Có cả một hệ thống biểu trưng rất phong phú trong ngôn ngữ tiếng Việt là những tín hiệu thẩm mĩ mà càng khám phá người ta càng nhận ra những vẻ đẹp sinh động. Có những motif quen thuộc nhưng đặt trong những văn cảnh khác nhau, chúng lại sáng lên những ý nghĩa mới. Là một biểu trưng quen thuộc, chữ “xuân” vượt ra khỏi nghĩa chỉ thời gian (“Xuân bất tái lai”…) để nói về niềm vui, ước mong, hạnh phúc, niềm tin, tuổi trẻ (“Có nam có nữ mới nên xuân”…). Là người chú trọng học tập, kế thừa, phát triển truyền thống, thơ Bác Hồ nhiều “xuân”, ngoài chỉ thời gian (“Xuân này kháng chiến đã năm xuân/ Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công” - Thơ chúc Tết 1951) còn mang nhiều ý nghĩa mới mẻ khác. Thống kê (trên các văn bản đã công bố) cho thấy Bác Hồ dùng khoảng gần 400 lần chữ “xuân”. Một lần Bác tự đặt tên mình là Xuân. Tháng 3.1947, Bác đặt tên 8 đồng chí làm việc cùng, với tên mới cho họ là Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi. Đồng chí Kỳ mạnh dạn nói: “Thưa Bác, chúng cháu đã có tên mới. Còn Bác, đặt tên là gì ạ?”. Bác nhìn tất cả rồi nói vui: “Để kỷ niệm cuộc hành quân trở lại căn cứ trong mùa xuân này, các chú cứ gọi Bác là Xuân, được chưa?”1. Ví dụ này cho thấy Bác đặt tên căn cứ vào nhiệm vụ và gửi vào đó sự tin tưởng chắc chắn vào thắng lợi. Trong Di chúc, Người cũng dùng từ “xuân” với nghĩa vừa chỉ thời gian vừa nói về về sức trẻ, niềm yêu đời: “Khi người ta đã ngoài 70 xuân…”.
1. Mùa xuân – một quy luật tự nhiên và xã hội
Trong Thư mừng năm mới năm 1960, Bác viết: “Mừng Nhà nước ta 15 xuân xanh”2. Từ “xuân xanh” mang ý nghĩa biểu cảm: trẻ trung, khoẻ khoắn, mạnh mẽ, đầy tương lai… rõ và sâu sắc hơn nhiều các từ trung tính “tuổi” hay “năm”. Trước đó, trong một bài viết, Bác giải thích: “Sau mùa đông lạnh lẽo, muôn vật tiêu điều. Và tạo hoá lại cho mùa Xuân mang đến cho thế gian những vẻ tốt tươi ấm áp, muôn hoa tươi thắm, ngàn lá đua xanh. Loài động vật cũng nhờ xuân mà khôi phục lại sinh khí. Vậy nên gọi là xuân sinh.
Loài người lợi dụng cái luật tự nhiên của tạo hoá, chẳng những hưởng thụ cái hạnh phúc khoái lạc của mùa xuân, và lại nhận cái không khí phồn vinh của ngày xuân để sắp đặt cái kế hoạch hoạt động và sống còn cho cả năm, nên tục ngữ có câu “Nhất niên chi kế thuỷ ư xuân””3. Ở đây Bác giải thích biểu tượng mùa xuân có các nghĩa là “cái hạnh phúc khoái lạc” và “cái không khí phồn vinh”. Cho nên một năm kế hoạch đặt ra từ mùa xuân, cũng là một cách nhắc nhở mọi người làm bất cứ việc gì phải có kế hoạch từ sớm và phải có niềm tin vào kế hoạch ấy.
Bác Hồ có cách nói vòng khá đặc biệt với đặc điểm luôn tựa vào một điểm lập luận vững chắc là những bằng chứng mang tính hiển nhiên, là một quy luật khoa học tự nhiên hoặc một quy luật xã hội mà ai cũng biết, cũng hiểu. Trong thơ, Bác cũng có cách diễn đạt kiểu này: “Sự vật đã xoay đà định sẵn/ Hết mưa là nắng hửng lên thôi/ Sống ở trên đời người cũng vậy/ Hết khổ là vui vốn lẽ đời”. Trong văn xuôi của Bác, cách nói vòng này xuất hiện nhiều hơn:
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thiếu một mùa thì không thành trời.
