MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN QUA CÁC BỘ VĂN HỌC SỬ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM THẾ KỶ XX-XXI*

Bài viết phân tích, đánh giá thành tựu, hạn chế và giá trị của các công trình lịch sử văn học từ đầu thế kỷ XX đến nay. Đồng thời khẳng định sự cần thiết, cấp bách của việc triển khai xây dựng một bộ lịch sử văn học có khả năng bao quát hơn 10 thế kỷ văn học - từ cổ trung đại đến đương đại - trong giai đoạn hiện nay.

   1. Lịch sử văn học như một bộ môn khoa học: quá trình hình thành, phát triển

   Văn học sử đã bắt đầu manh nha từ trong những công trình biên soạn và các bộ sưu tập văn thơ trải qua hàng trăm năm của cha ông ta thời trung đại. Qua các bộ sách Việt âm thi tập của Phan Phu Tiên (thế kỷ XV), Toàn Việt thi lục, Kiến văn tiểu lục, Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII), Hoàng Việt thi tuyển và Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích (thế kỷ XVIII), phần viết về văn chương trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (thế kỷ XIX)... có thể phần nào thấy được diện mạo văn học dân tộc từ đời Lý đến đời Lê, đem lại cho các nhà nghiên cứu văn học đời sau những tư liệu vô giá. Trong đó, chúng ta có thể lượm lại được một số lời đánh giá, nhận xét đối với các tác giả, tác phẩm đương thời. Nhưng văn học sử với tư cách là đối tượng của một bộ môn khoa học thực sự chỉ bắt đầu xuất hiện trước năm 1945 trong quá trình tiếp xúc với văn hóa và khoa học phương Tây, mà gần gũi nhất là với văn học và khoa học nhân văn Pháp. Trong hai thập niên đầu thế kỷ XX, nghiên cứu văn chương vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng của lối bình chú trong học thuật trung đại, phải đến những năm 1930 trở đi, cùng với hoạt động sáng tác, hoạt động nghiên cứu văn học theo nghĩa hiện đại mới thực sự khẳng định sự hiện diện trong đời sống văn hóa nước nhà bằng sự ra đời của hàng loạt công trình nghiên cứu từ văn học dân gian đến văn học hiện đại. Từ việc tìm hiểu từng tác giả, tác phẩm đến việc tổng kết cả một giai đoạn văn học, nghiên cứu văn học trong nước lẫn nghiên cứu văn học nước ngoài đã được các nhà khoa học đương thời tiến hành; trong đó, văn học sử là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ hoạt động nghiên cứu nói chung và văn học Việt Nam nói riêng.

   Những công trình văn học sử đầu tiên xuất hiện dưới chế độ thuộc địa như các cuốn Đại Việt văn học lịch sử (1941) của Nguyễn Sĩ Đạo, Việt Nam văn học sử (1941) của Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm, Văn học đời Lý Văn học đời Trần trong bộ Việt Nam văn học (1942) của Ngô Tất Tố, Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam (1943) của Kiều Thanh Quế và nhất là cuốn Việt Nam cổ văn học sử (1942) của Nguyễn Đổng Chi và Việt Nam văn học sử yếu (1943) của Dương Quảng Hàm đã phần nào dựng lên được một cái nhìn bao quát về một giai đoạn hoặc bước đầu con đường phát triển của văn học Việt Nam trung đại. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nền văn học Việt Nam với bề dày gần 1000 năm đã được nhìn nhận như một quá trình liên tục từ khởi nguồn đến khi xuất hiện văn học quốc ngữ theo mẫu tự Latinh. Nhiều vấn đề cơ bản của ngành lịch sử văn học đã được các nhà văn học sử đầu tiên của dân tộc đề cập, như các vấn đề về các tiêu chí để đánh giá văn học, việc cố gắng tìm kiếm những mối liên hệ thống nhất cả quá trình lịch sử phát triển, vai trò và vị trí của ngôn từ nghệ thuật Hán - Nôm - quốc ngữ, về quan niệm phân kỳ văn học, vai trò của các thể loại... Nhưng do nhiều hạn chế ở buổi đầu, nhất là nguồn tư liệu có hạn, các tác giả lại làm việc một cách độc lập (đội ngũ những người viết văn học sử đếm chưa đầy mười ngón tay và ít có mối liên hệ với nhau) nên những công trình đáng trân trọng đó mới chỉ đem lại cho chúng ta những hình dung ban đầu về lịch sử phát triển văn học Việt Nam. Tuy nhiên, chính những thành tựu bước đầu này đã tạo tiền để cho bộ môn khoa học về lịch sử văn học phát triển và để lại nhiều ý kiến, tư liệu quý giá về văn học dân tộc.

   Ngày nay nhìn lại, quả thật chưa có một cuốn nào trong số sách nói trên thật sự hoàn chỉnh với tư cách của một cuốn lịch sử văn học. Nhưng chúng đã được viết ra bằng tâm huyết và tài năng của các nhà nghiên cứu có công đầu “khai sơn phá thạch” cho một ngành khoa học mới mẻ. Nỗi niềm của Ngô Tất Tố – tác giả của bộ Việt Nam văn học cũng là tâm trạng của các nhà khoa học đương thời: “Phải! Chúng ta vẫn khoe nước mình là nước văn hiến, khai hóa đã bốn nghìn năm, nay đã gần nửa thế kỷ hai mươi, vẫn chưa có được cuốn sử văn học, há chẳng là việc đáng thẹn của một dân tộc?”1. Nỗi “hổ thẹn” này của nhà văn hóa quá cố, tiếc thay, đến nay phần nào vẫn còn là sự thật đáng buồn của giới nghiên cứu văn học nước ta khi đã bước qua nửa đầu thập niên hai mươi thế kỷ XXI mà chúng ta vẫn chưa có được một bộ lịch sử văn học có tầm cỡ quốc gia giống như các nhà sử học đã cho ra đời bộ Lịch sử Việt Nam gồm 15 tập (NXB. Khoa học xã hội, 2015).

