SÁNG TÁC KHÍ NHẠC CỦA NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

Bài viết giới thiệu những sáng tác khí nhạc của các nhạc sĩ Việt Nam ở nước ngoài có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Những tác phẩm của họ cho thấy có nhiều cách, nhiều con đường sáng tạo nghệ thuật âm nhạc để phản ánh đời sống đương đại và đặc biệt là phản ánh những tri nhận, cảm thức và tình yêu quê hương của người Việt Nam ở nước ngoài. Đó cũng là cầu nối, giới thiệu hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam với thế giới.

   Trong những tác phẩm khí nhạc của người Việt Nam ở nước ngoài, dù là tác phẩm viết cho nhạc cụ phương Tây hay nhạc cụ truyền thống dân tộc Việt Nam, tất cả đều ghi lại những dấu ấn của đời sống, văn hóa, đất nước Việt Nam hoặc kế thừa văn chương, nghệ thuật truyền thống, tinh thần của âm nhạc dân tộc. Tuy nhiên, những tác phẩm khí nhạc này không chỉ đơn giản thể hiện lại chất liệu, nguồn cảm thức được kế thừa từ di sản văn hóa dân tộc mà còn luôn được thể hiện một cách sáng tạo, biến hóa bằng cách thức, phương pháp, ngôn ngữ hoặc phương tiện thể hiện của âm nhạc đương đại. Những tác phẩm khí nhạc của người Việt Nam ở nước ngoài chính là những “đại biểu” văn hóa âm nhạc Việt Nam trong thế giới âm nhạc kinh viện, chuyên nghiệp quốc tế vô cùng rộng lớn và phong phú. Những tác phẩm này đã giới thiệu âm nhạc Việt Nam, bản sắc văn hóa Việt Nam bằng dung mạo mới mẻ, đặc sắc và luôn được giới âm nhạc kinh viện các nước ngưỡng mộ.

   Nghiên cứu những tác phẩm khí nhạc của người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là để tự hào với những thành quả nghệ thuật của họ mà còn là cách chúng ta ghi nhận những giá trị lớn lao khác, đặc biệt là giá trị xã hội, văn hóa, nghệ thuật mà những tác phẩm đó đã mang lại. Qua những tác phẩm của họ, nhận thấy có nhiều cách, nhiều con đường sáng tạo nghệ thuật âm nhạc để phản ánh thời sống đương đại và đặc biệt là phản ánh những tri nhận, cảm thức và tình yêu quê hương của người Việt Nam ở nước ngoài.

   1. Sáng tác cho nhạc khí phương Tây của người Việt Nam ở nước ngoài – những tri nhận văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam

   Những nhạc sĩ người Việt Nam thành danh ở thể loại âm nhạc kinh viện phương Tây ở nước ngoài không nhiều nhưng họ đều là những “bậc thầy”1, được ghi danh, vinh danh ở các giải thưởng cao quý và có nhiều đóng góp cho nền âm nhạc thế giới. Nhiều nhạc sĩ người Việt Nam hiện đang sinh sống ở nước ngoài được ghi danh trong lĩnh vực này như: Nguyễn Văn Tường (1929-1996, nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên trong lĩnh vực nhạc điện thanh, Pháp); Tôn Thất Tiết (sinh 1933, tốt nghiệp Nhạc viện Paris) thành danh với các tác phẩm thính phòng, giao hưởng, nhạc phim… mang đậm màu sắc triết học phương Đông; Nguyễn Thiên Đạo (1939-2015, là học trò người Việt Nam duy nhất của nhạc sĩ Olivier Messiaen, Pháp) thành danh với hàng trăm tác phẩm khí nhạc, opera, oratorio và cả nhạc phim được sáng tác theo tôn chỉ “Dân tộc đích thực, nhân loại tiên phong”; Trương Tăng (1936-1989) được giải thưởng âm nhạc của ông hoàng Rainier xứ Monaco, Pháp; Phan Quang Phục (1962) tốt nghiệp Tiến sĩ âm nhạc tại University of Michigan, người Việt đầu tiên được giải Grand Prix de Rome, Mĩ; Nguyễn Mạnh Cường, Giải Nhì trong cuộc thi sáng tác nhạc đương đại Festival of Young Composers from Asia and Pacific Region, Úc... Các tác phẩm của những nhạc sĩ Việt Nam ở nước ngoài này thường được viêt theo ng ́ ôn ngữ mới, phản ảnh những trào lưu học thuật âm nhạc thế giới thế kỷ XX như: vô điệu tính, âm nhạc Ấn Tượng (Impressionism), Tiên phong (Avant d’gardisme), âm nhạc chuỗi (Seriel music)… Họ đã có nhiều đóng góp cho nền âm nhạc chuyên nghiệp thế giới với nhiều sáng tạo học thuật từ những kế thừa vốn liếng âm nhạc truyền thống. Đặc biệt, những cảm thức, hiểu biết, ký ức về quê hương được họ thể hiện trong tác phẩm đã góp phần phổ biến âm nhạc viết cho nhạc khí phương Tây những tác phẩm giao hưởng, thính phòng Việt Nam với bạn bè thế giới.

