am Cao (1917-1951) là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Nhà văn lớn là nhà văn có tư tưởng lớn, sâu sắc; có tình cảm lớn, sâu nặng đối với con người; có phong cách nghệ thuật độc đáo; qua những tác phẩm xuất sắc, với những hình tượng nghệ thuật là sáng tạo riêng của mình, nói lên được một cách sâu sắc, đầy ám ảnh những vấn đề cơ bản không chỉ của tầng lớp, giai cấp, dân tộc mình mà còn chạm đến được những vấn đề chung của nhân loại. Nhà văn lớn còn là nhà văn sáng tạo nên những tác phẩm vượt qua được những thử thách khắc nghiệt của thời gian, càng thử thách lại càng ngời sáng.
Trong trào lưu văn học hiện thực 1930-1945, Nam Cao là nhà văn có tư tưởng riêng và phong cách nghệ thuật độc đáo. Phong cách Nam Cao trước hết và chủ yếu được biểu hiện qua cái nhìn nghệ thuật của ông về con người và cuộc đời. Đó là cái nhìn đặc biệt chú trọng tới đời sống tinh thần, luôn có hứng thú khám phá “con người trong con người”, với quan niệm: “Sống tức là cảm giác và tư tưởng. Sống cũng là hành động nữa, nhưng hành động chỉ là phần phụ: có cảm giác, có tư tưởng mới sinh ra hành động. Cảm giác càng mạnh, càng linh diệu, tư tưởng càng dồi dào càng sâu sắc thì sự sống càng cao” (Sống mòn). Đó là cái nhìn rất sâu vào nhân cách, “đau đáu nhìn vào nhân cách” (Nguyễn Minh Châu), nhân tính của con người. Đó là cái nhìn nhiều chiều, không dừng lại ở những biểu hiện bên ngoài mà đào sâu, khám phá, phát hiện bản chất của đối tượng; cái nhìn mang tầm khái quát triết lý xung quanh vấn đề sự sống và cái chết về tinh thần của con người. Dù viết về người nông dân hay người trí thức, vượt lên trên ý nghĩa cụ thể của đề tài, sáng tác của Nam Cao thường chứa đựng nội dung tư tưởng sâu sắc, chạm đến những vấn đề triết học, có khả năng khái quát những quy luật chung của cuộc sống như vật chất và ý thức, hoàn cảnh và con người, môi trường và tính cách... Bao trùm lên tất cả, Nam Cao là nhà văn nhìn con người và cuộc đời bằng “con mắt tình thương”, con mắt của một nhà văn hiện thực lớn.
Cách nhìn đời sâu sắc, bằng con mắt tình thương đã trở thành ý thức nghệ thuật của Nam Cao. Trong truyện ngắn Đời thừa (1943), Nam Cao cho rằng nếu không có tình thương đối với đồng loại thì không đáng gọi là người. Nam Cao viết trong truyện ngắn Lão Hạc (1943): “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, xấu xa, bỉ ổi… Toàn những cớ để ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương; không bao giờ ta thương…”. Nam Cao còn lấy câu: “… Người ta chỉ xấu xa, hư hỏng trước đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỷ; và nước mắt là một miếng kính biến hình vũ trụ” của một nhà văn Pháp làm đề từ cho truyện ngắn Đôi mắt (1943) của mình. Với con mắt tình thương sâu nặng ấy, Nam Cao không bao giờ nhìn con người chỉ dừng lại ở cái vẻ bên ngoài mà đi sâu vào bản chất bên trong, “cố tìm mà hiểu họ”. Nếu Vũ Trọng Phụng là nhà văn suốt đời say mê, ráo riết khám phá cái mặt trái của cái xã hội “khốn nạn”, “chó đểu”, phơi bày những cái xấu, những thói tật của con người thì Nam Cao, trong suốt cuộc đời cầm bút của mình, luôn có ý thức đi tìm “cái bản tính tốt của người ta bị những lo lắng, buồn đau ích kỷ che lấp mất” (Lão Hạc). Sống gần gũi với những người khốn khổ, Nam Cao nhận ra rằng: “Cái khổ làm héo một phần lớn những tính tình tươi đẹp của người ta” (Giăng sáng). Chính nhờ có đôi mắt tình thương và lòng tin đối với những người lao động nghèo khổ mà Nam