   Khoa học về lịch sử văn học, bộ phận quan trọng của ngành nghiên cứu văn học chỉ thật sự trưởng thành và phát triển dưới chế độ mới, từ sau năm 1945 đến nay. Thực ra, suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, chúng ta không có điều kiện để tập trung sức lực và trí tuệ cho ngành khoa học này. Năm 1954, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn viết Đại cương về văn học sử Việt Nam2 nhưng mới dừng lại ở định hướng sơ lược, dù sao cũng đã tạo ra được bộ khung cho người đi sau dựa trên đó để triển khai công việc. Phải tới tận năm 1957, các nhà khoa học đầu ngành tập trung trong hai nhóm Lê Quý Đôn và Văn Sử Địa mới soạn thảo xong hai bộ sách có thể coi là đồ sộ: Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam3 (gọi tắt là Lược thảo) gồm 3 tập và Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam4 (gọi tắt là Sơ thảo) gồm 5 tập. Phải nói rằng đây là những bộ sách rất giá trị, có tính chất mở đầu, mặc dù khó tránh khỏi những hạn chế do nhiều nguyên nhân quy định nhưng là một bước tiến lớn mạnh về quy mô, sức khái quát, vốn tư liệu so với các cuốn sách về văn học sử trước năm 1945.

   Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam xuất hiện những bộ lịch sử văn học trung cận đại đồ sộ và tầm cỡ như vậy, đánh dấu sự trưởng thành thật sự của ngành nghiên cứu văn học và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc, các nhà khoa học chuyên ngành được tập trung trong các nhóm nghiên cứu, hợp lực cho ra đời những công trình tập thể có giá trị khoa học hơn hẳn các công trình cá nhân trước đó, thể hiện tính ưu việt của thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội.

   Sự xuất hiện của cuốn Sơ thảoLược thảo, sau đó là một số cuốn về lịch sử văn học Việt Nam của Viện Văn học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội những năm tiếp theo đã đặt ra hàng loạt vấn đề cho các nhà nghiên cứu. Lần đầu tiên chúng ta đã có thể phác thảo về toàn bộ lịch trình phát triển của nền văn học Việt Nam nhưng cũng dễ dàng nhận thấy rằng ở giai đoạn những năm 50, 60, 70 của thế kỷ XX, đây còn là một công việc tương đối mới mẻ, các quan điểm Marxist và dân tộc được vận dụng vào việc nghiên cứu ở giai đoạn đầu còn hạn chế và có lúc còn ấu trĩ.

   2. Quan điểm về văn học dân tộc

   Bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (3 tập) do một số cán bộ trong Ban Tu thư Bộ Giáo dục biên soạn, bên cạnh những thành công của một cuốn văn học sử đầu tiên của thời kỳ mới đã bộc lộ những quan điểm phiến diện khi cho rằng văn học dân tộc chỉ bao gồm các tác phẩm viết bằng chữ Nôm5 . Quan điểm này vô hình trung đã làm mất đi tính toàn vẹn sinh động của nền văn học dân tộc và chúng ta không khỏi ngậm ngùi vì sự nghèo nàn của một nền văn học có cả ngàn năm lịch sử. Cả những giai đoạn rực rỡ như thời Lý - Trần, nhiều tác giả và tác phẩm là đỉnh cao của văn học Đại Việt dưới thời Lê, Nguyễn đều bị bỏ qua. Thật ra, giữa bộ phận văn chương chữ Hán và chữ Nôm trong văn học dân tộc có một mối liên hệ gắn bó mật thiết với nhau, không thể có văn học chữ Nôm nếu không có văn học chữ Hán. Cũng không thể hình dung một cách trọn vẹn nền văn học Việt Nam truyền thống nếu thiếu một trong hai bộ phận quan trọng này.

