HÀNH TRÌNH BỐN MƯƠI NĂM PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM

Bài viết tập trung luận bàn về vai trò và đặc điểm của phê bình văn học trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt từ thời kỳ Đổi mới. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết làm rõ mối quan hệ giữa phê bình với ý thức hệ, khoa học xã hội, thi pháp học và đời sống văn học đương đại, qua đó khẳng định vị trí không thể thay thế của phê bình chuyên nghiệp trong việc định hướng và thúc đẩy sự phát triển của văn học.

   Có nhiều cách mô tả bức tranh phê bình văn học bốn mươi năm qua (1985-2025), chẳng hạn mô tả theo thế hệ các nhà phê bình, các cuộc tranh luận văn học, các thể loại phê bình. Bài viết này của tôi xem xét một giai đoạn phê bình theo lối cấu trúc - lịch sử, nghĩa là tiếp cận nó như một văn bản trong hoạt động, vận động. Ở mỗi giai đoạn, một lối phê bình nổi bật hơn, là “chủ âm” bên cạnh những lối phê bình khác.

   Ở ta, lý luận văn học kém phát triển, rất ít khi lý luận văn học tồn tại ở dạng thuần túy, đề xướng lý thuyết, nên cách hiểu các phạm trù lý luận và phê bình hay lẫn lộn với nhau. Phê bình văn học nằm giữa sáng tác nghệ thuật và khoa học (“Con vật lưỡng thê” - Đỗ Lai Thúy), ở tác giả này nó có thể nhiều tính nghệ thuật (Hoài Thanh), ở tác giả khác nó thiên về khoa học (Nguyễn Bách Khoa). Đối tượng chính của phê bình văn học là tác phẩm văn chương (R. Barthes), tuy nhiên cũng có khi phê bình lấy đối tượng là những nhà phê bình, lối phê bình khác. Nói chung, phê bình nhằm diễn giải, đánh giá tác phẩm và những hiện tượng văn học từ góc nhìn của các vấn đề xã hội, văn hóa, thẩm mĩ của công chúng đương đại vì thế nó đều mang tính đối thoại, tính báo chí. Nó dựa trên các lý thuyết triết học, mĩ học, các trải nghiệm lịch sử văn học của cá nhân nhà phê bình và cộng đồng.

   1. Giai đoạn “Đổi mới”: Phê bình ý thức hệ

   Phê bình ý thức hệ là giải thích, đánh giá các quan điểm (hệ thống quan điểm) triết học, chính trị, xã hội, đạo đức, nghệ thuật của nhà văn được biểu hiện qua tác phẩm văn học. Đó cơ bản là phê bình chủ thể sáng tác, tức tư tưởng nhà văn được thể hiện trong tác phẩm. Xin nêu một dẫn chứng. Vào cuối năm 1985 đầu năm 1986, Hội Nhà văn Việt Nam lần đầu tiên đã trao tặng giải thưởng cho các tác phẩm lý luận, phê bình và khảo cứu văn học. Trước đây, loại tặng thưởng như vậy chỉ được tổ chức này trao cho sáng tác: thơ, tiểu thuyết, ký. Có bốn cuốn sách được nhận giải thưởng, một kỷ lục về số lượng: Văn học Việt Nam trên những chặng đường chống phong kiến xâm lược (công trình tập thể); Nhà văn hiện đại của hai tác giả Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức; Nhà văn tư tưởng và phong cách của Nguyễn Đăng Mạnh và Gương mặt còn lại: Nguyễn Thi của Nhị Ca. Các cuốn sách đều nghiêng về phê bình chủ thể, nhất là về tư tưởng và các trải nghiệm xã hội của nhà văn.

