi riêng ở Điều 24, cũng ở chương này, cụ thể như sau:
“Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình.
Cùng việc làm như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới. Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương.
Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ.
Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình”.
So với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1960 đã cụ thể hóa và làm rõ quyền lợi và nghĩa vụ của phụ nữ, ngoài yêu cầu về nam nữ bình quyền còn đưa ra những cam kết bảo hộ phụ nữ trong hôn nhân, gia đình, thai sản. Cũng trong kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa 1, kỳ họp thông qua Hiến pháp 1960, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn thông qua Luật Hôn nhân và gia đình ngày 29 tháng 12 năm 1959. Bộ luật Luật Hôn nhân và gia đình, với 6 chương và 35 điều35, là văn bản pháp lý quan trọng và hệ thống nhất cho tới bấy giờ về chính sách liên quan tới vấn đề phụ nữ. Chương về nguyên tắc chung, gồm 3 điều, khẳng định nhà nước “bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái” (Điều 1), “xóa bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái” (Điều 2), “cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, đánh đập hoặc ngược đãi vợ. Cấm lấy vợ lẽ” (Điều 3), tất cả nhằm “xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ” (Điều 1). Các chương còn lại cụ thể hóa nguyên tắc và mục tiêu này, trên các phương diện kết hôn, nghĩa vụ và quyền lợi của vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, ly hôn và các điều khoản để thi hành.
Giống như việc soạn thảo và điều chỉnh Hiến pháp, nơi quyền phụ nữ, nam nữ bình quyền và nữ quyền, vì sự tự chủ và tiến bộ của phụ nữ được chú trọng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm, chỉ đạo, góp ý cho Luật Hôn nhân và gia đình ngay từ khi dự thảo luật được đưa ra lấy ý kiến. Phát biểu tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình tại Hà Nội ngày 10 tháng 10 năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng việc xây dựng xã hội chủ nghĩa không thể tách rời với việc giải phóng phụ nữ:
“Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội.
Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa.
Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt. Tục ngữ ta có câu: “Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn”.
Muốn thuận vợ thuận chồng thì lấy nhau phải thực sự yêu đương nhau”36.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, gia đình là hạt nhân của xã hội, hạt nhân ấy phải được cấu thành dựa trên cơ sở tình yêu và hôn nhân. Vì thế phải chú trọng tự do hôn nhân, phải thực thi chính sách một vợ một chồng, xóa bỏ hết hủ tục đồi phong là tàn dư của xã hội trọng nam khinh nữ cũ. Chính vì thế, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Luật lấy vợ lấy chồng sắp đưa ra Quốc hội là một cuộc cách mạng, là một bộ phận của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Vì vậy phải đứng trên lập trường vô sản mà hiểu nó. Nếu đứng trên lập trường phong kiến hay là tư sản, tiểu tư sản mà hiểu luật ấy thì không đúng.
Luật lấy vợ lấy chồng nhằm giải phóng phụ nữ, tức là giải phóng phân nửa xã hội. Giải phóng người đàn bà, đồng thời phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản trong người đàn ông.
Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh.
Đối với luật lấy vợ lấy chồng từ lúc chuẩn bị đến lúc đưa ra và thi hành, Đảng phải lãnh đạo vì đó là một cuộc cách mạng. Đảng lãnh đạo nghĩa là cán bộ và đảng viên phải làm cho đúng và lãnh đạo các đoàn thể thanh niên và phụ nữ kiên quyết làm cho đúng”37.