   Đương thời, quan niệm trên cũng đã bị đả phá. Ông Vân Tân đại diện cho nhóm tác giả Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam với lời tuyên ngôn của bộ Sơ thảo cũng như trong bài phê bình bộ Lược thảo đã đả phá quan niệm của nhóm Lê Quý Đôn. Sự ra đời của bộ Sơ thảo (ngay sau bộ Lược thảo không lâu) là một thành công của các nhà khoa học trong nhóm Văn Sử Địa, đặc biệt là những phần viết của Nguyễn Đổng Chi về văn học cổ Việt Nam như một phát hiện đầu tiên với những tư liệu mới mẻ về một bộ phận quan trọng của văn học dân tộc trong một công trình khoa học tầm cỡ về văn học của những năm 50 thế kỷ XX. Quan niệm coi văn học viết bằng chữ Hán là một bộ phận hữu cơ của văn học dân tộc được Nguyễn Đổng Chi đưa ra từ cuốn Việt Nam cổ văn học sử xuất bản từ năm 1942 mà chúng ta đã đề cập ở trên. Đây cũng là quan niệm khoa học đúng đắn của tất cả các nhà viết văn học sử giai đoạn trước năm 1945, đã được Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm phát biểu trong “Lời mở đầu” cuốn Việt Nam văn học sử (đăng trên Tạp chí Tri tân, từ số 2 – tháng 6.1941, đến số 56 – tháng 7.1942) với chủ ý “lấy tất cả Hán văn lẫn Quốc văn làm đối tượng nghiên cứu, bao gồm hết thảy những cái gọi là văn chương, học thuật Việt Nam từ thượng thế đến hiện đại”6. Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm phải nhấn mạnh như vậy bởi ngay từ giai đoạn trước năm 1945 đã có rất nhiều quan điểm, đặc biệt là các nhà Thơ mới, trong khi cổ xúy cho việc xây dựng một nền Quốc văn mới, đã mạt sát “cái cũ”, đặc biệt là dè bỉu sự “vô dụng” của văn phong chữ Hán. Từ Nguyễn Văn Vĩnh, Hoài Thanh đến Lưu Trọng Lư đều phê phán thơ cũ (trong đó có thơ ca trung đại – bộ phận văn học lớn nhất, tiêu biểu nhất của văn học thời kỳ này) một cách quyết liệt. Thi sĩ Phan Khôi – tác giả của bài thơ Tình già, một người có kiến thức cựu học uyên thâm – cũng quay lại đả phá văn học viết truyền thống. Ông có những so sánh và nhận định thật võ đoán: “Phú của Mạc Đĩnh Chi thì sao cho bằng phú của Giả Nghị, Tô Thức (?). Ký của Trương Hán Siêu thì sao cho bằng ký của Hàn Dũ, Âu Dương Tu (?)”. Ông chê Bình Ngô đại cáo “chẳng qua nhờ trong đó nhuộm đậm màu quốc gia” chứ “văn chương thì chưa thấm vào đâu” (?). Còn Truyền kỳ mạn lục – “thiên cổ kỳ bút” nếu đem in thật nhiều thì cũng “không tranh nổi với Liêu trai chí dị” (?). Qua đó mới thấy được những nỗ lực không ngừng nhằm bảo vệ và gìn giữ tính toàn vẹn của những thành quả văn hóa, văn học dân tộc của các nhà khoa học suốt từ đầu thế kỷ XX đến nay là hết sức lớn lao.

   Quan niệm khoa học về văn học dân tộc phải bao gồm cả văn học viết bằng chữ Hán và văn học viết bằng chữ Nôm đã được Văn Tân, Nguyễn Đổng Chi và nhóm Văn Sử Địa phát triển một cách thành công trong bộ Sơ thảo, như một đối cực với quan điểm phiến diện của bộ Lược thảo. Nói như vậy không có nghĩa là sự ra đời của bộ Lược thảo là không có ý nghĩa, thực ra việc chú trọng một cách đặc biệt vào bộ phận văn học dân gian và bộ phận văn học viết bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ đã khiến cho cuốn sách này có giá trị tham khảo đáng quý.

   Sự ra đời của các cuốn văn học sử giai đoạn này được soi sáng bởi một quan điểm mới mẻ: lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng làm cơ sở, lấy chủ nghĩa yêu nước làm tiêu chí để nhìn nhận, đánh giá các giá trị văn học truyền thống. Bên cạnh những thành công mà các cuốn văn học sử sau này đã kế thừa và phát triển thì những hạn chế của các công trình ở thời kỳ đầu chế độ mới này còn ảnh hưởng trong một thời gian dài đến các cuốn lịch sử văn học giai đoạn sau. Tư tưởng coi thường bộ phận văn học viết bằng chữ Hán còn dai dẳng ngay cả trong một số học giả, nhà văn, nhà văn hoá có tiếng tăm, uy tín. Trong một cuốn sách quan trọng về văn học sử, một học giả đã gọi những người “mượn Hán tự để làm thơ phú” là “bọn” và coi đó là thứ văn học của “phe thống trị”. Trong các bộ văn học sử, rõ ràng phần văn học dân gian đã được các tác giả dành cho một vị trí quan trọng với số trang ưu ái, được đánh giá bằng thái độ đề cao trong sự đối lập với văn học viết. Tinh thần ấy được định hướng ngay từ các bài dẫn luận và lời nói đầu của các bộ sách. Ngay trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tập I, xuất bản năm 1980, của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, chúng ta vẫn dễ dàng nhận ra sự thiên lệch này. Trong khi phần văn học dân gian, đặc biệt là văn học của các dân tộc thiểu số anh em, được trình bày một cách đầy đủ, hoành tráng thì phần tinh hoa nhất của một nền văn học dân tộc – văn học viết, nơi thể hiện học vấn và trình độ của nền văn học đó – lại bị cắt xén với sự vắng mặt của nhiều cây đại thụ.