cao đã nhìn thấy tấm lòng vị tha, bản chất tốt đẹp của lão Hạc. Bề ngoài lão Hạc có vẻ gàn dở, lẩm cẩm, tầm thường, thậm chí còn bị nghi là đánh bả chó nữa, nhưng thực chất là một con người nhất mực lương thiện, giàu tình thương, thương con nhất mực, có thể hi sinh tất cả vì con. Chính nhờ có con mắt yêu thương, cảm thông sâu sắc với con người nên Nam Cao mới có thể lý giải đầy sức thuyết phục quá trình tha hóa của anh cu Lộ trong truyện ngắn Tư cách mõ (1943). Từ chỗ là một người nông dân lương thiện, không cờ bạc, rượu chè, “chỉ chăm chắm, chui chúi làm để nuôi vợ, nuôi con”, “ăn ở phân minh”, “không hề có cái tính tắt ma, tắt mắt” đến khi bị dỗ ngon dỗ ngọt làm mõ, rồi bị mọi người tìm cách làm nhục, Lộ đã trở thành thằng mõ “đủ tư cách mõ, chẳng chịu kém những anh mõ chính tông một tí gì: cũng đê tiện, cũng lầy là, cũng tham ăn”. Từ đó, nhà văn đau xót đưa ra một nhận xét khái quát: “Hỡi ôi! Thì ra lòng khinh, trọng của chúng ta có ảnh hưởng đến cái nhân cách của người khác nhiều lắm; nhiều người không biết gì là tự trọng, chỉ vì không được ai trọng cả; làm nhục người là một cách rất diệu để khiến người sinh đê tiện...”. Chính vì nhìn đời bằng con mắt tình thương nên Nam Cao mới nhận ra cái bi kịch đau đớn của Lang Rận và mụ Lợi trong truyện ngắn Lang Rận (1944); mới tinh tế nhận ra cái khao khát được trò chuyện của hai con người tội nghiệp, khốn khổ này: “Nói, trao đổi những ý nghĩ, những nỗi lòng, có lẽ là cái tật chung của loài người. Không được nói thì khổ lắm”; mới lắng nghe được âm vang sâu xa trong tâm hồn của mụ Lợi sau cuộc trò chuyện giữa mụ và Lang Rận. Mụ Lợi thì kể bệnh, Lang Rận thì vô tư làm nhiệm vụ của một thầy lang chữa bệnh, cứ vô tư nói căn bệnh hay nhức đầu của mụ là do chưa có chồng, nhiều người lấy chồng, tự nhiên khỏi bệnh, “Mụ Lợi tưởng thầy lang bỡn mụ, nhìn trộm thầy một cái rồi ngoảnh mặt đi. Mụ thẹn. Nhưng đến lúc thầy lang thổi xong cơm, đứng lên, ra, thế nào mụ cũng nhìn theo sau lưng, tủm tỉm cười. Thầy lang cũng không hay biết một tí gì. Người ta không thể ngờ một người đàn bà xấu thế, mà cũng có tình, như những người đàn bà khác”. Cũng bằng con mắt tình thương và sự phân tích xã hội, giải thích đời sống một cách sâu sắc, trong truyện ngắn Nửa đêm (1944), Nam Cao đã nhận ra cái nguyên cớ sâu xa biến Đức, con của Trương Rự – một “thằng Thiên lôi”, “đâm lồi bụng vợ” – từ một đứa bé “hiền như đất, hiền như những con nhà thiếu ăn”, “ham việc hơn ham sống” trở thành một thằng du côn, một tên giết người, một kẻ điên loạn. Đức phát điên đâu phải vì cái quy luật di truyền, cũng không phải bởi cái quy luật “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước” mà chính vì miệng tiếng ác nghiệt, những thành kiến nặng nề, sự hắt hủi, chối bỏ của cộng đồng đã đem đến cho nó biết bao tủi nhục. Đức phát điên còn vì từ khi buộc phải rời bỏ quê hương, dấn thân vào xứ Nam Kỳ bát nháo, nó phải sống ở cái nơi “ai cũng táo tợn và gan góc, không sợ tội cũng như không tin phúc; những cái uất ức và liều lĩnh của bốn phương đến tụ họp”, nơi của “những trai tứ chiếng, gái giang hồ”, nơi mà “bọn cố cùng đem máu của mình ra mà tranh sống”. Chính cái môi trường sống phi nhân tính ấy đã nhào nặn Đức trở thành một thằng du côn, một tên giết người, dẫu trong tâm hồn đen tối của hắn vẫn chưa chết hẳn những rung động của tấm lòng hiếu thảo với người bà tội nghiệp đã biết bao vất vả, cay đắng, tủi nhục nuôi dưỡng hắn từ tấm bé.
