TÌM KIẾM NHỮNG BẢN DẠNG TRONG KÝ ỨC VỀ “QUÊ HƯƠNG” CỦA NHÀ VĂN NỮ PHÁP GỐC VIỆT

Bài viết phân tích cách nhà văn nữ Pháp gốc Việt Kim Lefèvre kiến tạo và biểu đạt ký ức về quê hương trong cuốn tiểu thuyết tự truyện đầu tay của bà, thông qua việc tìm kiếm những bản dạng. Ở lối viết này, cái thực đan xen với yếu tố tưởng tượng, quá khứ đan cài vào hiện tại, sự âu yếm hòa quyện cùng niềm cay đắng. Chính sự chồng lớp ấy làm xuất hiện trong câu chuyện một trạng thái đặc thù gọi là sự 'hiện diện vắng mặt' của quê hương.

   Là một trong số các nhà văn nữ Pháp gốc Việt thành danh thời đương đại, Kim Lefèvre (1935-2021) đã có thành tựu đáng kể khi xuất phát từ chính số phận của riêng mình để viết về Việt Nam ở độ tuổi chín muồi. Bà viết về quê hương như một phần ký ức thời trẻ để hóa giải những nỗi đau của quá khứ, để hòa giải với cái “tôi” của tuổi trẻ. Bởi thế, tiểu thuyết tự truyện Cô gái lai da trắng đã kết thúc bằng những dòng chữ khép lại chặng đường của cuộc sống tại Sài Gòn, nơi nhân vật để lại tuổi ấu thơ của mình. Cô gái là nhân vật chính xưng “tôi” rời Việt Nam để sang Pháp du học theo một học bổng của Chính phủ. Những hình ảnh của giờ phút chia tay cũng là những điều đã được kể lại một cách chi tiết trong những trang đầu tiên của câu chuyện: lũy tre, ao quê, lưng trần bà vú già, mưa phùn Hà Nội... Quê hương trở thành một thứ khách thể của ký ức, của trí nhớ mà chủ thể muốn tái tạo lại. Kỷ niệm được nhắc lại một lần nữa ở những phút cuối của chặng hành trình cũng như cuốn sách như cho thấy Việt Nam đã tạo ra một phần quan trọng nhất trong đời sống của người kể chuyện. Nhưng phần quan trọng đó đã hoàn toàn thuộc về quá khứ. Giờ đây trong mạch hồi tưởng, quê hương là khách thể đối với “tôi” kể chuyện.