Thiếu một phương thì không thành đất.
Thiếu một đức thì không thành người”4.
Lấy điểm tựa là quy luật trời đất để nói tới quy luật của con người phải đầy đủ cả bốn đức cần, kiệm, liêm, chính. Nếu bỏ qua quy luật trời đất mà nói ngay tới con người thì sức thuyết phục giảm hẳn. Văn Bác ngắn gọn nhưng sâu sắc. Nhiều trường hợp hình thức câu văn tham gia vào việc tạo biểu cảm cho nội dung: “Trong ngày trời xuân tươi ấm, Tết nhất vui vẻ, đại gia đình Việt Nam ở vùng tự do sum họp vui vầy, để tưởng nhớ đến tổ tiên và hân hoan cùng con cháu, tôi ngậm ngùi nghĩ đến đồng bào…”5. Đây là đoạn mở đầu trong Thư chúc Tết đồng bào trong vùng tạm bị địch chiếm (Báo Cứu quốc số 6, ngày 02.02.1949). Mấy dòng đầu là không khí ngày Tết nơi tự do nhưng có hai chữ “ngậm ngùi” làm cho mạch văn như bị chững lại, hướng người đọc liên tưởng đến một không gian tương phản, nơi đó đồng bào đang bị giặc Pháp đè nén, áp bức, đày đọa.
Thơ Bác cũng thường có những tương phản không gian để làm bật ra một quy luật, trong Nhật ký trong tù: “Một hữu đông tàn tiều tuỵ cảnh/ Tương vô xuân noãn đích huy hoàng” (Ví không có cảnh đông tàn/ Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân). Sau này, Bác coi mùa xuân là biểu tượng cho niềm tin, cho chiến thắng nên “Xuân này kháng chiến đã năm xuân/ Nhiều xuân thắng lợi càng gần thành công” (Thơ chúc Tết 1951). Thì ra “nhiều xuân” không phải là số lượng thời gian năm tháng mà là ở ý nghĩa, chất lượng, nhiều hơn là niềm tin, hi vọng. Đây cũng là quy luật: một con người, một dân tộc giàu có niềm tin sẽ sớm tiến tới thắng lợi, thành công!
2. Mùa xuân - niềm tin, hi vọng, tương lai
Ngày 16.7.1947, gửi thư cho đồng bào vùng địch tạm chiếm, Người nêu ra quy luật của cuộc sống, của tự nhiên để động viên đồng bào: “Trải qua bước cực khổ, thì chúng ta nhất định thành công, cũng như qua khỏi mùa đông, thì chắc chắn mùa xuân sẽ đến”6.
Là tín hiệu thẩm mĩ chiếm một vị trí đặc biệt trong thơ Người, mùa xuân là niềm vui, niềm tin, lạc quan: “Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn/ Một năm là cả bốn mùa xuân”; là cuộc sống đang đà sinh sôi phát triển, là hi vọng và tương lai: “Mùa xuân là Tết trồng cây/ Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”… Ngày xuân nhưng bộ đội ta vẫn phải ngoài mặt trận đuổi giặc thù, Bác gửi áo cho chiến sĩ cũng là gửi niềm tin yêu, hi vọng: “Khoái tống hàn sam cấp chiến sĩ/ Dương quang hồ noãn báo tân xuân” (Mau gửi áo rét cho chiến sĩ/ Ánh nắng ấm áp báo tin xuân sắp về - Tư chiến sĩ). Xuân 1967, Bác làm thơ chúc Tết: “Xuân về xin có một bài ca/ Gửi chúc đồng bào cả nước ta/ Chống Mĩ hai miền đều đánh giỏi/ Tin mừng thắng trận nở như hoa”. Bài thơ cũng là bài ca hân hoan, tin tưởng vào chiến thắng. Xuân 1968, trong thơ chúc của Người còn vui hơn, chắc chắn một niềm tin hơn bao giờ hết vào thắng lợi: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/ Thắng trận tin vui khắp nước nhà/ Nam Bắc thi đua đánh giặc Mĩ/ Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”.