Nếu không nhìn đời bằng con mắt tình thương, Nam Cao chẳng những không thể viết nên những lời đầy ân tình với dì Hảo (Dì Hảo) mà cũng không thể thấu hiểu, cảm thông đến lạ lùng kiếp sống lay lắt, đầy tủi nhục của bà quản Thích (Nửa đêm). Nhiều đoạn văn trong Dì Hảo được viết bằng giọng điệu run rẩy, nghẹn ngào như có tiếng khóc ở bên trong: “Dì Hảo là con nuôi của bà tôi...”, “Dì Hảo ơi! Tôi hãy còn nhớ cái ngày dì bỏ tôi đi lấy chồng. Đó là một buổi chiều có sương bay...”, “Dì Hảo hỡi!...”, “Chao ôi!...” (Dì Hảo). Bà quản Thích suốt đời hết khổ vì đứa con nuôi (bà nuôi Trương Rự – thằng “Thiên lôi” – từ khi còn bế ngửa) lại còng lưng, nhẫn nhục làm để nuôi cháu (thằng Đức). Qua ngòi bút của Nam Cao, bà quản Thích là hiện thân cho nỗi khốn khổ cùng cực của người nông dân: “Cái kiếp sống vất vưởng ấy cứ bập bùng chực tắt mà không tắt. Nó cứ còn mãi, còn để sợ từng cơn gió, để run rẩy trước từng cơn gió. Đã già nua, lại đau yếu, lại bơ vơ thì khổ hơn là chết. Khốn nỗi bà cứ sống, dai dẳng như nỗi lầm than trên đời”. Người đàn bà nhân đức ấy, cho đến cuối đời vẫn không hết khốn khổ, tủi nhục. Thiên truyện khép lại rồi nhưng tiếng rên rẩm kêu thương của người đàn bà tội nghiệp ấy vẫn còn vang vọng mãi: “Ối trời cao đất dày ơi! Suốt đời tôi chả ăn độc ở ác với ai mà sao đến bây giờ thân đã gần kề miệng lỗ vẫn còn chưa hết tội?...” (Nửa đêm). Cũng vì có trái tim nhân đạo lớn, nhìn đời bằng con mắt tình thương nên Nam Cao đã nhìn thấy thậm chí ngay trong cả đáy sâu tâm hồn của một kẻ u mê, cục súc như Chí Phèo (Chí Phèo) vẫn có lúc đột ngột loé lên những rung động trong sáng của tình yêu, của niềm khao khát được trở về làm người lương thiện.