   Mạch kể được chia thành 17 phần gắn với những sự kiện và con người mà nhân vật chính cho là quan trọng nhất với phần đời của mình ở Việt Nam: những ngày phiêu bạt, trại trẻ mồ côi, tình cốt nhục, đứa trẻ lạc loài, người cha dượng, trưởng thành, đời sống kháng chiến ở Nha Trang, gặp lại bà dì Odile ở Sài Gòn, người yêu đầu tiên, tờ giấy khai sinh xác nhận sự tồn tại hợp pháp, tham gia dàn nhạc, người thầy dạy nhạc như người tình đầu tiên, đời sống ở trường nội trú, mẹ đỡ đầu, tu viện Chim Non, cuộc sống tự chủ ở Sài Gòn và bước ngoặt du học. Toàn bộ câu chuyện được kể lại như chứa đựng đầy những kỷ niệm về một Việt Nam trong quá khứ của nhân vật nữ chính. Câu chuyện có vẻ như được kể theo tuyến tính nên trở thành cách thể hiện rõ nhất mạch quan hệ giữa những gì được kể. Hành vi viết, viết lại, xây dựng dữ kiện, biên soạn những dữ kiện này là một quá trình tìm lại quá khứ dựa trên những giả định, những khao khát, những mong muốn quan trọng nhất đối với người viết ở thời điểm hiện tại, thời điểm viết tác phẩm. Được định danh là “tự truyện” (autobiographie), tiểu thuyết này bao gồm những dữ kiện có thật nhưng được liên kết với nhau bằng lời kể mang đậm sự hư cấu. Lời kể hư cấu chứa đầy đủ các chi tiết sống động đến mức không dễ phân biệt. Nói về tính “có thực” của những điều đã viết trong tự truyện này, Kim Lefèvre thẳng thắn: “Nếu tôi phải ra trước tòa để tuyên thệ, nói rằng đó có phải sự thực hay không, tôi sẽ không thể, vì vừa là thật, vừa là những gì tôi đã vay mượn để nói những điều còn thật hơn cả cái hiện thực đã diễn ra, tôi mượn những thứ của người khác […] Nên ta muốn, khi làm một công việc nghệ thuật hay văn chương, ta luôn phải làm lại, phải tái kiến tạo thực tại để cho cái thực tại ấy còn khớp hơn nữa với cái sự thực của mọi chuyện”1. Bà dẫn lại ví dụ của những ngày ở tu viện Chim Non được kể lại trong tiểu thuyết khiến cho bạn bè khi đọc đều ngạc nhiên vì hình như chi tiết đó không thực sự đã tồn tại nhưng đều thừa nhận “đúng là như thế đấy”; hay để nói về cái đói trong những năm tháng tuổi thơ, bà đã tạo ra một tình huống những đứa trẻ soi mói bát cơm của nhau xem ai nhiều hơn. “Đó là mối quan hệ giữa những sự việc đã diễn ra với cái sự thực trải qua”2. Khá đặc trưng cho lối kể dựa trên các dữ kiện có thật được liên kết bằng sự hư cấu là ví dụ về so sánh những “bầu vú” trong chương 5. Người kể nhắc đến những bà mẹ nghèo rơi vào vòng luẩn quẩn phải cố gắng sinh con để có sữa đi nuôi con người. Bởi thế, đàn con thơ của họ thì đói, còn họ “chỉ có da bọc xương, gầy đến phát sợ; người chị như một cái cây khô đeo lủng lẳng hai quả to đùng là cặp nhũ hoa”. Bỗng nhiên tác giả “nghẹn ứ” vì nhớ đến “bộ ngực nở nang quá cỡ của Jayne Mansfield” trong những bức ảnh ở miền Nam của thập niên 50. Trong một trường hợp khác, đó là sự ấm ức và tức giận của người kể chuyện khi nhắc lại thường bị anh họ Yves quấy rối theo lối trẻ con. Cách xây dựng lối kể dựa trên việc liên kết các dữ kiện còn lại trong trí nhớ đã tạo ra một thứ từ trường diễn giải bao quanh cốt truyện về cuộc đời trưởng thành của cô bé lai trong xã hội thuộc địa, từ đó định hình những cách diễn giải mà người viết muốn người đọc đi theo, tựa như thứ “ảo tưởng tiểu sử” (illusion biographique) của P. Bourdieu: “Tạo ra một câu chuyện cuộc đời, xử lý cuộc đời như một câu chuyện, nghĩa là như truyện kể nhất quán, gồm một chuỗi các sự kiện có ý nghĩa và có định hướng, đó là tuân theo một ảo tưởng tu từ, theo một sự biểu đạt chung của sự tồn tại, mà cả một truyền thống văn chương đã và đang không ngừng nhấn mạnh”3. Chúng tôi cho rằng “ảo tưởng tiểu sử” được tạo nên trong một tiểu thuyết tự truyện từ việc tập hợp các dữ kiện theo một chiều hướng nhất định, một cấu trúc cho phép tạo ra những ý nghĩa mà người kể muốn hướng đến hoặc từ đó người đọc tự kiến tạo ra những giá trị riêng mình. Ảo tưởng tiểu sử mà người kể chuyện “tôi” ở đây nhắc đến là những sự hiện diện vắng mặt của quê hương như là khách thể trong câu chuyện của một cô gái lai. Khách thể đó có những gương mặt khác nhau khi được tái kiến tạo trong ký ức văn chương. Jack Yager đã chỉ ra hai phiên bản ký ức trong bài viết của ông về “sự tồn dư của những hình ảnh” của hậu tiểu thuyết tự truyện này khi Kim Lefèvre tới Pháp, “mảnh đất của cha”4. Có tới hai phiên bản khác nhau, nhưng chưa xuất bản, về chuyến lưu trú của nhà văn vào những năm sáu mươi tại nhà bố mẹ một người bạn cùng lớp tên là Anne Marie ở một ngôi làng Thụy Sĩ. Hai phiên bản đó cho thấy những khả thể của một chủ thể sáng tạo văn chương dành cho khách thể quá khứ là quê hương.

   Câu chuyện được nhân vật “tôi” kể là của một cô gái lai có hai dòng máu, Pháp và Việt, vào những năm đầy biến động lịch sử của Việt Nam, từ 1935 đến 1960. Cách kể tự truyện dùng đến những tham chiếu như những dòng miêu tả nhân học thường gặp trong sách vở phương Tây nhằm nhận diện một nền văn hóa: “khái niệm thời gian định lượng không hề tồn tại”, “đời người đàn bà chỉ cần chia làm mấy giai đoạn lớn: thời thơ ấu, rồi lúc thấy kinh - dấu hiệu có thể sinh con, và nghĩa là sắp lấy chồng được, rồi làm mẹ, mà nếu may mắn sinh được một đứa con trai thì sẽ làm mẹ chồng để có cái quyền áp chế một nàng dâu e lệ bước vào nhà mình”. Không khí có vẻ đầy quyến rũ với người đọc Pháp bởi những “cliché” xa lạ, mơ hồ. Điều này có liên quan đến lý do dùng tiếng Pháp để viết: “Tôi không hề nghĩ là viết cho người Việt Nam. Lý do mà tôi viết cuốn sách này, đó là cho độc giả Pháp – những người đã đọc nhiều sách về Đông Dương – thấy và biết một mặt khác của sự việc, một góc nhìn khác là góc nhìn Việt Nam. Chính là cho người đọc Pháp mà tôi đã viết và tôi cực kỳ ngạc nhiên biết là người Việt Nam cực kỳ thích cuốn sách”5. Không khó để nhận ra rằng đằng sau những miêu tả dân tộc học này là một điểm quy chiếu văn hóa gốc của người miêu tả. Khuôn mẫu văn hóa mở đầu câu chuyện về cuộc sống trong quá khứ đã tạo nên thứ không khí đặc trưng chuẩn bị cho người đọc cùng “tôi” tìm lại những điều “đã mất”. Motif truy đuổi cái đã qua, “tìm lại thời gian đã mất” không chỉ mang tính phổ quát với mọi nền văn học mà còn đặc trưng với tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX sau kiệt tác của M. Proust với cái “tôi” kể chuyện. Trong câu chuyện tìm kiếm lại quá khứ đã mất này, có lẽ “tôi” kể chuyện của Kim Lefèvre muốn truy tìm những bản dạng của mình ở một xứ sở, một đất nước rất xa xôi. Cái xứ sở đó trong ký ức của “tôi” kể chuyện đã bị mờ đi rất nhiều như được nhấn mạnh nhiều lần: “Tôi không biết…”, “Tôi không còn lưu giữ chút ký ức…”, “Tuổi ấu thơ của tôi chỉ còn là bóng đêm trong ký ức”. Mọi dấu ấn quá khứ dường như đã bị xóa nhòa, vì thế trở nên khiếm diện, vắng mặt. Sự lãng quên ký ức là những điều kiện đầu tiên của một tiểu thuyết tự truyện và là cơ sở cho những sự tìm kiếm của hiện tại đối với quá khứ. Cách truy tìm quá khứ của “tôi” thực ra không hề theo dòng tuyến tính mà luôn có những sự liên tưởng vượt trước thời gian. Khi nói về những anh họ Yves với những trò “quấy rối” hay hành hạ kiểu trẻ con trong chương đầu tiên, “tôi” nói về hình ảnh của Yves hai mươi năm sau khi gặp lại ở Sài Gòn. Hình ảnh đó là một thứ “dữ kiện” không thể phai mờ dù không chính xác hoàn toàn và nhân vật Yves hiện ra “thấp thoáng” trong một lối đi giữa hai hàng me, một bãi cỏ điểm xuyết những bụi râm bụt. Cuộc gặp với nhân vật đó sẽ không hề được nhắc đến trong chương “tôi” kể lại đời sống ở Sài Gòn, bởi không hề đóng bất kỳ vai trò đủ quan trọng cho ký ức được kể, cho những “diễn giải” về quá khứ. Cuộc gặp không lớn về mặt sự kiện trần thuật nhưng đủ quan trọng về mặt ký ức để cho thấy sự hiện diện vắng mặt của những kỷ niệm mơ hồ. Như vậy, trong một câu chuyện được kể lại về quá khứ, mọi dữ kiện đều được lựa chọn để xuất hiện đúng lúc, để tạo nghĩa. Bởi thế, người ta cần chối bỏ tính khách quan, đích xác mà người ta có thể trông chờ ở tiểu thuyết tự truyện. Song, dù thế, câu chuyện vẫn chân thực vì những diễn giải mà người kể mang đến cho các dữ kiện đó.

