40 NĂM VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐỔI MỚI ĐẾN HỘI NHẬP (1986-2026)

Bài viết nhìn lại 40 năm văn học Việt Nam từ Đổi mới (1986) đến Hội nhập (sau 1995) trong mối liên hệ với những chuyển động lớn của lịch sử dân tộc. Tuy chưa hình thành rõ một 'đội ngũ' đủ mạnh nhưng kỳ vọng được đặt vào thế hệ 8X-9X, những người làm chủ công nghệ, thể hiện cái tôi sáng tạo nhưng vẫn đề cao ý thức gắn bó với cộng đồng và dân tộc.

   Nói Đổi mới là nói thời điểm 1986 – cách đây đã tròn 40 năm. Còn nói Hội nhập là nói thời điểm 1995 khi Việt Nam thoát khỏi thế cấm vận và gia nhập ASEAN – cách đây hơn 30 năm. Ba mươi năm hay bốn mươi năm, nhìn vào diện mạo của lịch sử, đều là những thay đổi hiếm có, thậm chí chưa từng có. Từ chiến tranh gần 40 năm chuyển sang hoà bình, từ đất nước bị chia cắt hơn 20 năm đến đất nước thống nhất, từ giao lưu hẹp (trong phe) đến giao lưu rộng..., những chuyển động như thế phải nói là rất lớn. Những chuyển động này có tầm vóc một cuộc chuyển giao tựa như chuyển giao từ thế kỷ XIX sang thế kỷ XX, đưa đất nước từ trạng thái phong bế, lạc hậu vào một cuộc Canh tân. Cách mạng Tháng Tám 1945 làm thay đổi chế độ xã hội. Tiếp tục thành quả của Cách mạng Tháng Tám và hai (hoặc ba) cuộc kháng chiến, Đổi mới - đó là một cuộc lên đường mới của dân tộc để rút ngắn những so le lịch sử giữa dân tộc và thời đại. Một cuộc lên đường, mới chỉ được khởi động từ 1990 sau khi kết thúc chiến tranh và thế giới tan băng...

   Trước những chuyển động lớn như thế trong 40 năm, văn học tất yếu phải có thay đổi. Không những văn học phải chuyển động mà còn phải góp phần dự báo, phải là người tiền trạm. Cuộc dự báo và những người tiền trạm ấy đã xuất hiện trong suốt thập niên 1980, sau hơn 5 năm kết thúc chiến tranh và lấn sang nửa đầu thập niên 1990, cho đến 1995, với những tên sách, tên người như Đứng trước biển, Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn; Gặp gỡ cuối năm, Cha và con, và... của Nguyễn Khải; Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh; Thời xa vắng của Lê Lựu; Cuốn gia phả để lại của Đoàn Lê; Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, của Ma Văn Kháng; Bến quê, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu; Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp; Ngoài khơi miền đất hứa của Nguyễn Quang Thân; Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường; Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh; Bến không chồng của Dương Hướng... làm nên khúc dạo đầu thật tưng bừng cho công cuộc Đổi mới, tính cho đến 1995...

   Sau năm 1995, văn học Việt Nam bước sang một chặng phát triển khác.