Trong Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Bác trích hai câu thơ của hai nhà thơ cộng sản Pháp và Nga để động viên, khích lệ thanh niên phấn đấu vươn lên xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Nhà thơ Pháp, đồng chí Vayăng Cutuyariê viết: “Chủ nghĩa cộng sản là mùa xuân của loài người”. Nhà thơ Xô viết, đồng chí Maiacốpxki viết: “Chủ nghĩa cộng sản là tuổi trẻ của thế giới do những người trẻ tuổi xây dựng nên””7. Có lẽ từ hai câu nói này, Bác đã khái quát thành một quy luật biện chứng của tự nhiên vừa là niềm tin vào thế hệ trẻ: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”8.
Có những câu văn của Bác đầy chất thơ nhờ hình tượng xuân mang hương vị của thiên nhiên vũ trụ, của tình người hữu nghị anh em nồng ấm: “Đồng chí Titốp chúc Tết chúng ta không những đưa cái xuân của quả đất đến cho chúng ta mà còn đưa mùa xuân từ hơn 70 vạn cây số đến với chúng ta”9. Lại có câu thơ mà như lời nhắc nhở vui xuân trong sự vui vẻ, đừng nên xa hoa: “Mừng xuân, xuân cả thế gian/ Phải đâu lãng phí cỗ bàn mới xuân”10. Có lời nhận xét mang tinh thần của lời chúc mùa xuân vĩnh cửu, không còn là thời gian vật lý đơn thuần mà là niềm vui, hi vọng: “Tết bây giờ khác trước rồi. Mùa xuân của chúng ta không phải là ba tháng mà dài hơn. Gia đình, họ hàng của ta cũng đông hơn trước rất nhiều vì gia đình ta là gia đình cộng sản chủ nghĩa”11. “Các nước anh em… đều tiến bộ rực rỡ như hoa nở mùa xuân. Phe đế quốc, nhất là tên trùm đế quốc Mĩ thì chẳng xuân chút nào”12. Mùa xuân là sức trẻ, tuổi trẻ. Khi sáu mươi tuổi, Bác làm thơ: “Sáu mươi tuổi còn xuân chán/ So với ông Bành vẫn thiếu niên/ Ăn khoẻ, ngủ ngon, làm việc khoẻ/ Trần mà như thế kém gì tiên” (Sáu mươi tuổi). Đặt vào quan niệm phương Đông về tuổi tác “chưa năm mươi đã kêu già” mới thấy cái nhận xét “sáu mươi tuổi còn xuân chán” này vừa hóm hỉnh, ngộ nghĩnh, lạc quan vừa là sự khẳng định tuổi tác không quy định sức sống, sức trẻ. Cái tạo nên chất trẻ, sức trẻ là ở chính mỗi người: “Ăn khoẻ, ngủ ngon, làm việc khoẻ”. Câu thơ ngắt ra ba mệnh đề, ba yếu tố như ba nguyên nhân tạo thành kết quả “xuân”.
Mùa xuân trong quan niệm của Bác là sự nảy nở, phát triển những gì tinh hoa, tốt đẹp của cuộc đời: “Là người theo dõi tổ chức thanh niên từ bước đầu hiếm hoi chỉ có tám cháu, ngày nay trông thấy có hàng triệu đoàn viên thanh niên, hàng triệu cháu bé nhi đồng, phát triển mơn mởn như hoa nở mùa xuân”13; “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”14.