   Chỉ có tên chính thức là “Lam Kim Thu” như được viết trong bản tiếng Pháp theo họ của người cha dượng, nhân vật nữ trung tâm đã trải qua rất nhiều những biến cố như là các thử thách khó hình dung đối với một đứa trẻ bình thường. Cô bị hắt hủi bởi hầu như tất cả họ hàng từ phía người mẹ Việt, bị ghẻ lạnh từ người cha dượng gốc Hoa, bị lạm dụng bởi một số đàn ông trong xã hội gia trưởng, bị chê bai bởi một số bạn bè, thường xuyên bị hoàn cảnh đưa vào những tình huống khó xử do là con lai… Cách kể chuyện xưng “tôi” mở đầu câu chuyện này càng có thể khiến người đọc dứt khoát coi tiểu thuyết này như một thứ tự truyện. Ngay trong cái tên khai sinh hợp pháp của nhân vật như được ghi trong bản tiếng Pháp đã có chút mơ hồ, dù chỉ là từ những nguyên do kỹ thuật: cô tên là Lâm Kim Thu, Lam Kim Thư, Lam Kim Thu hay là Lâm Kim Thư hoặc cũng có thể là Kim Lâm Thu, Kim Lâm Thư, Kim Kim Lam Thư?… nếu ta đối chiếu với cái tên hiện tại của tác giả là Kim Lefèvre. Hàng loạt khả năng tổ hợp xuất hiện trong tiếng Việt dựa trên những khả năng hữu hạn của tiếng Pháp cho thấy những sự không tương thích giữa hai nền văn hóa, hai thời đại mà một cá nhân là cầu nối, bởi văn bản tiếng Pháp thiếu đi những dấu chỉ thanh đặc trưng của tiếng Việt, người đọc hầu như không thể đoán định được. Đọc tới chương 10 của câu chuyện bằng tiếng Pháp nói tới sự kiện giấy khai sinh của nhân vật nữ chính, người đọc Việt đối với văn bản tiếng Pháp có thể phân vân với những lựa chọn mà một người đọc Pháp không hề băn khoăn. Còn người đọc Pháp lại dễ dàng nhận ra rất nhiều những hình ảnh quen thuộc với họ về Việt Nam trong cuốn tiểu thuyết của Kim Lefèvre. Chúng là những “cliché” vẫn thường thấy. Điều khác biệt mang vẻ kỹ thuật thuần túy này cũng là một phần tạo nên sự hiện diện mà vắng mặt của những điều mà nhân vật nữ chính tìm kiếm trong câu chuyện của mình.