Trong tiểu thuyết Truyện người hàng xóm (1944), Nam Cao viết về cuộc sống lam lũ, tối tăm của những người hàng xóm ở xóm Bài Thơ – xóm của những người dân nghèo thành thị. Họ là những con người cùng khổ: vợ chồng ông Ngã, bà Hai Mận, bác Vằn, cô Thầy, anh Câm... mỗi người đem theo một nỗi khổ riêng, từ nhiều nơi tới trú ngụ ở đây. Nhìn đời bằng con mắt tình thương, ngòi bút Nam Cao đã đi sâu vào cảnh ngộ của những gia đình nghèo khổ, tập trung theo dõi những đổi thay trong cuộc đời của ba đứa trẻ: Hiền, Tiền và Lộc. Những trang văn cảm động nhất là viết về đám trẻ thơ của xóm nghèo ngoại ô này, những đứa trẻ sống thiếu tình thương, khi lớn lên thì hoặc là rơi ngay vào vực thẳm bế tắc hoặc là bị dồn đẩy vào con đường sa ngã. Ba đứa trẻ nói trên gặp lại nhau sau nhiều năm xa cách, mỗi người một số phận nhưng tất cả đều trải qua những quãng đời đau đớn, tủi nhục trong một xã hội bất công, tàn ác. Câu chuyện thật buồn thảm nhưng vẫn ánh lên cái nhìn nhân đạo về những người dân nghèo thành thị, niềm tin về bản chất tốt đẹp của họ: “Những kẻ đau khổ ở trên đời, nếu họ không biết thương nhau còn đợi ai thương nữa”. Cũng bằng con mắt tình thương, trong tiểu thuyết Sống mòn, Nam Cao đã đứng trên tầm cao tư tưởng để quan sát, miêu tả những kiếp sống mòn mỏi, quẩn quanh, bế tắc. Qua cái nhìn của Nam Cao, từ ông Học, thằng Mô đến Oanh, San, Thứ, mỗi người là một kiểu “sống mòn”, một kiểu “chết mòn”, “chết mà chưa làm gì cả”, “chết trong lúc sống”, “chết mà chưa sống”. Biết bao băn khoăn, day dứt, ngậm ngùi, nghiền ngẫm sâu xa khi Nam Cao viết về cái xã hội sống mòn, cái thế giới chết dần, chết mòn vừa đáng thương vừa đáng giận ấy.
Chính cái nhìn cuộc đời và con người bằng con mắt của một nhà văn hiện thực, bằng con mắt tình thương đã tạo nên sự khác biệt trong sáng tác của Nam Cao với sáng tác của những cây bút theo những khuynh hướng văn học khác, tạo tư thế để ông đối thoại, tranh luận với họ về quan điểm nghệ thuật. Nam Cao bộc lộ thái độ không đồng tình với quan niệm của Xuân Diệu: “Là thi sĩ nghĩa là ru với gió/ Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây…” (Cảm xúc), đối thoại với quan niệm của họa sĩ Nam trong tiểu thuyết Đẹp của Khái Hưng. Trong truyện ngắn Giăng sáng (1942), qua dòng suy tư của văn sĩ Điền, Nam Cao bày tỏ quan điểm nghệ thuật của mình: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than”. Nhìn đời bằng con mắt tình thương, ông đối thoại với quan niệm của một nhà triết học phương Tây lừng danh: “Phải biết ác, biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ”; đường hoàng, dõng dạc đưa ra quan niệm nhân văn của mình: “Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kỷ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình” (Đời thừa). Nếu như một nhà hiện thực lớn của văn học Pháp đầy bản lĩnh, không ngần ngại mà nói trắng ra rằng: “Tôi thương nhân dân, ghét kẻ áp bức, nhưng chung sống với nhân dân, đối với tôi là một điều đau khổ vĩnh viễn”, thì Nam Cao đã tự nguyện “đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời” (Giăng sáng), chân thành gắn bó sâu nặng, đầy ân tình với nhân dân lao động lầm than. Có thể nói sáng tác trước năm 1945 của Nam Cao đều thể hiện cái nhìn con người và cuộc đời bằng con mắt tình thương, bộc lộ tấm lòng của một nhà văn đau đời và thương đời da diết.
* * *
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nam Cao tham gia tích cực công tác cách mạng, dùng ngòi bút để phục vụ kháng chiến. Khi thực dân Pháp quay lại đánh chiếm Nam Bộ, Nam Cao bứt rứt không yên, “muốn vứt bút đi để cầm lấy súng” (bút ký Đường vô Nam). Bước vào kháng chiến, Nam Cao tự nhủ “sống đã rồi hãy viết” với một niềm tin tưởng chân thành “góp sức vào công việc không nghệ thuật lúc này chính là để sửa soạn cho tôi một nghệ thuật cao hơn” (nhật ký Ở rừng).