3. Hoa – sứ giả của tình thân mật, của hoà bình, hữu nghị
Hầu hết các vị khách nước ngoài là văn nghệ sĩ được gặp và nói chuyện với Bác Hồ khi miêu tả lại nơi sinh hoạt của Người đều nhắc đến chi tiết bàn làm việc luôn có hoa tươi. Nhà văn Bungari Blaga Đimitrôva kể: “Bắt gặp tôi đang chăm chú nhìn lọ hoa hồng – ở đây hoa hồng được coi là sự chúc mừng đối với Tổ quốc tôi – Người nói bằng lời nói dễ hiểu rằng trong mọi hoàn cảnh, Người vẫn có lọ hoa hồng đặt lên bàn làm việc. Chỉ có sự hà khắc trong nhà tù mới tước mất thói quen đó của Người. Lúc này tôi mới nhận thấy hết ý nghĩa những bông hoa hồng nảy nhuỵ, toả hương trên chiếc cầu nối liền hai nước xa xôi chúng ta như thế nào”15. Điều đặc biệt trở thành thông lệ là Bác luôn tặng hoa cho mỗi vị khách, theo lời của Mađơlen Ripphô: “Cứ sau mỗi cuộc gặp gỡ trong chốc lát… Người lại tặng khách một bông hoa hồng trước khi Người trở về với công việc hàng ngày. Cho nên chỉ cần nhìn thấy một đại biểu nào đó của nước bạn, trong khi trở về khách sạn ở gần Hồ Gươm – dành riêng cho khách nước ngoài – mà tay cầm một trong những đóa hoa hồng đó, là tôi có thể đoán biết rằng Hồ Chủ tịch đang có mặt ở Hà Nội”16.
Là nhà ngoại giao của hoà bình, văn hoá ngoại giao Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống hoà hiếu có từ lịch sử giữ nước của cha ông kết hợp với tinh thần của thời đại mới: vì một nền hoà bình hữu nghị của tất cả các nước. Khi kẻ thù không từ bỏ dã tâm xâm lược, Người cùng cả dân tộc miễn cưỡng phải cầm vũ khí. Người muốn những bông hoa hồng làm sứ giả gắn nối và gắn kết những trái tim yêu hòa bình, dù có thể chính kiến khác nhau. Năm 1946, ở Paris có nhà báo hỏi Bác: “- Thưa Chủ tịch, Ngài có phải cộng sản không?”. Bác liền đi đến lẵng hoa bày trên bàn, vừa rút ra từng bông hồng tặng mỗi người, vừa vui vẻ nói: “- Tôi là người cộng sản như thế này này! (Je suis communist comme ca!)”17. Một hành động ý nhị, vừa thể hiện sự quan tâm quý mến với người đối thoại vừa mang tính ngụ ngôn: hoa hồng luôn tượng trưng cho cái đẹp, cho tình yêu, hạnh phúc… Người cộng sản cũng giống như hoa hồng vậy. Vừa không phải nói ra, mà nói ra có thể người ta cũng không tin, vừa thu hút được sự chú ý của công luận, dư luận.
Ngày 11.11.1965, tiếp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Italia, Người nói: “Chúng tôi sẵn sàng trải thảm đỏ và rắc hoa cho Mĩ rút. Nhưng nếu Mĩ không rút thì phải đánh đuổi Mĩ đi… Nhưng với Giônxơn và Macnamara thì hoặc là trải thảm đỏ hoặc là đá đít ra khỏi cửa”18. Ngày 5.7.1966, tiếp phái viên của Tổng thống Pháp G. Xanhtơny, Người nói: “Chỉ có một cách đi tới một giải pháp đó là Mĩ cút đi. Chúng tôi không muốn làm cái gì xấu đối với họ, chúng tôi sẵn sàng đem nhạc và hoa tiễn họ và mọi thứ khác mà họ thích; nhưng ông biết đấy, tôi thích tiếng lóng của nước ông: “Qu’ils foutent camp” (Thì họ hãy cút đi)”19. Với người phương Tây, hoa là biểu trưng cho hòa bình, cho sự sang trọng, tôn kính nên thường có hành động trải thảm đỏ và “rắc hoa” để đón và tiễn khách quý. Bác sẵn sàng làm như vậy nếu “Mĩ cút” tức Mĩ còn yêu hòa bình và tôn trọng quyền độc lập của người Việt Nam. Còn không, thì ngược lại. Điều này cho thấy ở Người một tình yêu hòa bình tha thiết, sâu sắc, sự trân trọng con người thật lớn lao và một bản lĩnh thật khí phách, cứng cỏi!