   Tên chính thức của nhân vật như là được ghi trong giấy khai sinh tạo nên cái mà chúng tôi gọi là bản dạng công dân. Nhân vật “tôi” tìm lại trong quá khứ điều mà người ta có thể gọi là bản dạng công dân, “national identity”, hay vẫn thường được gọi là “căn cước công dân”. Như “tôi” kể lại trong những trang đầu, khi còn nhỏ thì “tôi” có họ “Trần” của mẹ, rồi sau đó là “Tiffon” của người cha Pháp để có thể được vào trại trẻ mồ côi của lính Pháp. Nhưng nhân vật nữ có vẻ chỉ tìm được điều này khi 15 tuổi, khi cô cần được đến trường học một cách hợp pháp. Suốt cả một quãng đời trước đó, như nhiều người Việt Nam của xã hội thuộc địa quanh cô, bản dạng công dân gần như không tồn tại. Việc có một cái tên trong khai sinh xác nhận sự tồn tại về mặt xã hội của một cá nhân. Nhưng điều đó không có ở một xã hội thuộc địa đối với những người dân thuộc tầng lớp dưới hoặc đối với những sự khác biệt về giới, về sắc tộc. Họ không có quyền cần đến dịch vụ công ích nên sự tồn tại về mặt xã hội hoàn toàn bị bỏ quên. Nhân vật nữ của tiểu thuyết phải nỗ lực tìm kiếm điều này cho riêng mình và chỉ ý thức rõ về sự thiếu vắng này khi cần bước vào thiết chế giáo dục của chính quyền vùng chiếm đóng. Người mẹ Việt đã nỗ lực hết sức để đưa đến cho “tôi” bản dạng công dân như một sự tồn tại hợp pháp. Song sự hợp pháp đó lại có vẻ như không hợp thức bởi có những sự xung đột rõ ràng đưa đến những tình trạng đặc biệt mà đứa trẻ phải đối mặt, như tình thế này: “Bố cháu là người Việt ư? Thiên hạ hay hỏi tinh quái như thế. Tôi đáp lạnh lùng: Không, bố tôi người Hoa”. Khắc họa lại một tình thế đầy éo le dựa trên những dữ kiện còn lại trong ký ức, người kể chuyện còn muốn diễn giải rõ hơn sự bấp bênh của những lựa chọn bản dạng mà cô đã trải qua, bất chấp sự hợp pháp được trao cho bản dạng công dân khi tròn mười lăm tuổi.