   Những quan niệm ấy đôi khi thật khó chỉ đích danh nhưng có thể nói nó là biểu hiện “yếu ớt” của quan điểm đơn giản về tính “dân tộc, hiện đại”, về “sức mạnh của quần chúng”, “tính nhân dân”, “tính giai cấp và đấu tranh giai cấp”, coi bộ phận văn học viết bằng chữ Hán, do các trí thức phong kiến viết ra, là văn học của giai cấp thống trị, đối lập với văn học của giai cấp bị trị – văn học dân gian. Một biểu hiện rõ nét của quan niệm đó là trong một thời gian dài văn thơ của nhiều tác giả quan trọng như các chúa Trịnh (Trịnh Sâm, Trịnh Cương...), của các tác giả trong hoàng tộc nhà Nguyễn (Miên Thẩm, Miên Trinh, Mai Am…), của các ông vua (như Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức) và của cả Đào Tấn – ông quan đại thần, nhà viết tuồng, viết từ và thơ trữ tình nổi tiếng không được tìm hiểu, nghiên cứu.

   Những quan niệm giản đơn đó tất nhiên sẽ dẫn đến việc nhận thức một cách không đầy đủ diện mạo của văn học dân tộc. Nhưng nếu bộ phận văn học chữ Hán sau đó dễ dàng được công nhận là một phần của nền văn học Việt Nam thì cùng với nó là ảnh hưởng của các tư tưởng triết học và tôn giáo cũng như những tác động sâu rộng của những tư tưởng đó trong nền văn học trung đại Việt Nam thì còn lâu mới được chấp nhận như một thực tế lịch sử. Trong quá trình cố gắng đi tìm bản sắc dân tộc bằng cách đối lập nó với bản sắc trung đại của các học thuyết triết học và tôn giáo, đặc biệt là với Nho giáo mà đôi khi được quan niệm là “tư tưởng ngoại lai của một kẻ thù truyền kiếp”, hay nhẹ hơn là của “giai cấp thống trị bóc lột”, các tác giả của bộ Lược thảo khi nghiên cứu ảnh hưởng của Nho giáo trong văn học đã viết: Đạo Nho “không có tác dụng to tát và tốt đẹp gì đối với thơ văn ta...”7. Vô hình trung chúng ta đã tách đối tượng nghiên cứu của mình ra khỏi hoàn cảnh lịch sử mà nó xuất hiện. Việc làm đó cũng đồng nhất với quan điểm gán ghép một cách vô tình những quan niệm hiện đại của chúng ta ngày nay cho các đối tượng nghiên cứu của mình một cách thiếu tính lịch sử - cụ thể. Trong một hội nghị khoa học về văn học thời khởi nghĩa Lam Sơn và thời Lê sơ, người ta khó chịu khi nghe nói Lê Lợi là đại diện của giai cấp địa chủ đang lên phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc nhưng lại rất tán thưởng khi một người khác tìm mọi cách chứng minh rằng Lê Lợi và Nguyễn Trãi là những người đầu tiên của dân tộc Việt Nam mang tư tưởng của giai cấp vô sản tiến bộ từ thế kỷ XV (?)... Cũng như vậy, trong một bài viết ở đầu một cuốn sách, người viết lấy làm tiếc là trong tập truyện Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ lại chứa đựng quá nhiều cái dị đoan, quái dị, nếu gạt bỏ nó đi thì tác phẩm sẽ đầy chất hiện thực (?). Thật ra chất “kỳ ảo” đó lại chính là đặc sắc của tập truyện và là bút pháp nghệ thuật độc đáo của thể loại truyện truyền kỳ. Không phải ngẫu nhiên mà công trình nghiên cứu gần cả một đời người của cố Giáo sư Trần Đình Hượu Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong văn học Việt Nam phải đến tận giữa những năm 90 thế kỷ XX mới được công bố, mặc dù công trình đã được viết từ lâu và truyền thống nghiên cứu về Nho giáo đã có từ trước năm 1945. Cũng bởi vậy, những trang viết đầy súc tích của Giáo sư về văn học nhà Nho trong các công trình khoa học của mình và trong cuốn giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930 là một bước tiến của công việc nghiên cứu văn học sử Việt Nam.

   Ngày nay chúng ta đều biết rằng việc một dân tộc này sử dụng ngôn ngữ chung của một vùng văn hóa cũng như chịu ảnh hưởng nhiều mặt của một trung tâm văn hóa nào khác là một việc rất bình thường. Việt Nam nằm trong ảnh hưởng của vùng văn hóa Đông Á, trong đó Trung Quốc là trung tâm văn minh lớn nhất tỏa sáng cả một khu vực rộng lớn. Văn học Việt Nam trung đại chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn học Trung Quốc cổ điển trên nhiều lĩnh vực, từ tư tưởng đến thể loại và mang những đặc trưng riêng của cả một vùng. Trong quá trình nghiên cứu Nguyễn Dữ cùng với cuốn Truyền kỳ mạn lục của ông, chúng tôi thấy rõ những ảnh hưởng ấy, thậm chí là sự vay mượn đôi lúc khá tinh vi. Xưa nay chúng ta mới chỉ nhìn thấy Nguyễn Dữ đơn độc với cuốn Truyền kỳ mạn lục. Nhưng nếu đặt tập truyện của nhà văn trong chiều dày lịch sử phát triển của truyện truyền kỳ vùng Đông Á, chúng ta sẽ phát hiện ra một vóc dáng khác của Nguyễn Dữ, ở đó ông không hề đơn độc. Ở đó, những đóng góp của ông có ý nghĩa đối với cả một vùng văn hoá rộng lớn, từ đó có thể lý giải được nhiều vấn đề về sự phát triển của thể loại truyện truyền kỳ Việt Nam trung đại. Nguyễn Dữ không chỉ là nhà văn của Việt Nam, ông là nhà viết truyện truyền kỳ tầm cỡ của cả khu vực Đông Á. Các cuốn văn học sử của ta chưa giải quyết được vấn đề này là bao, ngay cả đối với những tác giả rất lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương… Vô hình trung chúng ta đã tách văn học Việt Nam ra khỏi văn hóa của cả một vùng rộng lớn, bao gồm cả Đông Á và Đông Nam Á.