Tuy bận rộn với công tác cách mạng và kháng chiến nhưng Nam Cao vẫn luôn khao khát có được những sáng tác văn học đích thực. Có thể hiểu vì sao trong nhật ký ghi ngày 1.3.1948, Nam Cao viết: “Mấy ngày nghỉ tết, tôi viết một truyện ngắn cho đỡ nhớ. Truyện Tiên sư thằng Tào Tháo! Nhưng sau tôi đặt cho nó một cái tên giản dị và đứng đắn hơn: Đôi mắt”1. Trong truyện ngắn Đôi mắt (1948), nhờ đã giác ngộ cách mạng, Nam Cao mới đặt ra được vấn đề cách nhìn đối với cuộc sống và con người hoàn toàn tự giác. Đôi mắt vừa kế thừa được cái nhìn của Nam Cao trước Cách mạng vừa có thêm nét mới, thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng với cuộc kháng chiến chống Pháp và sự nhạy bén của ngòi bút Nam Cao.
Nếu như trong thời kỳ Tổng khởi nghĩa, sự phát hiện ra sức mạnh to lớn của nhân dân làm cho nhiều nhà văn sửng sốt, bất ngờ đến mức “ngã ngửa người ra”, làm đảo lộn cả phương thức nhận thức quần chúng nhân dân của họ thì giờ đây, hiện thực gian khổ của cuộc kháng chiến, những vấn đề mới của quần chúng bộc lộ ra trong cuộc sống đã làm cho những nhà văn tiểu tư sản này không khỏi có lúc phân vân. Được nảy sinh trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể như thế, Đôi mắt là bản tuyên ngôn về tư tưởng, lập trường kháng chiến, khẳng định cái nhìn tích cực đối với quần chúng nhân dân, đồng thời bộc lộ quan điểm nghệ thuật của những văn nghệ sĩ tự nguyện tham gia kháng chiến. Nhà văn Tô Hoài đã coi Đôi mắt là tuyên ngôn nghệ thuật của lớp nghệ sĩ như các ông khi đó. Trong thiên truyện ngắn này, Nam Cao đã thành công trong việc xây dựng hai nhà văn có “đôi mắt”, cách nhìn, thái độ và tình cảm khác nhau đối với nhân dân và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp:
Hoàng tiêu biểu cho loại văn nghệ sĩ vẫn giữ đôi mắt cũ khi nhìn con người và cuộc sống. Dưới con mắt của Hoàng, quần chúng nhân dân chỉ là một lũ “nhố nhăng”, “vừa ngố vừa nhặng xị”, “nhiêu khê”, “thóc mách”, “toàn những người ngu độn, lỗ mãng”, “ích kỷ”, “tham lam, bần tiện”. Không chỉ những người nông dân, trong con mắt khinh bạc của Hoàng, những người ở phố cùng tản cư về cũng “thối nát, ngu ngốc, gàn dở, rởm đời”. Chỉ nhìn thấy những mặt tiêu cực của người nông dân, chỉ tiếp xúc với thứ “cặn bã của giới thượng lưu trí thức”, Hoàng trở nên rất bi quan về con người. Đối với cuộc kháng chiến, Hoàng cũng rất “bi”, “rất nản” và nếu như chưa nản hẳn có lẽ chỉ vì còn “tin vào Ông Cụ”. Hoàng cho rằng “cuộc Cách mạng tháng Tám cũng như cuộc kháng chiến hiện nay chỉ ăn vì người lãnh đạo cừ”. Điều đó cũng nhất quán trong cách nhìn của Hoàng: một khi đã nhìn quần chúng nhân dân như một đám đông ngu ngốc thì lẽ dĩ nhiên sẽ đề cao quá đáng vai trò của vĩ nhân (Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng, tâm lý sùng bái lãnh tụ Hồ Chí Minh là một nét chung của thời đại lúc bấy giờ). Bức tranh bao quát về cả một thời đại qua con mắt của Hoàng cũng toàn những sự nhố nhăng, lố bịch và hài hước. Cái nhìn đó được bộc lộ qua lời tâm sự của Hoàng với Độ: “Thế nào chúng mình cũng phải viết một cái gì để ghi lại cái thời này. Nếu khéo làm còn có thể hay bằng mấy cái Số đỏ của Vũ Trọng Phụng. Phụng nó còn sống đến lúc này phải biết!”. Thông qua những suy nghĩ của nhân vật Độ, Nam Cao đã phê phán cách nhìn phiến diện đó của Hoàng: “Anh đã quen nhìn đời và nhìn đời một phía thôi. Anh trông thấy anh thanh niên đọc thuộc lòng bài “ba giai đoạn” nhưng anh không trông thấy bó tre anh thanh niên vui vẻ vác đi để ngăn quân thù. Mà ngay trong cái việc anh thanh niên đọc thuộc lòng bài báo như một con vẹt biết nói kia, anh cũng chỉ thấy cái ngố bề ngoài của nó, mà không nhìn thấy cái nguyên cớ thật đẹp đẽ bên trong. Vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn đời thì càng đi nhiều, càng quan sát lắm, người ta chỉ càng thêm chua chát và chán nản…”.