   Trong mười lăm năm trước đó, không phải đây là lần đầu tiên mà người mẹ làm việc đó, không phải lần đầu tiên “tôi” bước vào thiết chế giáo dục của chính quyền. Cuộc đời phiêu bạt đã đưa đứa trẻ lai năm tuổi đi từ Hà Nội lên Tuyên Quang, rồi vào Sài Gòn trước khi đến với trại trẻ mồ côi – một thiết chế giáo dưỡng và giáo dục của chính quyền thuộc địa. Người mẹ đã bị em trai mình ép phải đưa đứa con gái đầu lòng vào trại trẻ vì “cái thứ máu Tây của nó sẽ lấy oán trả ơn cho mà xem. Nó là thứ hạt giống xấu, nó sẽ phản lại chị”. Đó chẳng phải ý kiến của riêng mình cậu Trí mà của chung tất cả những người Việt Nam “thuần túy” khi đó, nghĩa là những người không có chút liên quan đến người Pháp, đến lính lê dương, đến chính quyền thực dân. Ông thầy bói như một đại diện của niềm tin dân gian cũng nói như thế. Những tiếng nói đó không hợp pháp nhưng hợp thức đặt đứa trẻ lai ra ngoài cộng đồng những người Việt thuần túy. Để vào được trại trẻ mồ côi, đứa trẻ lai cần có một xác nhận có những liên hệ với cộng đồng Pháp kiều. Cái giá cho sự xác nhận này là “cam đoan từ bỏ mọi quyền của người mẹ, không bao giờ tìm con hay đòi con nữa” và từ nay đứa bé được hiến “cho Nhà nước Pháp có khả năng hơn để giúp nó có một tương lai”. Bản dạng công dân của đứa trẻ sáu tuổi được xác định đã thuộc về nước Pháp với tên gọi Eliane Tiffon và số hiệu 238. Dù bản dạng công dân này chỉ tồn tại trong hai năm ngắn ngủi của thời gian đứa trẻ lai sống trong trại trẻ mồ côi và dù nó cũng không hoàn toàn chính danh nhưng hẳn là nó đã góp phần định hình cái nhìn của đứa trẻ về thế giới, cho thấy sự tồn tại của một cộng đồng lai của xã hội Việt Nam trước 1945 mà hầu như ít được nhắc đến: “Cả đám con gái ấy không có đứa nào là người Việt cả, mà đều là những đứa con lai như tôi. Phần nhiều da nâu, nhưng cũng có đứa tóc sáng, mắt trong như mắt mèo”. Cả quãng thời gian sống với bản dạng của công dân lai gắn với nước Pháp, đứa trẻ có tên Eliane Tiffon hoàn toàn đắm mình trong không khí của nước Pháp, của những hoạt động và đời sống thuộc về nước Pháp: học bằng tiếng Pháp theo sách vở của nền giáo dục Pháp, chỉ nói tiếng Pháp, tham dự lễ Noel, đi tắm biển… Trong một quãng đời ngắn ngủi chưa đầy mười năm như thế, bản dạng công dân được xác lập cho đứa trẻ lai biến đổi tùy theo hoàn cảnh và cả mong muốn của những người thân. Đứa trẻ lai từ hoàn toàn tự nhiên, thuần khiết thành một công dân của đế chế Pháp, rồi của nước Việt Nam. Đứa trẻ đó được dạy trong trại trẻ mồ côi và sau này trong nhà tu, rằng ngày nào “cũng phải cầu nguyện cho nước Pháp thắng lợi. Người ta giảng giải cho chúng tôi rõ ràng rằng nước Pháp là bà mẹ nuôi dưỡng chúng tôi, là Tổ quốc của chúng tôi. Chúng tôi phải hướng lòng mình về nước Pháp”. Song cái bản dạng công dân này trở nên không hợp pháp sau thời cuộc lịch sử vào năm 1945. Đứa trẻ phải từ bỏ cái bản dạng công dân Pháp để quay trở lại bản dạng phi quốc tịch của mình khi Việt Nam đứng trước cuộc chiến giành độc lập. Song hành với cuộc chiến ngoài kia là cuộc chiến mà đứa bé phải đối mặt: “Tôi không thể khẳng định được cái bà ngồi kia có thật là mẹ tôi không. Trong trí nhớ của tôi, mẹ tôi là cái bóng trắng trẻo, mềm mại đã từng đến trước mặt tôi một ngày rực nắng”. Đứa bé lai cần nhận diện lại bản dạng của mình theo người mẹ nhưng thời gian và thiết chế giáo dục đã làm nhòe đi hình ảnh thật sự của bà mẹ. Câu trả lời bằng tiếng Pháp với mẹ bề trên về “người đàn bà trẻ cũng mặc áo dài đen, ngồi trên ghế mây” đến nhận đứa bé tên Eliane Tiffon là một sự từ chối phũ phàng: “Con không biết”. Việc không nhận ra tức thời người mẹ Việt Nam có lẽ là một “sự kiện” đã khắc ghi vào trí nhớ non nớt của đứa trẻ. Sự kiện đó xác nhận rằng bản dạng công dân đầu tiên mà hai mẹ con tìm kiếm là hướng đến nước Pháp chứ không phải Việt Nam. Những gì mà “tôi” kể về cảm xúc của bà mẹ, về nỗi lo lắng, sự ân hận của đứa bé lai sau đó… với nhiều chi tiết là hoàn toàn thuộc về phần hư cấu của người kể Kim Lefèvre. Sự xuất hiện của chị Germaine như một người bạn là điều kiện để đưa đứa bé lai có bản dạng gần giống công dân Pháp trở lại với xứ sở Việt Nam đang giành độc lập của cụ Hồ Chí Minh. Chính người mẹ Việt Nam mới là người gợi ý đến Germaine như là một cách đưa cô con gái lai trở lại với bản dạng công dân phi quốc tịch của một xứ sở Việt Nam tiền hiện đại, để giành lấy con gái của mình khỏi chính quốc, khỏi quốc gia mà cha nó mang quốc tịch. Bản dạng quốc tịch không phải một thứ đương nhiên có sẵn, đặc biệt dễ thay đổi đối với những tình thế lịch sử bước ngoặt, đối với những cá nhân khác biệt trong cộng đồng. Đứa bé lai mà Kim Lefèvre kể sống vào những thời khắc lịch sử của nước Việt Nam là một trường hợp như thế. Cuộc đời của nó ở Việt Nam sẽ được kể lại từ một điểm nhìn rất xa, cả về không gian lẫn thời gian, của tác giả Pháp gốc Việt. Chính bởi cái điểm nhìn rất xa đó mà có nhiều hình ảnh mập mờ, như không có thực. Chẳng hạn ngay sau buổi gặp gỡ này, người kể phác ra một bức tranh đầy những mơ hồ, tưởng tượng về những cảm xúc đầy mâu thuẫn: quyến luyến với trại trẻ mồ côi nhưng trại trẻ mồ côi lại tạo ra những đứa trẻ mồ côi về tình cảm; bối rối và “sợ” khi gặp lại mẹ vì cảm thấy “ngường ngượng” bởi chưa hề có kinh nghiệm về tình âu yếm mẹ con nhưng lại có “quấy khóc của tôi cứ như một đứa trẻ sơ sinh”. Ngay cả sự quấy khóc và tiếng ru của mẹ cũng chỉ là những gì được mẹ kể lại khi “tôi” đã lớn và đi theo “tôi” sang Pháp. Đó là một thứ “ký ức về ký ức”, tức là những ký ức độ hai. Có lẽ việc kể lại chúng ở dạng thức mơ hồ với nhiều giả định cũng là một nỗ lực chữa lại những vết thương tưởng tượng vào thời điểm câu chuyện được viết lại: “Sau này, mẹ kể lại rằng đêm ấy những cơn vật vã quấy khóc của tôi cứ như một đứa trẻ sơ sinh làm cho mẹ vô cùng lo sợ. Còn đối với tôi, đêm ấy chỉ lưu lại kỷ niệm về một nỗi đau đớn khôn cùng”. Nỗi đau đó có thật không thì cũng không thể chắc chắn bởi có những khẳng định sau đó bị phủ nhận bởi chính người kể: “Đêm thân thương đó của hai mẹ con cũng là lần duy nhất tôi được biết thế nào là tình mẫu tử ruột rà. Chứ từ đấy về sau, cuộc sống cứ buộc mẹ tôi phải giả đò lạnh nhạt với tôi”. Thế mà sau đó cô bé lai vẫn có rất nhiều những giây phút bên mẹ. Điều chắc chắn nhất là nó đã được Kim Lefèvre kể lại từ điểm nhìn hiện tại của một nhà văn tại nước Pháp. Dường như vô vàn khoảnh khắc sống động của quá khứ khắc rất sâu vào trong tâm trí của đứa trẻ lai, đến mức nó luôn coi đó như là những kỷ niệm duy nhất, nổi bật.