   Ranh giới của những ảnh hưởng giữa văn học Việt Nam và văn học các nước trong cùng khu vực là một đối tượng khoa học vô cùng lý thú, cho đến nay vẫn còn là một mảnh đất khá hoang sơ đòi hỏi một sự khổ công khoa học để luận giải.

   3. Những tiêu chí để khảo sát và phân kỳ lịch sử văn học

   Sự trưởng thành của một chuyên ngành còn được xác định ở chỗ nó đã thực sự trở thành một ngành khoa học độc lập, tự thân hay chưa, hay còn phải vay mượn các tiêu chí đánh giá, phân loại của một ngành khác. Việc phá vỡ sự bất phân giữa “văn, sử, triết” trong khoa học xã hội hiện đại là một bước tiến mạnh mẽ nhưng cho đến nay hình như khoa học về văn học vẫn chưa đi đến cuối con đường của sự tách biệt ấy. Bằng chứng là văn học sử vẫn phải lệ thuộc chủ yếu vào các tiêu chí của sử học và chính trị để phân kỳ các giai đoạn văn học và phân loại, đánh giá các giá trị của quá khứ. Hầu như tất cả các bộ văn học sử trước năm 1945 đều lấy các sự kiện chính trị, lịch sử làm chuẩn mốc để phân kỳ văn học dân tộc. Tiêu biểu là quan điểm của Nguyễn Sĩ Đạo, trong “Lời nói đầu” cuốn Đại Việt văn học lịch sử (1941), khi cho rằng: “Các thời kỳ của lịch sử văn chương nước ta, chúng tôi thấy liên lạc mật thiết với các thời kỳ lịch sử chính trị, nên chúng tôi cứ lấy tên các thời kỳ lịch sử chính trị mà chép lịch sử văn học”8.

   Sau năm 1945, với phương châm lấy văn học phục vụ chính trị, quan điểm trên càng được đề cao. Ngay từ cuốn Đại cương về văn học sử Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn viết: “Phải căn cứ vào các giai đoạn trong lịch sử dân tộc mà chia những giai đoạn trong văn học sử, bởi vì như đã nói, văn học sử không thể tách khỏi lịch sử dân tộc được, là bộ phận của lịch sử dân tộc”9. Các tác giả của bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam cũng khẳng định: “Đối với lịch sử văn học, những sự kiện lịch sử có một tác dụng rõ rệt hơn là bản thân những sự kiện văn học”10. Rõ ràng là trong một thời gian dài, bản thân sự phát triển của văn học với những đặc trưng và các sự kiện của nó còn chưa được quan tâm đúng mức. Không phải ngẫu nhiên mà ngay từ cuối những năm 50, đầu những năm 60 thế kỷ XX, ông Văn Tân đã phải từ bỏ cố gắng khi đề xuất việc phân kỳ văn học phải dựa vào bản thân các sự kiện văn học11. Một mặt, do chúng ta còn chưa nhận ra những khác biệt lớn giữa các thời kỳ văn học bởi văn học Việt Nam trung đại ít có những biến động rõ rệt, nhưng rõ ràng đây còn là vấn đề quan hệ giữa văn học và lịch sử, văn học và chính trị, khi mà lịch sử văn học mới chỉ được coi một cách đơn giản là một bộ phận của lịch sử, phải chịu sự chi phối tuyệt đối của chính trị và các đặc trưng riêng biệt của nó còn ít được chú ý. Quả thật, nghiên cứu văn học trong hoàn cảnh phải chịu nhiều sức ép như vậy thì khó có thể có được sự phát triển tự thân và sự nghiêm túc khoa học. Tất nhiên là khoa học về văn học (cũng như bản thân nền văn học) luôn gắn bó với lịch sử, với chính trị nhưng nó sẽ phục vụ xã hội một cách hiệu quả hơn nếu trở thành một ngành khoa học thật sự, nhất là trong giai đoạn hiện nay.