  * * *

   Cũng như bất cứ lĩnh vực nào khác của đời sống tinh thần, nói sự phát triển của văn học là nói đến một quá trình, với sự tiếp tục của nhiều thế hệ. Thời nào trong lịch sử cũng thế. Nhưng có điều cần lưu ý, thế kỷ XX, khác với bất cứ thế kỷ nào trước đó, là một thế kỷ có quá nhiều biến động, và là những biến động mang tính nhảy vọt. Nếu ở đầu thế kỷ là cuộc chuyển giao từ mô hình trung đại sang mô hình hiện đại, trong bước ngoặt từ xã hội phong kiến sang xã hội thuộc địa, thì giữa thế kỷ là một cuộc cách mạng và gần 40 năm chiến tranh nhằm giành trọn vẹn mục tiêu Độc lập, Tự do cho dân tộc; và cuối thế kỷ là một khát vọng Đổi mới, đưa đất nước vào một cuộc hội nhập lớn với nhân loại, để chuyển lên đường ray của sự phát triển. Trước những biến động lớn như thế văn học không thể đáp ứng bằng một sự phát triển tiệm tiến, bình thường. Mà phải bằng những nỗ lực lớn mang tính chuyển đổi cách mạng. Để có đủ tiềm lực và hành trang cho một chuyển đổi mang tính cách mạng như thế, văn học, cũng như bất cứ lĩnh vực nào khác, kể cả kinh tế, chính trị, cần đến những lực lượng trẻ; mà nói trẻ là nói đến những thế hệ trên dưới tuổi 30, thậm chí là 20. Đó là tuổi 20 và ngưỡng 30 của Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Bích Khê, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Bính, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tố Hữu, Tô Hoài, Anh Thơ, Tế Hanh... làm nên thành tựu mang tính nhảy vọt của thời kỳ văn học 1930-1945. Đó cũng là tuổi 20 của Phạm Tiến Duật, Đỗ Chu, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Lưu Quang Vũ...; của Triệu Bôn, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Vương Anh, Y Phương, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ...; của Nguyễn Khoa Điềm, Lê Anh Xuân, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Nguyễn Duy...; của Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng, Anh Ngọc, Thanh Tùng, Thi Hoàng, Trần Nhuận Minh... làm nên thành tựu văn học thời kỳ 1960-1975. Chuyển sang thời Đổi mới, một thế hệ trẻ như thế là chưa thể xuất hiện ngay, mà phải được chuẩn bị, trong sự tiếp nối của hơn một thế hệ chuyển tiếp, kể từ Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu...; qua Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nhật Tuấn, Chu Lai, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Trí Huân, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Bảo, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tạo, Dạ Ngân, Bảo Ninh,... rồi Nguyễn Quang Lập, Võ Thị Hảo, Nguyễn Quang Thiều, Trần Đăng Khoa, Inrasara, Dương Thuấn, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Thùy Dương, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh... Một thế hệ trẻ ở tuổi ngoài 20, rồi 30, thuộc thế hệ 7X và 8X - để có thể làm nên, hoặc làm chủ gương mặt văn học sau 1995, rồi sau 2000, đó là điều chưa dễ xác định, dẫu những tên tuổi gây ấn tượng trong họ thì lúc nào cũng có, kể từ Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Bích Lan, Nguyễn Ngọc Thuần, Đỗ Bích Thuý, Phan Triều Hải, Phan Hồn Nhiên, Phan Việt, Nguyễn Đình Tú, Văn Cầm Hải, Vũ Đình Giang, Nguyễn Xuân Thủy, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Lưu Sơn Minh, Phan Huyền Thư, Vi Thuỳ Linh,... Thế nhưng, nhìn trên tổng thể thì dường như sự tiếp tục này, trong tư thế một đội ngũ là chưa thật rõ lắm. Họ có thể rất đông đúc và gây nhiều ồn ào; có thể xuất hiện hàng ngày trên báo, đài trong chủ ý tuyên truyền, quảng bá của hệ thống thông tin đại chúng; có thể gợi lạ, hoặc gây “sốc” cho người đọc, để làm cồn lên dòng chảy đã có; nhưng để làm nên một dòng chảy mới như các thời kỳ trước thì chưa hẳn đã có. Đó là điều, theo tôi, làm cho gương mặt văn học từ Đổi mới sang hội nhập, trong nửa sau của nó, kể từ mở đầu thế kỷ XXI đến nay, với độ dài chẵn 25 năm còn chưa gây được một ấn tượng mạnh mẽ, vượt trội, tưng bừng, ngoạn mục, trong so sánh với các mùa gặt lớn của lịch sử và trong tương quan với thời cuộc.

   Từ tình hình trên, tôi nghĩ đến một thế hệ viết mới là đại diện đích thực cho văn học tương lai – vừa là sản phẩm lại vừa là chủ thể của chính hoàn cảnh hôm nay; một thế hệ mới trong tư cách một đội ngũ, vừa làm chủ được các phương tiện thông tin, vừa tiếp cận và tiếp nhận được tinh thần và dấu ấn thời đại.

   Một thế hệ không chỉ ở lứa tuổi 7X và 8X đang là chủ lực hôm nay mà phải là 9X, hoặc nửa sau 9X.