4. Hoa – tình yêu cuộc sống
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nhận xét nhà sàn của Bác chỉ vài ba phòng nhưng tâm hồn Bác lộng gió thời đại. Nhà sàn của Bác cũng luôn lộng gió và ánh sáng, phảng phất hương thơm của hoa vườn. Một cuộc đời, một tâm hồn thật thanh bạch và tao nhã biết bao! Mađơlen Ripphô, nữ nhà văn, nhà hoạt động xã hội Pháp nhớ lại: “Thời kỳ đó, Bác Hồ thường tiếp khách vào buổi sáng tinh sương trong những ngôi nhà nhỏ ở khu vườn Phủ Chủ tịch. Những cây hoa hồng trồng làm cảnh, được chăm sóc cẩn thận, nói lên rằng bất chấp bom đạn, Việt Nam vẫn thách thức (với kẻ thù) và tin chắc vào thắng lợi của mình”20.
Bác thích hoa và tự tay Bác trồng, chăm bón cho hoa. Với tình yêu hoa thật sự cùng với trí nhớ siêu việt nên chẳng ai ngạc nhiên khi có người lại hái hoa từ chính vườn của Bác để tặng Bác. Có mấy cán bộ “quan liêu” đến tặng hoa Bác nhân một dịp sinh nhật: “Bác lại nhìn bó hoa, Người hỏi tiếp luôn câu nữa: - Hoa của Bác, sao các chú lại lấy tặng Bác? Bị câu hỏi đột ngột, chúng tôi mất hết thế chủ động. Đồng chí đại biểu cố gắng chữa thẹn: - Dạ, hoa…
- Cháu này vụng chèo, lại khéo chống! Hoa của Bác là hoa đoàn kết nên nhiều màu sắc, bông đỏ, bông hồng, trông thấy là Bác nhận ra ngay…”21. Thế là “lật tẩy” cái chuyện, thấy hoa trong vườn Bác đẹp nên “ngắt trộm” tặng Bác!
Nhà văn Sơn Tùng kể, hoa có ở xung quanh nhà Bác, có ở cả các đường xà ngoài vườn, “Những nhành hoa của loài hoa leo đã đan khắp các đường xà thành giàn hoa hình bán nguyệt”22. Nhưng sở thích cá nhân của Người cũng luôn điều chỉnh để phù hợp với cái chung, lợi ích chung. Tác giả Trần Lê Xuân kể, về thăm quê, Bác dặn: dọc đường nên trồng phượng, vì phượng có bóng mát, hoa đẹp, không nên trồng nhãn, vì trồng nhãn, các cháu trèo hái có thể ngã què”. Bác còn tặng một gói hạt giống phượng để xã gieo trồng. Nhưng trong vườn nhà ở Kim Liên, Bác dặn chỉ nên trồng hoa khoai hoa đậu23. Như vậy, quan niệm về cái đẹp của Bác luôn hài hoà với vẻ đẹp chung. Ví như ở vườn nhà Bác cũng nên chỉ trồng “hoa khoai hoa đậu” vì vừa hợp với cảnh quê, bình dị, dân giã và lại khuyến khích tăng gia sản xuất.
Bác thường tặng hoa cho các văn nghệ sĩ, coi đó là một món quà nhiều ý nghĩa. Nghệ sĩ ngâm thơ Trần Thị Tuyết bồi hồi nhớ lại: “Bác đứng lên cầm những bông hồng bạch để ở đĩa trang trí trên bàn, tặng chúng tôi mỗi người một bông. Chúng tôi sung sướng quá! Đồng chí thư ký của Bác còn cho chúng tôi biết đấy là hoa trong vườn Bác, do tay Bác trồng và ngày ngày Bác tưới”24. Yêu quý, trân trọng, Bác tự tay mình “trang điểm” cho các nữ nghệ sĩ đẹp hơn. Nghệ sĩ ưu tú Tú Lệ kể: “Hôm đó là một chiều mùa xuân nắng ấm, hoa quanh nhà Bác đang nở rộ đủ sắc màu, mùi hoa tỏa ra thơm thoang thoảng, làm cho chúng tôi có cảm giác như lạc vào cõi thần tiên. Bỗng chợt thấy Bác xuất hiện... Chúng tôi chạy lại ôm lấy Bác. Bác bảo anh Vũ Kỳ chọn hai bông hoa trắng đưa cho Bác cắm lên mái tóc chúng tôi...”25.