   Việc đi tìm những tiêu chí để xác định các giá trị văn học sử cũng thể hiện những mặt tích cực và hạn chế của chúng ta. Bắt đầu cùng với thời đại mới của dân tộc, ngay từ các công trình văn học sử đầu tiên, các nhà nghiên cứu văn học Marxist đã tìm ra được một chuẩn mốc phân loại lịch sử văn học một cách đắc dụng, đó là chủ nghĩa yêu nước. Tiêu chí chủ nghĩa yêu nước có khả năng bao trùm một diện rộng lớn cả bề dài và chiều sâu lịch sử văn học và thỏa mãn những yêu cầu về chính trị trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, nơi mà hơn lúc nào hết cần đề cao giá trị chủ nghĩa yêu nước. Tiêu chí này là một sự phát hiện quan trọng của các nhà văn học sử cuối những năm 50, là một bước tiến so với các cuốn văn học sử trước năm 1945. Nhờ tiêu chí này mà văn học Việt Nam từ cổ chí kim được nhìn nhận như một thể thống nhất. Chủ nghĩa yêu nước như một dòng chảy mãnh liệt được phát hiện, nó dính kết tất cả các thời kỳ, các giai đoạn, các tác giả, tác phẩm tưởng như rời rạc thành một dòng chảy có sức thuyết phục. Nhưng chủ nghĩa yêu nước là một tiêu chí nghiêng về tư tưởng. Chính vì vậy mà nhiều hiện tượng văn học có giá trị không thỏa mãn những yêu cầu của tiêu chí này đã bị gạt ra ngoài, hoặc bị phê phán hoặc không được nhắc tới. Đã có thời chúng ta lấy làm tiếc cho Nguyễn Du vì ông có Truyện Kiều vĩ đại như thế mà lại không tham gia phong trào khởi nghĩa Tây Sơn (?); các nhà nghiên cứu cố công đi tìm hình ảnh của vua Quang Trung qua hình tượng Từ Hải; còn Nguyễn Công Trứ - nhà thơ tài hoa hết mực ấy sao lại đem quân đi chống lại “phong trào nông dân khởi nghĩa”; Nguyễn Khuyến sao không tham gia các phong trào khởi nghĩa chống Pháp mà lại từ quan về làng? Văn học thời Nguyễn sau biến cố 1858 về cơ bản được chia thành hai dòng rạch ròi: yêu nước và nô dịch. Các nhà nghiên cứu cố gắng đi tìm xem Nguyễn Khuyến, cũng như Đào Tấn, ông quan Tổng đốc triều Nguyễn có một chút liên quan gì với một phong trào yêu nước nào không? Nguyễn Khuyến may mắn hơn vì ông còn có thời kỳ ở ẩn và còn có thơ ca trào phúng đả kích bọn quan lại và xã hội thuộc địa nhố nhăng. Tam nguyên Yên Đổ được xếp vào dòng văn học trào phúng, trong khi ông là nhà thơ trữ tình tả cảnh nông thôn vào loại bậc nhất của Việt Nam và nhiều bài thơ của ông có tác dụng khích lệ lòng yêu nước một cách mãnh liệt. Đào Tấn, bên cạnh các vở tuồng tài năng còn là nhà viết từ, một nhà thơ trữ tình đầy tâm sự yêu nước. Còn các nhà thơ trong hoàng tộc nhà Nguyễn nổi tiếng như Miên Thẩm, gần đây mới được nghiên cứu. Rõ ràng là đã có một lúc nào đó thứ thước đo của chúng ta đã không dung nổi những tài năng vào loại kiệt xuất của văn học dân tộc và giá trị của văn chương đôi khi được nhìn qua lý lịch xã hội của người đã sản sinh ra nó chứ không phải là chính các tác phẩm của họ và sự tác động đến đời sống văn học của họ.

   Ở giai đoạn những năm 80 thế kỷ XX, nhất là sau 1986, các nhà văn học sử đã đề ra một tiêu chí mới bổ sung cho chủ nghĩa yêu nước, đó là tiêu chí chủ nghĩa nhân bản. Tiêu chí này rộng hơn tiêu chí chủ nghĩa yêu nước nên có khả năng thâu tóm được hầu hết các giá trị văn học và là một bước tiến của nghiên cứu văn học. Nó khiến cho lịch sử văn học hiện lên một cách sống động hơn, xóa đi những mặc cảm, rào chắn không cần thiết; nó thâu tóm vào bản thân mình nhiều hiện tượng văn học trước đây bị “dị ứng”, bị gạt ra khỏi đời sống văn học, nó phục hồi và gìn giữ những giá trị nghệ thuật bị “vứt bỏ” một thời. Công việc này đặc biệt sôi nổi trong lĩnh vực văn học hiện đại nhưng trong văn học cổ cận đại cũng không kém phần quyết liệt. Các nhà thơ hoàng tộc nhà Nguyễn được nghiên cứu, công việc sưu tầm và xuất bản các tác phẩm của họ được đặc biệt lưu ý; các nhà văn, nhà thơ một thời được coi như tượng trưng cho khuynh hướng “yếm thế”, “trốn tránh thực tại” như Dương Khuê, Dương Lâm, Chu Mạnh Trinh... được nhìn bằng con mắt cảm thông hơn; Nguyễn Khuyến, Đào Tấn được tìm hiểu từ nhiều góc độ, thơ văn của các ông được sưu tầm gần như đầy đủ. Các nhà văn “công khai”, trước đây được coi là “thân Pháp”, “tay chân của người Pháp” như Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh cũng được xem xét lại, thận trọng hơn trong đánh giá; thậm chí, Phạm Quỳnh – nhân vật được coi là “tai tiếng” nhất một thời – cũng được nhìn nhận một cách công bằng hơn khi xét đến cả “công và tội” của ông (có những nhà nghiên cứu, về quan điểm, đã quay ngược lại 180° so với trước đây trong việc đánh giá bộ phận văn học này!).