   Trong cuộc phỏng vấn với B. Pivot trên truyền hình nhân giới thiệu cuốn tiểu thuyết của mình, Kim Lefèvre nói rằng: “Khi tôi tới Pháp và nói rằng tôi là người Việt Nam, mọi người tin ngay tức khắc. Trong khi ở Việt Nam, nếu tôi nói rằng mình là người Việt Nam thì ai cũng nhìn tôi và nói, không, cô không phải người Việt Nam, cô là người lai6. Trở lại trạng thái ban đầu dựa trên đặc tính tiền đề của bản dạng công dân là bản dạng sắc tộc. Đó là thứ bản dạng tự nhiên, không thể tạo ra bởi xã hội như chính những lời kể mở đầu tiểu thuyết về đời sống thuộc địa: “Tôi không biết cái ông sinh ra tôi trông giống ai. Mẹ tôi chẳng nhắc đến ông ta bao giờ. Trong những ngày buồn chán, tôi thích tưởng tượng, hình dung ông ta như một tay lính lê dương, không phải “chàng lê dương đẹp trai của em” như lời bài hát ở xứ Pháp này đâu, mà là một tay thực dân ngổ ngáo, đáng ghét, một kẻ thuộc phe kia. Tôi nung nấu mối hận thù mãnh liệt với người cha không hề biết mặt ấy, dường như chỉ những đứa con bị tổn thương đến cùng cực mới có thể hận thù được đến như vậy”. Trong lời kể này, có hai dữ kiện quan trọng là sắc tộc của cha mẹ và việc không biết mặt người cha. Nhân vật chính do vậy là một đứa trẻ lai đang viết lại, nhớ lại, tìm lại quá khứ bằng liên kết các dữ kiện đã có giống như cách mà người ta vẫn gọi là “sáng tác”. Đó chính là những diễn giải về quá khứ, về cảm xúc và mối quan hệ với hai đấng sinh thành ra mình. Gắn với bản dạng sắc tộc “tính lai” của nhân vật là những cảm xúc, suy nghĩ: “mối hận thù mãnh liệt” của “những đứa con bị tổn thương đến cùng cực”. Như vậy, bản dạng sắc tộc là vấn đề cốt yếu, mối quan tâm chính mà câu chuyện của Kim Lefèvre hướng tới. Đó là một thực tại tự nhiên không thể thay đổi và là một “hòn đá thử vàng” cho các định kiến xã hội. Như chính lời kể mở đầu tiểu thuyết, thực tại này đã trở thành một yếu tố gây chấn thương mạnh mẽ cho đứa trẻ lai trong xã hội thuộc địa. Bản dạng sắc tộc do vậy dù muốn hay không cũng trở thành một động lực cho toàn bộ sự vận hành của câu chuyện của Kim Lefèvre. Bản dạng này hiện diện rõ ràng nhưng thường xuyên bị quên đi bởi nhân vật trung tâm. Sự lãng quên này là cố tình như một cách để nhân vật tồn tại được trong một xã hội bị giằng xé giữa hai sức mạnh: xâm lăng và tự vệ. Giả như không có những mâu thuẫn đó hoặc người ta sẽ dễ dàng gặp hơn những sự bao dung như của người bà, của những người bạn như Đỗ, Ghi… Một điều đáng chú ý là việc nhân vật thường xuyên được nhắc đến bản dạng của mình qua hành vi soi gương. Khi soi gương, được coi là một hành vi xã hội đặc trưng của nữ giới, nhân vật trung tâm nhận ra rằng mình hoàn toàn không giống với những người chung quanh và không giống với cả hình dung của chính mình. Soi gương cho phép nhân vật tự nhận ra chính bản dạng có vẻ như là nó vốn có chứ không phải như anh ta nghĩ hay như người khác nói về anh ta. Có lẽ đó là một sự khách quan của bản dạng sắc tộc, vượt khỏi những định kiến xã hội. Để chống lại sự tồn tại khách quan của cái bản dạng sắc tộc, cái “tôi” kể lại chuyện từ chối soi gương: “Tôi tránh xa mọi tấm gương, không ngó xuống bóng mình trên mỗi vũng nước ven đường”. Trong chương thứ hai, khi kể về tình cốt nhục như một cách để tìm lại những mối quan hệ họ hàng, ấn tượng còn lại đối với tác giả tự truyện chỉ là những sự thờ ơ và lạnh lùng của đa phần anh chị em và cô bác. Họ chối bỏ cái bản dạng sắc tộc mà “tôi” có. Sự chối bỏ này tạo nên vết thương như một dữ kiện còn lưu lại trong ký ức của người kể. Bằng việc kể lại như thế từ góc nhìn một người trong cuộc, những vết thương có thể hằn lên, tái phát hoặc làm dịu lại, tùy theo điều mà người kể muốn: “Cần phải có một nội thương, hay một khó khăn, hay một sự bứt rứt để ta có khao khát diễn đạt, muốn nói […] Thường những người chịu lưu đầy hay viết, vì họ mang một nỗi đau, ngay cả nếu như trong trường hợp tôi, khi cuốn sách được viết ra, nỗi đau này đã bị chế ngự, đã ở lại phía sau tôi, nhưng thực sự nó đã diễn ra […] Người ta muốn nói ra cũng vì khi viết, người ta nghĩ rằng câu chuyện này không chỉ mang tính cá nhân, mà có thể còn liên can đến những người khác. Viết đó là để nói, để giao tiếp, để trước tiên thể hiện điều ta có, để giao tiếp với kẻ khác, do vậy mối liên hệ giữa viết với lưu đày là rất chặt chẽ, giống như mối liên hệ giữa viết với nỗi đau vậy”7. Đối với bà, viết lách, viết lại quá khứ, kể lại ký ức luôn có nguồn cơn từ những nỗi đau, những vết thương. Kim Lefèvre không chối từ cái thực tại nghiệt ngã của xã hội thuộc địa khi kể về đời sống trong ngôi nhà của bà cô, nơi “tôi” đã sống một thời gian ngắn ngủi. Những cái tên dì Marcelle, anh họ Yves tham gia vào cái thực tại con lai của xã hội thuộc địa. Những gì được nhớ lại này trong câu chuyện cũng từng được kể bởi “ông vua phóng sự đất Bắc” về “hạng bỏ đi”8.