   Trong những sáng tác khí nhạc của người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt nổi lên những tác phẩm của nhạc sĩ (NS) Tôn Thất Tiết và Nguyễn Thiên Đạo. Âm nhạc của NS Tôn Thất Tiết thể hiện ngôn ngữ âm nhạc của trường phái Ấn tượng (Impressionism), những âm thanh trong các tác phẩm của ông vang lên như những mảng màu, ánh sáng, bóng tối… thể hiện thiên nhiên, phong cảnh và tâm tưởng thiền học, triết học Đông phương huyền bí với kinh dịch, với ngũ hành (Jeu des cinq éléments I, II, III, IV, V). Trong “quan sát” của nhạc sĩ, mỗi “chất” trong ngũ hành đều có thể đối thoại với nhau (độc tấu viola Đất và lửa - Terre et feu; độc tấu cello Đất và nước - Terre et eau; hòa tấu violon, viola, cello Kim loại, đất và nước - Metal, terre et eau, 1981; ballet Lời của lửa, 1996; tứ tấu dây Trí nhớ của dòng sông - Mémoire de la rivière, 1998, hay là những lời “Đối thoại với thiên nhiên” (Dialogue avec la nature). Ông cũng là người kể lại những câu chuyện, suy tưởng bằng ngôn ngữ của thiền (năm 1974, song tấu flute và đàn harp Niệm, Hòa tấu dàn nhạc dây Vô vi hay giao hưởng Ấn tượng…) và đó cũng là cách ông thể hiện tư duy âm nhạc truyền thống Việt Nam theo cách mới: thang âm bình âm mười hai bán cung trong một quãng tám được sử dụng như cách mà Claude Debussy vẫn sử dụng – chia thành 6 bậc toàn một cung (gamme par ton), giống như thang âm bảy cung đều “thất thanh, ngũ cung” đã được Phạm Đình Hổ ghi chú trong Vũ trung tùy bút. Hoặc trong các tác phẩm của mình, ông đưa tư tưởng triết học phương Đông về nghệ thuật, thẩm mĩ cổ truyền một cách nhuần nhuyễn trong “mối quan hệ” ngũ cung, ngũ hành, ngũ phương… Tôn Thất Tiết còn sử dụng mỗi bậc âm trong ngũ cung làm một đại diện cho ngũ hành và mỗi “hành” còn đối thoại, tương khắc, kết hợp, tương giao, tương sinh… trong tác phẩm.

   Những hoài niệm về quê hương được Tôn Thất Tiết thể hiện ở lĩnh vực nhạc phim. Ông đoạt Giải Nhạc phim xuất sắc trong phim Mùi đu đủ xanh (1993) của đạo diễn Trần Anh Hùng. Ngoài ra, ông còn viết nhạc cho phim Xích lô (1995), Mùa hè chiều thẳng đứng (2000) của đạo diễn Trần Anh Hùng và Mùa len trâu (2000) của đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh. Những thang âm không bình quân, tiết tấu tự do (không ghi nhịp), khai thác những kỹ thuật lạ của âm sắc nhạc khí; sự hòa quyện của những giai điệu nhạc tài tử Nam Bộ với những thanh âm lạ lẫm theo phong cách ấn tượng tạo nên một màu sắc đặc biệt của thời gian và không gian, không gợi lại cái gì cụ thể nhưng rất ấn tượng bởi lối viết chi tiết, logic và hòa hợp của âm thanh trong tác phẩm viết cho dàn nhạc cuả ông. NS Tôn Thất Tiết còn ghi lại dấu ấn như một đại diện của nền âm nhạc Pháp thế kỷ XX bởi sự kết hợp Đông - Tây nhuần nhuyễn, tính thiền định trong tâm tưởng nhưng lại được thể hiện bằng những hình ảnh xáo động của vật chất (ngũ hành, ngũ sắc với ngũ hướng, ngũ quan…), của sự chuyển động không ngừng của thế giới vật chất chung quanh.