   Nhưng cũng như chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân bản cũng chưa hẳn là một chuẩn mốc dành riêng cho văn học với tất cả nét đặc trưng riêng biệt của nó. Mặt khác, cả hai tiêu chí trên đều chú trọng nhiều đến mặt tư tưởng, nội dung của văn học, khiến cho lịch sử văn học đôi lúc hiện lên như lịch sử tư tưởng, trong khi mặt nghệ thuật – đặc trưng làm nên nét độc đáo khiến văn học khác với các loại hình nghệ thuật khác – lại ít được đi sâu nghiên cứu. Có lẽ bên cạnh hai tiêu chí có tính chất bản lề trên cũng cần phải bổ sung thêm các tiêu chí nêu bật được đặc trưng của văn học, định giá được cả giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn học. Đó có thể là tiêu chí về sự phát triển của thể loại, sự xuất hiện của các phong cách như là sự kết tinh của lịch sử văn học cũng như những đóng góp cho sự phát triển về ngôn từ của các trào lưu văn học, các nhà văn và các tác phẩm. Bởi lịch sử văn học còn là lịch sử phát triển và kế thừa của các thể loại văn học, còn là lịch sử phát triển của ngôn từ nghệ thuật, của diễn ngôn và quan niệm thẩm mĩ...

   4. Một giai đoạn mới của ngành văn học sử

   Tiếp theo thành tựu của các bộ văn học sử đi trước, đặc biệt là các tập sách đồ sộ như Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam và Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam... chúng ta đã có thêm một số cuốn văn học sử của một số nhà khoa học, các cuốn lịch sử văn học Việt Nam (được biên soạn dưới dạng giáo trình) của các trường đại học, đặc biệt là các sách của hai trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội) – đây là những bộ sách được bổ sung, sửa chữa, nâng cao sau nhiều lần tái bản. Cuốn của Trường Đại học Tổng hợp Văn học Việt Nam – gồm nhiều tập, in sớm nhất là Văn học Việt Nam – nửa cuối thế kỷ XIX (1971) của Nguyễn Lộc, muộn nhất là Văn học Việt Nam 1900-1930 của Trần Đình Hượu - Lê Chí Dũng (1988) – cho đến nay vẫn là bộ giáo trình được sử dụng tham khảo nhiều nhất do khả năng khái quát và đi sâu vào từng giai đoạn, từng tác giả của bộ sách. Bộ giáo trình lịch sử văn học được tái bản đến lần thứ 5 (2001) này ngay từ cuốn đầu tiên của Nguyễn Lộc (1971) đã có những cách tân quan trọng thể hiện trong việc quan tâm một cách thích đáng đến những đặc trưng của văn học, nhiều mốc phân kỳ văn học đã được thay đổi so với trước, gắn liền với các sự kiện văn học, sự xuất hiện của các thể loại và thành tựu văn học lớn. Đây là một bước tiến so với nhiều cuốn lịch sử văn học trước đó.

   Ở đây cũng cần phải kể đến những cố gắng của các nhà văn học sử ở phía Nam đất nước trước năm 1975 dưới chế độ chính quyền Sài Gòn (1954-1975). Nhiều cuốn sách ở thời kỳ này ngày nay chúng ta vẫn còn tìm đọc như: Khởi thảo văn học sử Việt Nam: văn chương chữ Nôm (NXB. Tân Hợi, Sài Gòn, 1957), Bảng lược đồ văn học Việt Nam (NXB. Trình bày, Sài Gòn, 1967) của Thanh Lãng, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quốc học tùng thư xuất bản, Sài Gòn, 1960) của Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học (NXB. Tân Việt, Sài Gòn, 1967) của Phạm Văn Diêu… Những cuốn sách này vẫn còn nhiều giá trị tham khảo, đánh dấu một sự cố gắng với những thành tựu đáng ghi nhận của các nhà nghiên cứu ở miền Nam trước 1975.

   Năm 1976, Giáo sư N. I. Nikulin – nhà nghiên cứu văn học người Nga – cho ra đời cuốn Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (NXB. Khoa học, Maxcova) từ kết quả luận án Tiến sĩ khoa học của ông. Cuốn sách là một thành công lớn của một nhà khoa học nước ngoài về văn học trung đại Việt Nam. Có lẽ cho đến nay, đây vẫn là công trình hiếm hoi của một nhà khoa học ngoại quốc có sức khái quát hơn 10 thế kỷ về văn học Việt Nam hết sức sâu sắc.

   Đến nay, các cuốn văn học sử của các trường đại học vẫn đang từng bước được nâng cao về nhiều phương diện, khắc phục những hạn chế, những quan niệm đơn giản, ấu trĩ trong nghiên cứu văn học. Những thành tựu trong việc nghiên cứu thơ văn Lý - Trần, thơ văn Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, văn học thời Nguyễn... của cả giới khoa học trong thời gian qua là những khám phá quan trọng khiến cho bộ mặt văn học quá khứ hiện lên một cách sinh động. Việc vận dụng các phương pháp loại hình, tự sự học, so sánh, ký hiệu học, thi pháp học, cấu trúc văn bản, nhìn văn học dưới góc độ giới, phân tâm học, diễn ngôn... để nghiên cứu văn học, đặc biệt là văn học quá khứ, đã đem lại những phát hiện mới mẻ khiến cho ngành nghiên cứu văn học trong những năm gần đây có những bước tiến đáng khích lệ. Chúng ta cần phải nhanh chóng cho ra đời những bộ văn học sử mới, có khả năng kế thừa được toàn bộ những thành tựu khoa học của toàn ngành, đáp ứng được những đòi hỏi của thực tế cuộc sống, không chỉ một bộ mà cần có nhiều bộ văn học sử để bổ sung cho nhau. Việc nhìn nhận lại những kinh nghiệm, những thành công và thiếu sót của các công trình về lịch sử văn học đã ra đời trước đó là một việc hệ trọng, giúp chúng ta tránh được những hạn chế của tiền nhân cũng như phát huy được những thành tựu của truyền thống.