   Chỉ riêng thế hệ nửa sau 8X và nửa đầu 9X, nếu theo dõi thị trường sách thì đó là cả một biển sách, mà sức tôi không thể nào bám xuể, dẫu biết chắc trong đó có rất nhiều cái hay, cái mới, cái lạ.

   Phải một thế hệ như thế, với bản lĩnh cá nhân và sức mạnh của đội ngũ mới có thể đưa đời sống văn học vào một bước ngoặt mang tính cách mạng như đã từng diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XX; và đang tiếp tục được đón đợi, với quy mô và tầm vóc lớn hơn, vào nửa đầu thế kỷ XXI; tôi tin tưởng là thế.

   Và với thế hệ đó, mọi đường biên hoặc đường viền cho văn học dường như đang được nới rộng ra và được đẩy xa hơn về phía trước, khiến cho viễn cảnh của nó bỗng trở nên mơ hồ, khó hình dung, nhưng do thế mà càng hấp dẫn.

* * *

   Trở về với thời điểm hôm nay, khi mà trách nhiệm lịch sử đang được chuyển sang thế hệ 8X và 9X, phần lớn đều không mang Thẻ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Đó là thế hệ mà chiến tranh và chủ nghĩa xã hội, rồi chủ nghĩa xã hội thời hậu chiến, chỉ còn là một hồi quang qua ký ức của người thân và sách vở.

   Nói cách khác họ được hưởng một bầu khí quyển khác, để có thể tuyệt đối yên tâm trong cốt cách của mình, trong mục tiêu đi tìm cái riêng, cái cá nhân, cái khác biệt cho mình. Họ đã hết bị vướng víu bởi cái Ta hoặc cái Chúng ta như bao thế hệ cha ông, qua nhiều chục năm, do áp lực của các loại cộng đồng lớn, nhỏ khiến cho cái Tôi riêng không chỉ là nhỏ bé, mà còn trở nên cô đơn, lạc loài… Bây giờ thì bất cứ ai cũng đều có quyền thỏa sức đi tìm cái riêng, cái khác, cái để được là mình. Vấn đề là cái riêng ấy có va chạm, xung khắc hoặc đối nghịch gì với cộng đồng, những cộng đồng không thể tách rời như Tổ quốc, như Nhân dân, mà những người mang danh hoặc nhân danh là nhà văn, vẫn cần và càng cần sự gắn bó.

   Cuối cùng, nhìn tổng thể văn đàn thế kỷ XX, trước và sau cột mốc lịch sử 1986 – đó là sự tiếp nối và đồng hành của dăm bảy thế hệ viết – kể từ bút lông, sang bút sắt (hoặc bút bi) đến bàn phím; và bây giờ là thời thống trị tuyệt đối của bàn phím. Trong một thế giới đang được kết nối và với vai trò con người cá nhân nổi lên bên cạnh vai trò của các quốc gia, các cộng đồng dân cư, mỗi cá nhân có thể vươn ra toàn cầu theo cách riêng của mình để sáng tạo, thông qua hàng loạt phương tiện mới của “thế giới phẳng” như công cụ tìm kiếm (Google), phần mềm xử lý công việc (Workflow), khả năng tải lên mạng (uploading), từ điển wikipedia, trí tuệ nhân tạo AI; với những khả năng như thế cho bất cứ ai làm chủ được phương tiện thông tin thì mọi yêu cầu gọi bằng “cởi trói” cho tự do sáng tạo, cho khát vọng của cá nhân sẽ trở thành câu chuyện thừa. Trong một thế giới như thế, văn học cũng như mọi lĩnh vực hoạt động tinh thần khác cũng phải biến đổi; và sứ mệnh đó đang được giao cho một thế hệ mới, thế hệ tuổi từ 20 đến trên dưới 30 như trên đã nói, được xem là thế hệ @ trên khắp các lĩnh vực khoa học và nghệ thuật. Là người chứng kiến và có tham gia ít nhiều vào hành trình văn học của thế kỷ XX đã qua, tôi rất khao khát được thấy sự xuất hiện của họ trong tư cách một đội ngũ vừa tinh anh vừa hùng hậu, rất khác nhau trong phong cách mà vẫn không nhòa mờ một khát vọng chung của Nhân dân, của Dân tộc; và một gương mặt chung in đậm tinh thần và dấu ấn thời đại.

Bình luận

    Chưa có bình luận