Khuynh hướng phản ánh hiện thực có chiều sâu của Nam Cao đã hướng ngòi bút của ông vào việc phân tích, cắt nghĩa, lý giải nguồn gốc, cơ sở cách nhìn con người và cuộc đời của Hoàng. Cái nhìn nói trên của Hoàng bị chi phối bởi lập trường (cơ sở, chỗ đứng về tư tưởng, chính trị) của anh. Theo cái mạch diễn biến tâm tư suy nghĩ của Độ – nhân vật người kể chuyện – cái quá khứ của Hoàng hiện ra rất cụ thể: “Anh Hoàng là một nhà văn nhưng đồng thời là một tay chợ đen rất tài tình”, sống “phong lưu” ngay cả cái năm “đói khủng khiếp”. Anh ta đố kỵ tài năng, “vẫn có tính tự nhiên “đá” bạn một cách đột ngột”, bị “cái giới văn nghệ sĩ Hà Nội chửi” quá nhiều. Hồi quân đội Đồng Minh vào giải giáp quân Nhật ở nước ta, Hoàng bị người ta “khinh ghét” vì đã “dùng ngòi bút của mình để làm những việc đê tiện”. Hoàng đã “ra một tờ báo hằng ngày để chửi vung lên. Chửi hết cả mọi người rồi anh mới lôi đến một số bạn cũ của anh ra. Toàn là những người hiền lành, xưa nay chưa hề chạm đến một sợi tóc của anh. Nhưng tên họ trên những tờ báo của phong trào giải phóng quốc gia là anh ngứa mắt. Anh hằn học gọi mỉa họ là những nhà văn vô sản và cho họ là một bọn khố rách áo ôm đã đến ngày mả phát, ăn mặc và tẩm bổ hết cả phần thiên hạ”. Hoàng là một văn nghệ sĩ có tên tuổi mà quyền lợi ích kỷ của mình đã gắn bó quá chặt chẽ, sâu sắc với chế độ cũ. Thành ra sau Cách mạng, “anh vẫn là người cũ. Anh không chịu đổi”. Hoàng là điển hình cho loại văn nghệ sĩ không tán thành cách mạng và kháng chiến, kiên định lập trường bất cộng tác với kháng chiến, không làm bất cứ việc gì dù là nhỏ nhặt nhất.
Khác với Hoàng, Độ tiêu biểu cho những văn nghệ sĩ xem cuộc kháng chiến là của mình và tích cực tham gia kháng chiến. Đến với cách mạng và kháng chiến, Độ đã chấp nhận từ bỏ những thói quen sinh hoạt cũ, từ bỏ những quyền lợi ích kỷ của mình, từ bỏ cả cái nghệ thuật mà trước đây anh cho là “cao siêu”. Độ cũng như nhiều văn nghệ sĩ thuộc thế hệ anh đã tự giác dùng ngòi bút của mình phục vụ sự nghiệp chung của toàn dân tộc, sẵn sàng làm một anh “tuyên truyền nhãi nhép” vô danh, miễn là có lợi cho kháng chiến. Độ vui mừng trước sự đổi đời của nhân dân từ sau Cách mạng. Hòa nhập vào đời sống kháng chiến, cùng hội cùng thuyền với nhân dân, càng ngày Độ càng cảm thông, có thiện cảm và thiện chí với họ hơn. Độ đã nhận ra “nhiều cái kỳ lạ”, đã nhìn thấy những mặt tích cực và tư thế mới của nhân dân lao động trong cách mạng và kháng chiến.