   Nổi bật trong đời sống phê bình là những cuộc tranh luận xung quanh sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Khởi đầu với những cuộc tranh luận về truyện ngắn Tướng về hưu và những truyện cùng loại của nhà văn, kết thúc với những tranh luận về các truyện lịch sử. Các nhà phê bình chia ra hai nhóm với hai luồng ý kiến trái chiều. Nhóm thứ nhất phê các truyện của Nguyễn Huy Thiệp mô tả “hiện thực trần trụi”, “bắn súng lục vào quá khứ”, “lật đổ thần tượng”… Nói chung, người ta cho rằng các quan điểm tư tưởng của nhà văn hết sức sai trái. Chẳng hạn một nhà phê bình viết: “Ngòi bút anh Thiệp đúng là của hiếm. Của hiếm của một tài năng cũng là của hiếm của một bệnh lý, sự vội vã định hình, sự bộc lộ sâu sắc cái tâm lý chủ đạo là chối bỏ và phản kháng, lật đổ và hạ bệ mọi thần tượng” (Mai Ngữ). Nhóm thứ hai nhiệt tình ủng hộ Nguyễn Huy Thiệp cả về tư tưởng lẫn bút pháp. Nổi tiếng là ý kiến của Hoàng Ngọc Hiến về “thiên tính nữ” trong truyện Nguyễn Huy Thiệp. Thiên tính nữ, theo nhà phê bình, đồng nghĩa với tình thương, chủ nghĩa nhân văn. Đây là cuộc tranh luận phê bình văn học lớn nhất thời Đổi mới. Tinh thần chung của phê bình là “phản tư” và “khẳng định cái mới”. Thuật ngữ “phản tư” ở đây để chỉ sự tự phản tỉnh, tự phê phán. Những người phê phán cũng chính là những người đã tạo nên, thừa nhận chính những giá trị mà giờ đây họ thấy cần phải đánh giá lại. Các mục tiêu chính của phê bình lúc này là chỉ ra cơ chế quản lý văn nghệ lỗi thời và cổ vũ các hiện tượng văn học mới. Các bài nổi tiếng được giới văn học bàn luận nhiều như Cái thời lãng mạn của Nguyễn Khải, Hãy đọc lời ai điếu cho một nền văn học minh họa của Nguyễn Minh Châu. Các nhà lý luận văn học cũng tham gia vào hoạt động phê bình. Các bài viết của Lê Ngọc Trà về mối quan hệ văn học và chính trị, tư tưởng nghệ thuật của nhà văn, cái chủ quan trong nội dung tác phẩm/ “lịch sử văn học là lịch sử của tâm hồn nhân loại”. Các vấn đề đặt ra đều thuộc bình diện hệ tư tưởng của văn chương, thế giới quan của nhà văn.

   Ở thời kỳ Đổi mới, phê bình báo chí nổi lên như một hình thức phê bình có ảnh hưởng tương đối rộng rãi. Văn học thời Đổi mới nằm ở khu vực nhạy cảm nhất của ý thức xã hội, không chỉ thu hút sự quan tâm của người làm văn nghệ mà còn được toàn bộ giới trí thức chú ý và bàn luận. Các tờ báo đóng vai trò quan trọng trong hoạt động phê bình, trung tâm là Báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam. Các báo, tạp chí văn nghệ cũng tham gia tích cực như Tạp chí Văn nghệ quân đội, Tạp chí Cửa Việt. Ngay cả các báo chính trị, xã hội hàng ngày cũng có những bài phê bình văn học đáng chú ý như Nhân Dân, Thanh Niên, Tuổi Trẻ. Tập trung nhất là ở Báo Văn nghệ. Trên các tuần san, nguyệt san công bố nhiều ý kiến trao đổi lại của bạn đọc trong nước và đôi khi có cả bạn đọc nước ngoài. “Ý kiến bạn đọc” trở thành một công cụ phê bình”, thành sự biểu đạt quan điểm của tòa báo. Nó có ý nghĩa gần như mạng xã hội ngày nay.

   Phê bình tư tưởng hệ là một phương tiện quan trọng góp phần vào sự đổi mới văn nghệ như kích thích sáng tác mới, thay đổi cách quản lý nhà nước với văn nghệ (“Quản lý rộng”).

   Sang đầu thập kỷ 90, tình hình chính trị, xã hội có thay đổi, sự hưng phấn phê phán các phương diện tư tưởng hệ có phần giảm nhiệt, thể loại phê bình văn kiện, phê bình báo chí giảm vai trò. Những biến chuyển ấy đã tạo nên một khúc quanh trong đời sống văn nghệ.

   2. Trên ranh giới giữa hai thế kỷ XX-XXI:

   Phê bình học thuật Phê bình học thuật khá gần với nghiên cứu văn học, đôi khi được coi là khoa học. Tuy nhiên không thể loại bỏ tính chủ quan của cảm thụ, trình bày, đánh giá của nhà phê bình. Phê bình học thuật thường vận dụng các công cụ của các bộ môn khoa học xã hội như triết học, tâm lý học, ngôn ngữ học, xã hội học để diễn giải, đánh giá các hiện tượng văn học. Loại hình phê bình này gắn bó mật thiết với đời sống học thuật và khu vực đại học. Ở thời kỳ này các trường đại học, viện nghiên cứu được mở ra nhiều, kéo theo sự ra mắt của các tạp chí chuyên ngành ngữ văn, văn hóa nghệ thuật, những luận án nghiên cứu sinh được in sách. Có thể gọi một cách tượng trưng là xu hướng “phê bình tạp chí”. Người đọc đa phần là những nhà hoạt động chuyên môn ngữ văn.