Ngày 27.8, Bác đau, Bác muốn nghe một khúc dân ca, chị Ngô Thị Oanh y tá hát bài Chiến sĩ quân y làm theo lời Bác và bài hát dân ca quan họ Người ơi người ở đừng về. Chị hát xong, Bác bảo thư ký tặng chị một bông hoa hồng26. Sắp về với các cụ Karl Marx, Lenin, về với tổ tiên, Bác vẫn không nghĩ về riêng mình, Bác lo nước sông Hồng dâng lên, Bác nhắc các đồng chí lãnh đạo bắn pháo hoa ngày Độc lập cho đồng bào vui!
5. Hoa – biểu tượng cho tấm lòng yêu thương, kính trọng
Tình yêu con người sâu nặng là cơ sở cho những quan niệm thực sự nhân văn, sâu đậm tình người. Một lần Bác thân ái phê bình nhà thơ Việt Phương: “Không có trận đánh đẫm máu nào “đẹp” cả, cho dầu thắng lớn”. Điều này hoàn toàn thống nhất với quan niệm của Bác: đã là người thì “máu nào cũng đều quý như nhau”. Nhiều người gọi Bác là “Thánh nhân”, “bậc Thánh” một phần là vì lẽ đó!
Con người nghệ sĩ Hồ Chí Minh thật tinh tế. Ngày 25.6.1946, Bác mời các phóng viên dự tiệc trà tại Khách sạn Roay Môngxơ. Người cầm những bông hoa trên bàn tiệc tặng mỗi nữ phóng viên một bông, còn lại một bông, Người tặng cho nam phóng viên nhiều tuổi nhất27. Ông Ô-brắc kể lại trong thiên hồi ký của mình: “Khi dạo chơi, Chủ tịch thường tiếp xúc với một ông lão làm vườn, chuyên trồng hoa trong làng. Theo ông lão, Chủ tịch rất thích hoa thược dược đỏ và vàng, vì, như Người nói, đó là “màu cờ của nước tôi”... Từ đó, hàng ngày, trong phòng tiếp khách của Chủ tịch luôn có những bông hoa thược dược vàng và đỏ...”28. Một chi tiết nhỏ nhưng cho thấy một quan niệm mĩ học lớn: tình yêu thiên nhiên, yêu nghệ thuật và tình yêu Tổ quốc hòa vào làm một, không tách rời. Nhà thơ Chế Lan Viên diễn đạt khía cạnh này bằng thơ: “Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc/ Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa”. Con người nghệ sĩ Hồ Chí Minh thật nặng ân tình. Ngày 19.5.1947, các đồng chí phục vụ tặng bó hoa rừng nhân sinh nhật Bác, Người cảm động, nói dành bó hoa này đi viếng mộ đồng chí Lộc, cùng cơ quan, vừa mất vì bệnh sốt rét29. Người muốn dành cái đẹp ấy, tấm lòng ấy cho người đồng chí đã đi xa.
Theo nhiều người gần gũi với Bác thì Bác thích nhất hoa hồng và hoa huệ. Bà Rô-da Lô-dơ-bai (vợ Luật sư Lô-dơ-bai đã cứu Bác hồi ở Hồng Kông) kể: “Chúng tôi lưu ý thấy Người rất thích hoa huệ. Nhưng khi tặng hoa cho ai thì Người thường tặng hoa hồng… Hôm chúng tôi tiễn Người đi khỏi Hồng Kông bằng con đường đặc biệt, hiểu ý Người, vợ chồng chúng tôi đã sắm bó hoa huệ để tiễn đưa Người và Người cũng tặng lại chúng tôi một bó hoa hồng”30. Nhà văn Sơn Tùng, trong Búp sen xanh, ngầm một sự giải thích trước khi xuống tàu tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành có yêu một cô gái tên Huệ, về sau do chiến tranh, do xa cách, do công việc mà hai người không lấy được nhau nhưng Bác vẫn giữ trong tim mình hình ảnh người yêu duy nhất. Lại có người nói do mẹ Bác an táng trên núi Đại Huệ… Tất cả những giải thích này đều chưa có căn cứ cụ thể. Chỉ biết, với tâm hồn nghệ sĩ, Bác rất yêu hoa. Hoa hồng biểu tượng cho tình yêu, cho hoà bình. Hoa huệ thơm tượng trưng cho những điều cao cả, trong trắng, thánh thiện!