Nam Cao đã lần lượt để cho từng nhân vật kể về các sự việc, qua đó để cho nhân vật tự bộc lộ cách nhìn, tư tưởng và tình cảm của mình. Có thể nói, mỗi một sự việc được đề cập đến đều hàm chứa sự “đối thoại”, “tranh luận” giữa hai quan điểm, hai cách nhìn khác nhau. Có cái nhìn đi của Hoàng và có cái nhìn lại của Độ. Cùng với những đôi mắt khác nhau ấy là những tiếng cười, những thái độ, tình cảm cũng rất khác nhau. Có tiếng “cười gằn” của Hoàng (đồng minh với nó là tiếng “cười rú lên” của vợ Hoàng) và tiếng “cười gượng”, “cười nhạt”, “cười chẳng được tươi cho lắm” của Độ. Có thái độ “bất bình”, “gay gắt”, “tức tối”, “khinh bỉ” của Hoàng nhưng lại có thái độ bênh vực, cảm thông và trân trọng của Độ. Có cái “giọng tức tối và bất bình” của Hoàng nhưng lại có giọng “cắt nghĩa”, phân bua của Độ. Không phải Độ không nhìn thấy những sự “dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương” của người nông dân, không phải Độ chưa từng gặp những anh “răng đen, mắt toét gọi lựu đạn là “nựu đạn”, hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh”… Song cái khác cơ bản giữa Hoàng và Độ là một bên nhìn quần chúng bằng con mắt “ráo hoảnh của phường ích kỷ”, còn một bên nhìn họ bằng con mắt của những người trong cuộc, bằng con mắt của tình thương, không thành kiến, định kiến với cái dở, cái ngố bề ngoài để khám phá, phát hiện ra cái bản chất, cái nguyên cớ tốt đẹp bên trong. Như vậy, trong quan niệm của Nam Cao, vấn đề “đôi mắt”, cách nhìn bao giờ cũng gắn liền với vấn đề tấm lòng, tình cảm của người nghệ sĩ. Có những nhà văn không phải không thông minh, thậm chí còn quá thông minh, nhưng vẫn không hiểu được nhân dân, hiểu được con người vì còn thiếu một cái gì đó ngoài trí thông minh – đó là tấm lòng, tình cảm gắn bó sâu nặng với nhân dân, tình thương yêu đối với đồng loại.
Truyện ngắn Đôi mắt đánh dấu một sự thay đổi cơ bản trong cách nhìn của Nam Cao đối với quần chúng nhân dân. Nếu như trước Cách mạng, ông mới chỉ nhìn những người nông dân hoặc như những nạn nhân đáng thương (Dì Hảo, Lão Hạc, Lang Rận…) hoặc vừa là nạn nhân vừa là tội nhân (Chí Phèo, Nửa đêm…) của cuộc sống cũ đầy bóng tối, thì giờ đây, ông đã nhìn họ như những con người chủ động, tích cực tạo ra thời đại mới. Nam Cao đã nhìn thấy sức mạnh to lớn của nhân dân trong cách mạng và trong kháng chiến: “Người nhà quê dẫu sao thì cũng còn là một cái bí mật đối với chúng ta. Tôi gần gũi họ rất nhiều. Tôi đã gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương. Nghe các ông nói đến “sức mạnh quần chúng”, tôi rất nghi ngờ […]. Nhưng đến hồi Tổng khởi nghĩa thì tôi đã ngã ngửa người. Té ra người nông dân nước mình vẫn có thể làm cách mạng, mà làm cách mạng hăng hái lắm…”. Qua Đôi mắt, Nam Cao đã bước đầu đặt ra quan niệm về cái đẹp, về đối tượng của nền nghệ thuật mới. Ông đã sớm nhận ra những con người có thật ở quanh ta, những người nông dân chất phác, áo vải, đi chân đất, đang hăng hái gánh cả cuộc kháng chiến trên vai của mình, đã thực sự xuất hiện. Những con người ấy sẽ bước vào văn học, trở thành nhân vật chính của văn học, nghệ thuật thời đại mới.