   Sau giai đoạn “phản tư”, phê bình văn học bước sang một giai đoạn khác, khoảng từ giữa thập kỷ 90 và mười năm sau mốc Thiên niên kỷ. Phê bình đi vào chiều sâu với những vấn đề chuyên môn hơn như về phương pháp phân tích các văn bản nghệ thuật cụ thể. Nhiều trường phái học thuật được giới thiệu và vận dụng tiếp cận thực tế văn học Việt Nam. Có thể kể đến những xu hướng chính:

   - Xu hướng thi pháp học: Từ thập kỷ 80 đã có một số công trình lý luận, phê bình của ta đi theo hướng thi pháp học như của Phan Ngọc, Trần Đình Sử. Sang thập kỷ 90 thành một phong trào trong khu vực học viện và các trường đại học. Những cách tiếp cận thi pháp học ở ta khá đa dạng, chúng có một điểm chung là quan niệm “hình thức mang tính nội dung” (Trần Đình Sử).

   - Xu hướng ngôn ngữ học: bao gồm nhiều trường phái như cấu trúc luận, ký hiệu học, tự sự học. Điểm chung của chúng ở chỗ đều có xuất phát điểm là vận dụng các mô hình ngôn ngữ học (từ F. de Saussure đến L. Hjelmslev...) để phê bình văn học.

   - Xu hướng phê bình sự đọc: Từ thập kỷ 80 đã có một số bài báo giới thiệu lý thuyết tiếp nhận, tuy nhiên phê bình sự đọc còn ít được thực hành trên văn học Việt Nam.

   - Xu hướng tâm lý học: Việc giới thiệu các lý thuyết tâm lý học của Vygotski, S. Freud, K.G. Jung khá nhiều và thu hút được sự chú ý. Phê bình phân tâm học của G. Bachelard cũng được giới thiệu. Người có những thành công nhất định trong việc vận dụng tâm lý học vào phê bình văn học Việt Nam là Đỗ Lai Thúy.

   - Các lý thuyết hiện đại, hậu hiện đại cũng bắt đầu du nhập vào Việt Nam, tuy nhiên vẫn thiên về giới thiệu lý thuyết.

   3. Phê bình văn học hiện nay: Phê bình văn hóa

   Gọi là “phê bình văn hóa” bởi tôi muốn xác định nó ở hai đặc điểm: 1/ tính “đại chúng” của hoạt động phê bình, tức như một hoạt động văn hóa; 2/ nội dung văn hóa trong phê bình, tức nhà phê bình nhìn tác phẩm văn chương rộng hơn bản thân nó, với các vấn đề như giới tính, sinh thái, dân tộc, mã văn hóa, giá trị văn hóa, vùng văn hóa. Đối tượng của phê bình văn hóa như vậy là văn cảnh.

   Khoảng 15 năm trở lại đây, tình hình văn học và phê bình văn học có thay đổi khá căn bản. Sự thống nhất suy giảm, sự phân nhóm tăng lên, cá tính phê bình, tính chuyên nghiệp bị lu mờ. Những giải thưởng của các hội đoàn nhà nước không còn ảnh hưởng nhiều đến đời sống văn học, ít được xã hội chú ý. Lực lượng phê bình có tính phân nhóm cao. Các phương pháp và nguyên tắc phê bình trước đây từng được coi là tiêu chuẩn, giờ tỏ ra hoàn toàn bất lực trước thực tiễn văn học mới, mang tính thử nghiệm đầy màu sắc. Thẩm mĩ hậu hiện đại, dần chiếm lĩnh không gian văn học rộng lớn, đã tước đi ở các nhà phê bình tiêu chí đánh giá thông thường, phương pháp và thậm chí cả thuật ngữ thông thường, quen thuộc, đặc biệt các phạm trù thể loại. Phương tiện truyền thông đại chúng chuyển sự quan tâm của độc giả từ bản thân tác phẩm văn chương sang lĩnh vực sự kiện và tin tức thời sự văn học, hoạt động ra mắt sách, cả những tin đồn, câu chuyện giật gân về cuộc đời nhà văn. Người ta thích nói đến những hoạt động ra mắt sách một cách hoành tráng hơn là đọc bản thân những cuốn sách đó. Hoạt động xuất bản tư nhân phát triển kéo theo yêu cầu quảng cáo, từ đó phê bình giới thiệu sách, ca tụng tác giả sách ngày càng phổ biến.