Chủ tịch Hồ Chí Minh xem việc biên soạn và ban hành Luật Hôn nhân và gia đình là “một cuộc cách mạng”. Tính cách mạng ấy thể hiện trên nhiều phương diện. Thứ nhất, về phương diện pháp lý, quan điểm hôn nhân một vợ một chồng, cấm lấy vợ lẽ là một quan điểm cấp tiến ở thời điểm lúc bấy giờ. Thứ hai, về phương diện giới và xã hội, việc “giải phóng phụ nữ” đi cùng với việc “tiêu diệt tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản trong người đàn ông” là một hành động kép, tác động vào chính căn nguyên của tư tưởng trọng nam khinh nữ trong xã hội truyền thống. Thứ ba, về phương diện tổ chức thi hành, luật cũng khuyến khích sự tự chủ và tự vận động của người phụ nữ, đồng thời đặt ra yêu cầu các đoàn thể (như phụ nữ và thanh niên) phải tích cực hỗ trợ. Cuối cùng, chỉ ra những khó khăn của việc đưa pháp luật vào thực tiễn đời sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “các cô các chú cố gắng, bền gan, hiểu rõ và làm tốt”, vừa tích cực song cũng phải vừa thận trọng, vì về phương diện giới và dân tộc, “luật này quan hệ đến tương lai của gia đình, của xã hội, của giống nòi”38. Về sau, trong nhiều cuộc tiếp xúc cử tri, nói chuyện và gặp gỡ với cán bộ, các đoàn thể hay đông đảo đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tỏ rõ quan điểm tán thành, tán thưởng và thường xuyên phổ biến và cổ vũ thi hành Luật Hôn nhân và gia đình. Không nhiều quan điểm chính sách pháp luật có được nhiều sự quan tâm chú ý đến vậy từ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, bên cạnh việc xây dựng và ban hành chính sách về phụ nữ và vấn đề phụ nữ, thể chế hóa trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng hết sức chú ý đến việc phổ biến tư tưởng, quan niệm về quyền phụ nữ, nam nữ bình quyền và nữ quyền, vì sự tự chủ và tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. Có thể xem đó là cuộc cách mạng hằng ngày về vấn đề phụ nữ trong tương quan với những dấu mốc lịch sử các cuộc cách mạng mà Hiến pháp và pháp luật đem lại.
Trong hoàn cảnh đất nước vừa kháng chiến vừa kiến quốc trong những năm thực dân Pháp trở lại xâm lược hay vừa xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc vừa đấu tranh chống đế quốc Mĩ can thiệp ở miền Nam để giành lại độc lập tự do, thống nhất Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem phụ nữ trước hết là một lực lượng cách mạng ưu tú, theo đó mà khuyến khích phụ nữ ra ngoài xã hội, cổ vũ họ khẳng định vị thế, vai trò và sự hiện diện xã hội. Phụ nữ được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao trong các công tác xã hội, như diệt giặc đói, diệt giặc dốt, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xóa nạn mù chữ, thúc đẩy bình dân học vụ, tăng gia sản xuất phục vụ đời sống ở hậu phương và đảm bảo nhu yếu phẩm cho tiền tuyến. Trong cuộc chiến tranh nhân dân, phụ nữ cũng được xem như những chiến sĩ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đem kinh nghiệm đánh du kích của cách mạng Trung Quốc, của cách mạng Pháp, phổ biến cho phụ nữ Việt Nam. Trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, bên cạnh sản xuất, phụ nữ cũng được khuyến khích tham gia các tổ đội du kích trực chiến, tham gia thanh niên xung phong, góp công sức vào cuộc chiến đấu chung của toàn dân tộc. Dõi theo phong trào phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên viết báo, viết thư, tiếp đón đại diện phụ nữ từ các vùng miền, các nữ chiến sĩ tiêu biểu được đại diện cho các cuộc vận động thi đua, các kế hoạch sản xuất và chiến đấu. Thậm chí, mỗi khi đi công tác ở các địa phương, trong mỗi dịp tiếp xúc với cán bộ cơ sở và đồng bào, nếu có cơ hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành thời gian để gặp gỡ và trò chuyện với đại diện phụ nữ, nhất là trong các chuyến viếng thăm đồng bào dân tộc thiểu số. Dù gián tiếp trò chuyện qua bài viết và thư từ hay trực tiếp gặp gỡ trao đổi với phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn thể hiện phong thái vừa gần gũi vừa lịch lãm. Bất cứ ở đâu có sự xuất hiện của cả nam và nữ thì nữ giới luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh ân cần trìu mến nhắc đến trước, hỏi thăm trước, ngợi khen và động viên trước. Cử chỉ ấy nhanh chóng xóa nhòa khoảng cách sử thi giữa lãnh tụ và quần chúng, khiến cho quan điểm tư tưởng thông qua hành động cụ thể, nhanh chóng được truyền tải tới mọi người xung quanh, giúp họ dễ dàng hiểu rõ và làm theo những điều tốt đẹp.