   Bản dạng công dân gắn với sự thực hành đào luyện con người xã hội, gắn với những thiết chế xã hội tạo nên con người đó. Đứa trẻ lai tỏ ra hoàn toàn thích ứng với những thiết chế giáo dục đó. Trong thiết chế giáo dục của trại trẻ mồ côi, dù khắc nghiệt khi đối diện với bà xơ Corneveau, đứa trẻ lai vẫn vượt qua và cảm thấy có thể thành công: “Cô giáo lớp tôi là một bà có tuổi, khuôn mặt phúc hậu. Tôi sung sướng được theo học bà. Tôi học dễ dàng và mau tiến bộ. Và cuối cùng, tôi biết đến niềm vui được tiếp xúc với kiến thức. Môn Pháp văn tôi học ngày một khá hơn. Bây giờ thì tôi là đứa được gọi lên bảng để sửa sai cho các bạn khác về cú pháp. Chỉ sau ba tháng, tôi đã được lên lớp nhất. Việc được lên lớp bất ngờ khiến tôi tự tin ở mình. Đã xa rồi cái thời tôi bị cô giáo người Việt Nam coi như một đứa đần độn. Tại trường này, tôi biết mình phải làm gì và làm được tốt. Thành tích học tập của tôi đem lại những hiệu quả thực tế”. So với thiết chế giáo dục tự phát của nền văn hóa Việt Nam mà đứa trẻ lai tham gia trước đó khi còn ở Tuyên Quang, dường như thiết chế giáo dục Pháp tại trại trẻ mồ côi mang lại nhiều niềm hạnh phúc, vui sướng và thành công hơn. Bản dạng công dân của “tôi” trong trường hợp này dựa trên một sự đồng thuận của những yếu tố về sắc tộc và văn hóa. Bản dạng văn hóa của nhân vật trung tâm gắn sâu sắc với nền giáo dục mà cô thụ hưởng. Bởi thế, khi nhớ lại quá khứ thì dữ kiện về “cái đêm tang tóc trước Tuy Hòa bị tàn phá trong biển lửa” được người kể liên hệ dễ dàng tới “Những người phụ nữ thành Troie” của Euripide, tới những câu thơ về nỗi ai oán của nữ hoàng Hecube. Cái ấn tượng thị giác vô hình khắc sâu trong tâm thức người kể về Việt Nam trong quá khứ đã được diễn đạt lại bằng tiếng Pháp dựa trên tham chiếu bằng các điển mẫu phương Tây cổ đại. Không thiếu những sự tham chiếu như thế sang văn hóa phương Tây trong hồi tưởng của Kim Lefèvre về quá khứ ở Việt Nam. Chẳng hạn người kể nói đến hình ảnh “ba chàng ngự lâm” khi nhắc lại bộ ba Thư, Đỗ và Ghi. Vậy là cái bản dạng văn hóa của người kể được định hình sâu sắc bởi những cấu trúc xã hội mà anh ta nhúng sâu vào đó, ở đây là cái thiết chế giáo dục được thiết lập và được vận hành bởi chính quyền thuộc địa. Bà cho biết mình nghĩ và viết bằng tiếng Pháp, dù ngôn ngữ đầu tiên, sơ khởi của bà là tiếng Việt. Nói về “căn cước Việt Nam” nếu có, bà cho rằng Việt Nam là một nửa của mình, ở rất sâu bên trong, nhưng giờ đây để nói được những điều ấy một cách đích đáng, sáng rõ nhất, bà phải dùng đến tiếng Pháp, vì “giờ đây, tôi chỉ có một ngôn ngữ, đó là tiếng Pháp”9. Trả lời phỏng vấn, bà thẳng thắn: “Tôi không cần xã hội Việt Nam cũng như xã hội Pháp thừa nhận tôi. Viết bằng tiếng Pháp, đó là người Pháp/ kiểu Pháp”10.