   Một điểm mới rất quan trọng là vai trò của internet trong hoạt động phê bình. Các tài liệu đăng trên internet tản mác, tự do, phi thể loại, không được tổ chức như một tiểu luận phê bình, không được nhóm lại theo một nguyên tắc thống nhất nào như trường hợp của tạp chí văn chương và học thuật. Các báo, tạp chí, sách phát hành in số lượng rất nhỏ. Lấy ngẫu nhiên một ví dụ để so sánh cho thấy sự suy giảm: thời Đổi mới, cuốn Về tư tưởng và văn học phương Tây hiện đại của Nguyễn Văn Sỹ, in lần thứ nhất, 1985, với 6000 bản; đến cuối những năm 90, cuốn Con mắt thơ của Đỗ Lai Thúy (in năm 1998) với 2000 bản. Hiện nay sách phê bình chỉ in vài ba trăm cuốn. Phê bình trên internet khá dân chủ và mở cửa cho tất cả mọi người. Không chỉ các nhà phê bình chuyên nghiệp, mà bất kỳ ai cũng có thể bày tỏ ý kiến của mình về những gì họ đã đọc và phổ biến rất nhanh chóng. Nhờ có internet, hoạt động phê bình của độc giả đã được phục hồi dù chất lượng của hoạt động này tất nhiên không thể gọi là cao. Phê bình thời kỳ này, một cách tượng trưng có thể gọi là phê bình internet.

   Phê bình chuyên nghiệp cũng có sự thay đổi về cách tiếp cận tác phẩm văn học. Xu hướng chính là phê bình văn hóa. Trong phê bình văn học thấy xuất hiện các xu hướng tiếp cận văn học từ diễn ngôn quyền lực, nữ quyền luận, phê bình sinh thái, nhân học văn chương. Các lý thuyết văn học đã có từ thế kỷ trước cũng mở rộng phạm vi đối tượng khảo sát đến biên giới của văn hóa: Từ ký hiệu học ngữ văn đến ký hiệu học văn hóa; từ liên văn bản đến liên văn hóa; từ tự sự học cổ điển đến tân tự sự học. Cách nhìn văn học như hiện tượng văn hóa là coi tác phẩm văn học như một hệ thống giá trị quan văn hóa được mã hóa. Để hiểu sâu sắc một tác phẩm văn học, một nền văn học cần nắm được mã văn hóa của nó. Dịch tác phẩm không chỉ dịch ngôn từ mà dịch cả mã văn hóa của tác phẩm nguồn. Nhà ký hiệu học văn hóa Nga nổi tiếng cho rằng tác phẩm văn học có hai mã: mã ngôn ngữ và mã văn hóa. Chúng lồng vào nhau, không thể hiểu/ dịch một tác phẩm mà không đồng thời hiểu đồng thời hai mã này. Phê bình văn hóa khắc phục việc xem văn bản như một cấu trúc cô lập, khép kín mà như một thực thể đang vận động trong sinh quyển văn hóa của thời đại.

   Bốn mươi năm qua, phê bình văn học đã biến đổi rất nhiều. Từ một nền phê bình thống nhất dưới sự chi phối của các cơ quan, hội đoàn, đến một nền phê bình khá phân tán với nhiều nhóm, phái; từ mô tả hệ thống hệ tư tưởng, học thuật của các nhà ngữ văn chuyên nghiệp, chuyển sang lối nhận xét tổng hợp, phê bình văn hóa, kể “những câu chuyện phê bình” hiện nay. Phê bình học thuật, hay gọi là “phê bình tạp chí” bị đẩy khỏi vùng trung tâm của đời sống văn học, phê bình đại chúng, phê bình kể chuyện trên internet dần chiếm chỗ. Phê bình ngày càng bị chi phối nhiều hơn bởi kinh tế thị trường, cách mạng công nghệ, quốc tế hóa đời sống văn hóa, nghệ thuật.

Bình luận

    Chưa có bình luận