Trong khi đó, với các bài viết, các phát biểu trong các dịp kỷ niệm ngày 8 tháng 3, phát động hoặc tổng kết các phong trào phụ nữ, các hội nghị, các kỳ đại hội,… Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn xem đó là cơ hội để phổ biến và truyền tải các thông điệp về vai trò và địa vị của phụ nữ Việt Nam, cổ vũ cho quyền phụ nữ, nam nữ bình quyền và nữ quyền, vì sự tự chủ và tiến bộ của phụ nữ. Điểm đáng chú ý ở đây là các bài viết và bài nói này đều được Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày hết sức dung dị39. Thỉnh thoảng, trong những lời nói như trong những câu chuyện hàng ngày ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại xen vào những câu nói mang tính tổng kết, những triết lý sâu sắc, giàu hình ảnh, giúp cho tư tưởng ấy ngay lập tức rọi sáng và in sâu trong tâm trí người đọc, người nghe. Trong Thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế Phụ nữ năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”40. Ngược lại, để giải thích về một tư tưởng, một khái niệm phức tạp, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại lựa chọn cách diễn đạt giản dị, với lời lẽ và hình ảnh gần gũi, dễ hiểu, dễ nắm bắt. Giải thích về “nam nữ bình quyền” và những thách thức khi thực hiện chủ trương này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“Nhiều người lầm tưởng đó là một việc dễ, chỉ: hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát thế là bình đẳng bình quyền. Lầm to!
Đó là một cuộc cách mạng khá to và khó.
Vì trọng trai khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm để lại. Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội.
Vì không thể dùng vũ lực mà tranh đấu. […]
Vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật. Phải cách mạng từng người, từng gia đình, đến toàn dân. Dù to và khó nhưng nhất định thành công”41.
Trong một dịp khác, phát biểu tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ 3 (tháng 3 năm 1961), sau khi nêu các ý kiến quan trọng để Đại hội bàn bạc, như: việc đoàn kết phụ nữ trong nước và quốc tế; việc xây dựng ý thức tự cường, tinh thần tự lập và trách nhiệm làm chủ của phụ nữ; việc chăm sóc trẻ em; việc thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình; vai trò của Đảng và cán bộ lãnh đạo đối với phong trào phụ nữ, tức cả những vấn đề mang tính lý thuyết và thực tiễn; Chủ tịch Hồ Chí Minh kết lại bằng hai câu thơ vần vè làm phá vỡ hoàn toàn không khí nghiêm nghị của việc chỉ đạo:
“Mấy lời đề nghị nôm na,
Đại hội cố gắng ắt là thành công!”42.
Chúng ta luôn gặp những chiến lược diễn ngôn như vậy trong các văn bản nói và viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi bàn về vấn đề phụ nữ. Chính điều này làm cho việc chỉ đạo và phổ biến tư tưởng về quyền phụ nữ, nam nữ bình quyền và nữ quyền, vì sự tự chủ và tiến bộ của phụ nữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh dễ dàng lan tỏa sâu rộng vào trong quảng đại quần chúng. Chiến lược ấy cũng giúp tư tưởng tiến bộ về phụ nữ dễ dàng phổ cập vào trong đời sống, biến thành hành động cụ thể, tích cực thúc đẩy phong trào phụ nữ Việt Nam.
Trong suốt cuộc đời tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc và lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam giành độc lập tự do, vì dân chủ, tiến bộ, công bằng xã hội và hạnh phúc nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn ưu tư, dành sự quan tâm và chú ý đến phụ nữ, các vấn đề của phụ nữ cũng như các phong trào mà nhờ đó phụ nữ tìm được tiếng nói, địa vị, bình đẳng, bình quyền, tự lập, tự chủ, phát huy được vai trò của họ trong cuộc đấu tranh vì bình đẳng giới, vì tiến bộ xã hội, độc lập dân tộc và hòa bình thế giới. Tình thế thuộc địa và chiến tranh khiến cho phụ nữ được hình dung trước nhất như một lực lượng cách mạng. Song việc cổ vũ phụ nữ ra ngoài xã hội, thậm chí nam tính hóa nữ tính trong kháng chiến và kiến quốc, lại cũng vì thế mà giúp cho phụ nữ có được sự hiện diện xã hội. Để rồi từ chính trong sự hiện diện ấy mà phụ nữ rèn giũa được ở họ ý thức về giới, về bất bình đẳng, về sự cần thiết phải