   Có lẽ không chỉ tìm kiếm lại những bản dạng công dân, bản dạng sắc tộc, bản dạng văn hóa, cái “tôi” kể chuyện của Kim Lefèvre còn thử tìm lại bản dạng giới qua những dữ kiện còn sót lại trong ký ức. Đây là thứ bản dạng mang tính cá nhân và riêng tư nhất mà người ta có thể thay đổi trong cuộc đời. Sự thay đổi gắn với các tình huống xã hội mà cá nhân can dự. Cá nhân có thể mang những bản dạng giới khác nhau bất chấp những xu hướng tính dục. Ngay từ khi bắt đầu có những dấu hiệu của một người phụ nữ, “tôi” được mẹ nhấn mạnh đến “bản dạng giới nữ” qua cách đối xử và qua cả cách gọi “cô cả nhà tôi” trước mọi người. Trong những mối quan hệ xã hội thông thường như với bạn bè như Đỗ, Ghi, nhân vật trung tâm cũng thể hiện rõ một bản dạng nữ quen thuộc: “tôi” đã “say sưa đọc những tờ báo mô tả các thú vui xác thịt mà tôi không hiểu biết, nhưng vẫn làm toàn thân nóng bừng bừng. Đêm đêm, tôi mơ thấy những bàn tay vươn dài mà không đụng tới được người mình. Tôi thường thức dậy với cảm giác bức bối không yên. Nằm bên cạnh, Lan cũng trở mình như đang thao thức vì điều gì đó”. Bên cạnh những niềm vui bạn bè, bản dạng nữ đó cũng phải chịu những “tổn thương” hằn lại trong ký ức do sự xâm hại bằng ngôn từ hoặc hành động. Việc “tôi” kể chuyện lựa chọn bản dạng giới nữ như được hồi tưởng đánh thức những kỷ niệm “đau đớn”, như trong các quan hệ với thầy Đức hay “kìm nén” dục tính với người em trai kết nghĩa kém năm sáu tuổi. Nhưng khi bước vào đời sống trong tu viện, có những điều hoàn toàn khác lạ, như ký ức về quan hệ giữa xơ Ái và “tôi”: “Các nữ tu cũng có những người bạn thân thiết dành cho nhau thứ tình cảm say đắm vốn là điều cấm kỵ, không ngoại trừ tình dục”. Giữa hai người đã tồn tại một sự chăm sóc chu đáo “vừa tận tâm như người mẹ, vừa thương mến như người tình”. Trong cách diễn đạt mà “tôi” nhớ lại đó, xuất hiện tính nước đôi của bản dạng giới trong tình thế nhà tu của một xã hội thuộc địa. Cách thể hiện song song này là một ký ức về “giới hạn” mà nhân vật nữ đã đối mặt trong xã hội đương thời đối với những lựa chọn bản dạng giới.

   Câu chuyện về cô gái Lam Kim Thu ở Việt Nam được Kim Lefèvre kể lại là quá trình tìm lại quá khứ của chính mình vốn từng ở Việt Nam. Quê hương đã thuộc về quá khứ, dù có hiện diện trong lời kể thì thực chất vẫn vắng mặt bởi những gì được kể không phải là dữ kiện mà là những sự hư cấu góp phần tạo dựng xúc cảm. Nhà văn viết tiếng Pháp Kim Lefèvre của ngày hôm nay được tạo nên từ nhiều bản dạng khác nhau. Những sự hư cấu được thêm vào làm nên phần chính của những gì được kể dựa trên các dữ kiện ít ỏi mà Kim Lefèvre còn giữ lại trong ký ức cũng như trong các giấy tờ của mình. Hư cấu trở thành một cách để khám phá lại những bản dạng của mình trong quá khứ, để từ đó đối diện lần nữa với những vết thương mà tác giả từng có. Những bản dạng mà nhà văn Kim Lefèvre tìm kiếm là những bậc khác nhau hay là những chiều kích của một con người sống tại Pháp, tại một quốc gia phương Tây có ý thức sâu sắc về tính cá nhân. Bản dạng công dân thay đổi như chính đời sống chính trị tại xứ sở nơi bà sinh ra và gắn với cuộc đời của bà. Kể lại quá trình xác lập bản dạng công dân của mình từ thuộc địa sang Pháp đã cho thấy khát vọng mạnh mẽ của cô bé có tên Lam Kim Thu ra sao. Bản dạng sắc tộc dường như là điều bình thường với một công dân Pháp nhưng lại là “vết thương” sâu sắc nhất với nhân vật nữ chính luôn tự thấy mình ở bên lề trước khi đến với kinh đô ánh sáng. Cuối cùng, việc ngoái lại quá khứ cũng là một dịp để Kim Lefèvre đối diện với những thử thách cho sự xuất hiện và tồn tại của bản dạng giới, điều có lẽ chỉ xuất hiện vào cuối thế kỷ XX. Đối diện như thế với những thử thách, Kim Lefèvre muốn hòa giải với quá khứ, muốn để sang một bên chính những nỗi đau từ thời thuộc địa, muốn rời bỏ hoàn cảnh “lai” của mình đến với nước Pháp như ước mơ của mẹ và của chính cô. Vết thương không phải không gây xót xa nhưng nhờ ký ức đó, “tôi” có thêm sức mạnh để rời bỏ quá khứ, để sống thực sự với hiện tại.

 

 

 

Chú thích:
1, 2, 5, 7, 9, 10 Nathalie Nguyễn (2001): “Métisse Blanche: Entretien avec Kim Lefèvre”, Intersections: Gender, History and Culture in the Asian Context Issue 5, May.
3 P. Bourdieu (1986): L’Illusion biographique, Actes de la recherche en sciences sociales, Vol 62-63, 6, tr. 70. https://doi.org/10.3406/arss.1986.2317.
4 Xem Jack Yager (2023): “Métisse blanche de Kim Lefèvre, ou la rémanence des images” trong Continents Manuscrits, Genetique des Manuscrits littéraires 20/2023, DOI : https://doi.org/10.4000/ coma.10444.
6 Kim Lefèvre (2017): ‘L’Humiliation’, Apostrophes, France 2,
7 April 1989. Dẫn theo Antonia Wimbush, “Metissage and Exile in Kim Lefevre’s Autobiographical Narratives” in Bulletin of Francophone Post colonial Studies, 8.2 Autumn, tr. 13.
8 Vũ Trọng Phụng (1999), Kỹ nghệ lấy Tây, NXB. Văn học.

Bình luận

    Chưa có bình luận