Từ biểu tượng mùa xuân và hoa, cho phép có một nhận định: trong cuộc sống và hoạt động cách mạng đầy huyền thoại của Bác Hồ đã hình thành những nguyên tắc độc đáo, đặc sắc: cuộc sống hóa nghệ thuật (đưa cuộc sống vào nghệ thuật) và nghệ thuật hóa cuộc sống (đưa nghệ thuật vào cuộc sống). Hai nguyên tắc này luôn song hành, tương ứng trong mối quan hệ biện chứng thống nhất tuyệt đẹp đã góp phần tạo nên một tâm hồn nghệ sĩ Hồ Chí Minh vừa khác lạ vừa thân quen; vừa bình thường vừa phi thường; vừa phương Đông lại rất phương Tây; truyền thống, cổ điển mà hiện đại, mới mẻ… Xin kết lại bài viết bằng câu nói của Bác là bài học giáo dục cho hôm nay: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”31. “Hoa mùa xuân” không chỉ nở rộ mà còn đẹp và thơm. Ba chữ ấy nói thật hay về số lượng và chất lượng “phần tốt” ở mỗi con người. Với một tấm lòng nhân ái, độ lượng, cao thượng và tinh tế, Bác là một nhà giáo dục vĩ đại.
Chú thích:
1 Cao Bá Sánh (2004), Cận vệ Bác Hồ, NXB. Công an nhân dân, tr. 210.
2, 10, 11, 12 Hồ Chí Minh toàn tập (2011), tập 12, NXB. Chính trị quốc gia, tr. 399, 441, 75, 455.
3 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Sđd, tr. 472.
4, 5 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Sđd, tr. 117, 27.
6, 29 Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử (2006), tập 4, NXB. Chính trị quốc gia, tr. 100, 83.
7, 9 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 13, Sđd, tr. 89, 325.
8 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Sđd, tr. 194.
13, 14, 31 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 15, Sđd, tr. 78, 672, 672.
15 Nguyễn Thị Kiều Anh - Nguyễn Thị Tuyết Minh (2008), Hồ Chí Minh, một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, NXB. Công an nhân dân, tr. 647.
16, 20 Phạm Hoàng Điệp (2010), Chủ tịch Hồ Chí Minh với nước Pháp, NXB. Chính trị quốc gia, tr. 213, 213.
17 Nhiều tác giả (1993), Bác Hồ - con người và phong cách, NXB. Lao động, tr. 1.
18, 19 Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 9, Sđd, tr. 311, 424.
21 Nguyễn Ngọc Châu (2007), Đưa Bác về Pắc Bó, NXB. Lao động xã hội, tr. 150.
22 Nhiều tác giả (2010), Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ, văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh, tập 4, NXB. Hội Nhà văn, tr. 84.
23 Nhiều tác giả (1990), Bác Hồ với quê hương Nghệ Tĩnh, NXB. Nghệ Tĩnh, tr. 372, 375.
24 Lữ Huy Nguyên (1995), Bác Hồ với văn nghệ sĩ, NXB. Văn học, tr. 328.
25 Nhiều tác giả (1990), Bác Hồ với nghệ thuật sân khấu, Viện Sân khấu, tr. 113.
26 Nguyễn Văn Dương (2012), Chuyện kể Bác Hồ với phụ nữ, NXB. Thời đại, tr. 250-251.
27 Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, tập 3, Sđd, tr. 258.
28 Trần Đương (1999), Ánh mắt Bác Hồ, NXB. Thanh niên, tr. 18.
30 Sơn Tùng (2007), Hoa râm bụt, NXB. Thông tấn, tr. 259.