tự lực, tự chủ, về phẩm hạnh và phẩm giá của người làm chủ bản thân, gia đình, xã hội, đất nước. Không có thành công nào mà không đi cùng với sự hi sinh, vì thế, từ trong sâu thẳm, Chủ tịch Hồ Chí Minh ý thức rõ ràng về đóng góp và sự thiệt thòi của phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh cách mạng. Không phải ngẫu nhiên mà trong Di chúc được chỉnh lý và viết thêm vào năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra trước nhất vấn đề chỉnh đốn Đảng cùng với sự cần thiết phải thực hiện những ứng xử phải lẽ với con người thời hậu chiến. Với phụ nữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Trong sự nghiệp chống Mĩ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”43. Lời căn dặn ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy dẫu tư tưởng tiến bộ về phụ nữ đã được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật, được phổ biến và thực thi trong đời sống nhưng “cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ” vẫn ở phía trước, còn tiếp tục phải thực hiện. Để đảm bảo thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng đó, phải đồng thời có cả cam kết và nỗ lực từ Đảng và Chính phủ cùng ý chí và nguyện vọng của chính phụ nữ, như là trách nhiệm, nghĩa vụ, bổn phận của thể chế và người dân, để đền đáp công ơn người đã khuất, hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh vì bình đẳng giới trong hiện tại, vì tương lai tự chủ và tiến bộ của phụ nữ. Soi vào thực tế phong trào phụ nữ Việt Nam hiện nay, tư tưởng tiến bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền phụ nữ, nam nữ bình quyền và nữ quyền, vì sự tự chủ và tiến bộ của phụ nữ hãy còn nguyên giá trị và tính thời sự. Lời căn dặn, mong muốn về “quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo đó, cần được khắc sâu trong tâm khảm mỗi người dân, bất kể nam nữ, tạc ghi trong tôn chỉ mọi tổ chức, bất kể công quyền hay dân sự, để nhắc nhớ về một sự nghiệp cần thiết, một mục tiêu cần đạt, một công việc cần phải tiếp tục, phải làm ngay.
Chú thích:
1 Ngày 8 tháng 3 năm 1917, một cuộc biểu tình của phụ nữ Nga tại Saint-Peterburg đã góp phần làm dấy lên cuộc Cách mạng Tháng Mười. Nhà nước Liên Xô từ đó chọn ngày 8 tháng 3 làm ngày kỷ niệm phụ nữ toàn liên bang. Ngày này cũng phổ biến trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào vô sản trên toàn cầu. Năm 1977, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc chính thức chọn ngày 8 tháng 3 là Ngày của Liên Hợp Quốc về quyền phụ nữ và hòa bình thế giới, được biết đến với tên gọi phổ biến là Quốc tế Phụ nữ.
2 Trong thời gian này, khoảng hơn một năm, từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943, dưới tên gọi Hồ Chí Minh, con người của hành động cách mạng này nhất thời bị tách rời các phong trào tranh đấu vì bị chính quyền Trung Hoa Dân quốc bắt giam khi sang Trung Quốc tìm kiếm sự ủng hộ cho phong trào cách mạng trong nước. Tuy nhiên, khoảng lặng này lại là một cơ hội để hồn thơ của người cách mạng được lên tiếng, nhờ đó mà có sự ra đời tập thơ độc đáo Nhật ký trong tù, góp thêm một phương diện cần thiết để hình dung trọn vẹn về tư tưởng và tâm hồn Chủ tịch Hồ Chí Minh.
3 Nguyễn Ái Quốc (1921), “Sự quái đản của công cuộc khai hóa” ( trên Le Libertaire, ngày 30.9 -7.10.1921), dẫn theo Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 1, NXB. Chính trị quốc gia, 2021, tr. 67.
4, 5, 6, 7 Nguyễn Ái Quốc (1922), “Phụ nữ An Nam và sự đô hộ của thực dân Pháp” (in trên Le Paria, số 5, ngày 1.8.1922), dẫn theo Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 1, Sđd, tr. 114.
8 Nguyễn Ái Quốc (1923), “Nhật Bản” (in trên Báo La Vie Ouvrière, ngày 9.11.1923), dẫn theo Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 1, Sđd, tr. 239.
9 Nguyễn Ái Quốc (1923), “Tình hình ở Trung Quốc”, (Báo L’Humanité, ngày 4.12.1923), dẫn theo Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 1, Sdđ, tr. 243.
10 Nguyễn Ái Quốc (1924), “Phụ nữ phương Đông” (in trên Rabôtnhítxa, số 9, tháng 5.1924), dẫn theo Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 1, Sđd, tr. 289.