   Từ đầu những năm 2000, Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã cho xuất bản các bộ giáo trình dành cho ngành Ngữ văn: Giáo trình văn học trung đại Việt Nam, tập 1 và 2 (Nguyễn Đăng Na chủ biên), NXB. Đại học Sư phạm, 2007; Giáo trình văn học trung đại Việt Nam, tập 1 (Lã Nhâm Thìn chủ biên) và tập 2 (Lã Nhâm Thìn và Vũ Thanh chủ biên), NXB. Giáo dục Việt Nam, 2014. Đây là những bộ sách thể hiện sự cố gắng của tập thể các nhà khoa học nhiều thế hệ, trên cơ sở những thành tựu khoa học của cả ngành nghiên cứu văn học. Tuy nhiên, các bộ sách này mặc dù có nhiều thành công nhưng cũng mới dừng lại ở mức độ một bộ văn học sử giảng dạy ở trường đại học.

   Trong những năm qua, một nhóm các nhà khoa học do GS. TS. Trần Đình Sử chủ biên đã biên soạn bộ sách Lược sử văn học Việt Nam (NXB. Đại học Sư phạm, 2021). Bộ sách là sự phác thảo lịch sử văn học Việt Nam từ văn học dân gian, văn học cổ trung đại đến hiện đại với nhiều phần trình bày mới mẻ, thể hiện những quan niệm về nhận thức, đánh giá lịch sử, tổng kết các giai đoạn, thời kỳ của tiến trình văn học dân tộc. Trong đó, việc phân kỳ lịch sử văn học cũng có nhiều vấn đề cần bàn luận. Cuốn sách là nguồn tham khảo quan trọng cho các nhà giáo, các nhà nghiên cứu, các trường đại học trong nước và nước ngoài.

   Việc nghiên cứu từng giai đoạn văn học cụ thể cũng có những công trình đáng chú ý như cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ XVIII-XIX trong bối cảnh văn hóa thời Hậu Lê - Nguyễn (Vũ Thanh chủ biên), NXB. Khoa học xã hội, 2024. Cuốn sách có giá trị tổng kết các thành tựu nghiên cứu về “hai thế kỷ vàng” của văn học dân tộc, hai thế kỷ kết tinh tinh hoa của một nền văn học đã trải qua gần 1000 năm phát triển. Cuốn sách cũng đặt ra nhiều vấn đề mới, cho thấy văn học thế kỷ XVIII-XIX là một đối tượng khoa học quan trọng, ở đó còn rất nhiều vấn đề khoa học cần được tiếp tục triển khai nghiên cứu.

   Các bộ văn học sử có vai trò tổng kết các thành tựu của cả ngành nghiên cứu văn học, thể hiện trình độ của một nền khoa học xã hội. Việc triển khai xây dựng một bộ lịch sử văn học có khả năng bao quát hơn 10 thế kỷ văn học từ cổ trung đại đến đương đại là một công việc cấp bách của ngành nghiên cứu văn học, đặc biệt công việc này rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay khi vấn đề tổng kết những thành tựu tinh hoa của nền văn hóa dân tộc và việc hội nhập quốc tế đang trở thành nhiệm vụ chính trị quan trọng.

   Cần phải trở thành một ngành khoa học phát triển với những công trình có sức thuyết phục, hiện đại và thật sự khoa học; chỉ có như vậy, nghiên cứu văn học và ngành văn học sử mới thật sự có đóng góp vào sự phát triển của đất nước trong thời kỳ mới: thời kỳ phát huy những giá trị văn hóa dân tộc và hội nhập quốc tế sâu rộng.

 

 

 

Chú thích:
1 Ngô Tất Tố (1942), Việt Nam văn học, tập thứ nhất: “Văn học thời Lý”, NXB. Nhà sách Khai Trí, tr. 5-6.
2 Nguyễn Khánh Toàn (1954), Đại cương về văn học sử Việt Nam, Bộ Giáo dục xuất bản.
3 Nhóm Lê Quý Đôn (1957), Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, Xây dựng xuất bản.
4 Nhóm Văn Sử Địa (1957), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, NXB. Văn Sử Địa.
5, 10 Nhóm Lê Quý Đôn (1957), Sđd, “Phần mở đầu”, tr. 6, 8.
6 Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm (1941), “Lời mở đầu” cuốn Việt Nam văn học sử, Tạp chí Tri tân, số 2, tháng 6.
7 Nhóm Lê Quý Đôn (1957), Sđd, tr. 182.
8 Nguyễn Sĩ Đạo (1941), Đại Việt văn học lịch sử, Tân Hóa xuất bản, tr. 9.
9 Nguyễn Khánh Toàn (1954), Sđd, tr. 21.
11 Xem: “Mấy nhận xét về quyển Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quý Đôn”, Tạp chí Văn Sử Địa, số 30 (7.1957) và “Lời nói đầu” cuốn Lịch sử văn học Việt Nam sơ giản của Văn Tân, NXB. Sử học, 1961, tr. 4.

Bình luận

    Chưa có bình luận