Tuy nhiên, ngòi bút hiện thực nghiêm ngặt của Nam Cao đã không cho phép ông che đậy một sự thực khách quan khác của đời sống. Trong cái giọng điệu gắt gắt, hằn học của Hoàng nói về nhân dân, về cách mạng, không phải không có chút xíu cảm thông và cũng không phải là hoàn toàn vô căn cứ: “Tôi thấy có nhiều ông tự vệ hay cả vệ quốc quân nữa táy máy nghịch súng hay lựu đạn làm chết người như bỡn. Nhiều ông cầm một khẩu súng lạ, không biết bắn thế nào. Như vậy thì hăng hái cũng vứt đi. Nhưng mà thôi! Nước mình như vậy, suốt đời không được mó đến khẩu súng thì làm gì biết bắn, họ đánh mãi thì cũng biết. Thì cứ để họ đánh Tây đi! Nhưng tai hại là người ta cứ muốn cho họ làm ủy ban nọ, ủy ban kia, thế mới chết người ta chứ! Nói ví dụ như cái thằng chủ tịch ủy ban khu phố tôi ở Hà Nội lúc chưa đánh nhau. Nó là một anh hàng cháo lòng. Bán cháo lòng thì nó biết đánh tiết canh, chứ biết làm ủy ban thế nào mà bắt nó làm ủy ban?”. Con mắt tinh nhạy, sắc sảo của một nhà văn đã giúp Nam Cao sớm nhìn thấy một căn bệnh ngay ở cái thời kỳ nó mới xuất hiện. Cái hậu quả của tư tưởng duy ý chí, lấy nhiệt tình thay cho tất cả, cái tai hại to lớn do sự kém cỏi về năng lực của người lãnh đạo gây nên, trong kháng chiến chưa thể hiện rõ thì trong công cuộc xây dựng đất nước sau này đã bộc lộ đầy đủ hơn bao giờ hết. Phát hiện ra một căn bệnh trầm trọng dường như mới chỉ lộ ra những triệu chứng đầu tiên, Nam Cao quả là có “con mắt tinh đời”. Cái nhìn tiên tri, dự báo ấy cũng là một phương diện của tài năng Nam Cao.
Vấn đề quan điểm, cách nhìn là một vấn đề của mỗi con người, của từng thời đại. Dựng lên hai nhân vật văn nghệ sĩ trí thức với những cách nhìn khác nhau, với những cuộc đối thoại, tranh luận như vẫn còn chưa kết thúc, Nam Cao như muốn gửi gắm sự băn khoăn và nỗi niềm sâu kín của mình: phải nhìn nhận, đánh giá nhân dân và thời đại như thế nào cho thỏa đáng, cho thật đúng đắn. Đó là cái dư vị triết lý thâm trầm, sâu xa toát lên từ thiên truyện ngắn đặc sắc này.
Cuộc đời và tác phẩm của Nam Cao, sự hi sinh anh dũng của Nam Cao trên con đường kháng chiến đã làm cho tên tuổi của ông mãi mãi vĩnh hằng với lịch sử văn học dân tộc. Lâu đài chủ nghĩa hiện thực Nam Cao gắn liền với chủ nghĩa nhân đạo, được xây dựng trên nền móng vững chắc của chủ nghĩa nhân đạo. Với cái nhìn con người và cuộc đời bằng con mắt tình thương, bằng tài năng nghệ thuật của một cây bút bậc thầy, sáng tác của Nam Cao như một dòng sông luôn chảy giữa hai bờ “chân”, “mĩ” bao giờ cũng đổ ra biển cả nhân bản, có khả năng hội nhập vào những trào lưu văn chương muôn đời của dân tộc và nhân loại.
Chú thích:
1 “Ở rừng (nhật ký) của Nam Cao”, in trong Nam Cao, Tác phẩm, tập 2, NXB. Văn học, 1977, tr. 410.