11, 12 Nguyễn Ái Quốc (1924), “Lênin và các dân tộc phương Đông” (in trên Le Paria, số 27, tháng 7.1924), dẫn theo Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 1, tr. 318.
13, 14 Nguyễn Ái Quốc (1924), “Gửi Ban Biên tập Tạp chí Rabôtnhítxa” (Thư đánh máy bằng tiếng Pháp, bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng), dẫn theo Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 2, Sđd, tr. 3-4, 3.
15 Nguyễn Ái Quốc (1925), “Trả lời bạn nữ sinh viên X của chúng ta” (in trên Báo Thanh niên, số 13, tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng), dẫn theo Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 2, Sđd, tr. 506.
16, 17 Nguyễn Ái Quốc (1926), “Mục dành cho phụ nữ: Về sự bất công” (in trên Báo Thanh niên, số 40, tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng), dẫn theo Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 2, Sđd, tr. 512.
18, 19 Nguyễn Ái Quốc (1926), “Bà Trưng Trắc” (in trên Báo Thanh niên, số 73, ngày 12.12.1926, tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng), dẫn theo Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 2, Sđd, tr. 520-521, 521.
20, 21 Nguyễn Ái Quốc (1925): “Bản án chế độ thực dân Pháp”, trong Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 2, Sđd, tr. 114-122, 114.
22 Không chỉ tố cáo tội ác của thực dân Pháp, trong một bài viết khác, Nguyễn Ái Quốc cũng tố cáo tội ác của thực dân Anh, từ đó phơi bày tính chất tàn ác và phản động của chủ nghĩa thực dân (xem: Nguyễn Ái Quốc (1926), “Văn minh tư bản chủ nghĩa và phụ nữ ở các thuộc địa” (tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục Lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng), dẫn theo Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 2, Sđd, tr. 145-146).
23, 24, 25, 26, 27 Nguyễn Ái Quốc (1927), “Đường Kách mệnh”, trong Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 2, Sđd, tr. 313-315, 313, 314-315, 315, 315.
28, 29 Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), “Chánh cương vắn tắt của Đảng”, trong Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 3, Sđd, tr. 1-2, 1.
30 Xem: Nguyễn Ái Quốc (1930), “Lời kêu gọi”, trong Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 3, Sđd, tr. 20-22.
31, 32 Xem: Nguyễn Ái Quốc (1941), “Mười chính sách của Việt Minh”, trong Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 3, Sđd, tr. 242-243, 243.
33 Nguyễn Ái Quốc (1941), “Phụ nữ”, trong Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, Tập 3, Sđd, tr. 239.
34 Các Hiến pháp, năm 1946 và sửa đổi năm 1960, được trích dẫn ở đây đều theo văn bản được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (https://vanban.chinhphu.vn/he-thongvan-ban?classid=1&mode=1&typegroupid=1).
35 Về Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và các trích dẫn ở đây, xem văn bản điện tử được công bố trên trang web Thư viện Pháp luật (https:// thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/LuatHon-nhan-va-gia-dinh-1959-2-SL-36857.aspx).
36, 37, 38 Hồ Chủ tịch (1959), “Bài nói tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình”, trong Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 12, Sđd, tr. 300-301, 301, 302.
39 Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn ý thức và đòi hỏi phải nói và viết tiếng Việt trong sáng, giản dị, vừa giúp cho người đọc, người nghe dễ tiếp thu, dễ hiểu, vừa giúp rèn luyện cho tiếng Việt trở nên phong phú và giàu có. Về vấn đề này, xem thêm “Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “Người tốt, Việc tốt””, trong Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 15, Sđd, tr. 661-673.
40 Hồ Chí Minh (1952), “Thư gửi phụ nữ nhân dịp kỷ niệm Hai Bà Trưng và ngày Quốc tế Phụ nữ”, trong Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 7, Sđd, tr. 340.
41 Hồ Chí Minh (1952), “Nam nữ bình quyền”, trong Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 7, Sđd, tr. 342.
42 Hồ Chí Minh (1961), “Nam nữ bình quyền”, trong Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 13, Sđd, tr. 58-61.
43 Hồ Chí Minh (1968), “Di chúc”, trong Hồ Chí Minh toàn tập (xuất bản lần thứ ba, có sửa chữa), CD-ROM, tập 15, Sđd, tr. 617.