   Được nhà nghiên cứu âm nhạc Nguyễn Thụy Kha gọi đùa là “một đặc công của âm nhạc Việt Nam đánh chiếm đỉnh cao thế giới”2, có lẽ, là do sự độc đáo của âm nhạc và đặc biệt là đề tài sáng tác xuyên suốt trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Thiên Đạo. Âm nhạc của ông thể hiện cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam thời kỳ chống đế quốc Mĩ và mang đến thế giới hình ảnh đất nước, con người Việt Nam anh hùng, bất khuất. Năm 1968, sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy của nhân dân miền Nam, Nguyễn Thiên Đạo viết tác phẩm Thành đồng Tổ quốc (1968) cho giọng nói kể chuyện, giọng nữ cao, hợp xướng nói, 4 piano và 6 nhạc cụ gõ, dựa trên lời thơ của Tố Hữu. Tác phẩm hòa tấu 7 nhạc cụ Tuyến lửa cũng được sáng tác trong năm này. Năm 1969, ông viết hòa tấu 5 nhạc cụ gõ Bất khuất. Khi cuộc chiến ở Việt Nam bước sang giai đoạn quyết liệt, Nguyễn Thiên Đạo viết concerto cho contre bass và dàn nhạc giao hưởng Bà mẹ Việt Nam (1973), giao hưởng Máu và hoa (năm 1974) và như một lời tiên tri cho ngày đại thắng của nhân dân Việt Nam, ông viết giao hưởng cho 2 dàn nhạc giao hưởng lớn và phần âm nhạc điện thanh tác phẩm Giải phóng (1974). Nhiều năm sau, ông viết độc tấu basson Vang vọng (1983), độc tấu piano Tìm lửa (1987), hòa tấu dàn nhạc Hồn non nước (1998)… thể hiện lòng tự hào của ông về chiến thắng và ca ngợi đất nước Việt Nam thống nhất. Những tác phẩm của ông đầy tính thời sự nhưng cũng là những tác phẩm thể hiện tài năng, tinh hoa và tinh thần của ông: Hòa tấu 95 (1995) nhân kỷ niệm 50 năm thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; giao hưởng Giao hòa (1996) và Sóng nhất nguyên (2002) cho đàn bầu, violoncello và dàn nhạc, nhiều tác phẩm dàn nhạc khác ca ngợi tổ quốc: đơn ca, hợp xướng, giao hưởng Hồn non nước (1998) và Hồn đất Việt (2008-2009)…

   Sự nghiệp sáng tác âm nhạc của Nguyễn Thiên Đạo đã được thế giới ghi nhận: Giải Nhất sáng tác của Nhạc viện Paris dành cho tác phẩm Thành đồng Tổ quốc năm 1968; Giải thưởng Gabriel Chapelier của Hội Nhạc sĩ Pháp năm 1970, Giải thưởng Georges Bizet của Viện Hàn lâm Pháp năm 1972, Giải thưởng Olivier Messiaen của Fondation Erasmus (Hà Lan) dành cho giao hưởng Máu và hoa năm 1974, Giải thưởng André Caplet của Viện Hàn lâm Pháp cho toàn bộ tác phẩm âm nhạc năm 1983, Huân chương Hiệp sĩ về Văn học nghệ thuật (Chevalier de Arts et des Lettres) của Chính phủ Pháp trao tặng năm 1984... Tên tuổi Nguyễn Thiên Đạo cũng được ghi danh trong từ điển Le Petit Larousse năm 1982, từ điển Le Petit Robert năm 1995 vì những đóng góp trong việc giao hòa âm nhạc Đông - Tây.

   Nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo viết 82 tác phẩm khí nhạc, opera, kịch múa đã dàn dựng ở các nước châu Âu, Mĩ, Nhật Bản, Brazil... Ông có những tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam (hòa tấu Phù Đổng I, 1973; hòa tấu 2 hoặc 4 nhạc cụ gõ Phù Đổng II, 1977; độc tấu nhạc gõ Tây Sơn, 1984); những tác phẩm mang tên phong cảnh (độc tấu bộ gõ Mây, 1972; độc tấu clavecin Mưa, 1976; độc tấu piano và dàn nhạc Hoàng hôn, 1979; hòa tấu 6 nhạc cụ dây L’Aurore - Bình Minh, 1989) được thể hiện bằng ngôn ngữ âm nhạc Ấn tượng (Impressionism) hoặc những tác phẩm có đề tài văn chương cổ điển Việt Nam như vũ kịch Sóng nhạc Trương Chi. Ông đã tự dàn dựng và chỉ huy nhiều tác phẩm của mình tại Việt Nam như: Hòa tấu 1995, Khai giác, Hồn non nước, Sóng hồn, Sóng nhất nguyên, kịch múa Hồn Trương Chi...

   Bằng những yếu tố học tập từ âm nhạc truyền thống: thanh âm không bình quân mà di biến ở những khoảng âm rất nhỏ, tính chất ngẫu hứng dành cho những đoạn nhạc solo của nhạc cụ; sự kết hợp các bè theo lối hòa điệu, đa điệu mà không phải hòa âm hay phức điệu, phi điệu tính hoặc đa điệu tính; cấu trúc tác phẩm rộng mở với câu nhạc, lớp nhạc… khiến cho âm nhạc không lời của các tác giả người Việt Nam ở nước ngoài có thể mang hình ảnh Việt Nam đến với người nghe trên khắp thế giới. Trong một cuộc phỏng vấn, nhà báo Isabelle Massé hỏi Nguyễn Thiên Đạo: “Ông luôn cho rằng mình học từ tuồng, chèo, âm nhạc tài tử Nam Bộ… để viết những tác phẩm của mình, vậy chúng là gì?”; nhạc sĩ đã trả lời: “Ngọn nguồn âm nhạc truyền thống Việt Nam để dựa vào là những bậc âm di biến với những quãng rất nhỏ, thang âm ngũ cung, sự hòa hợp phức tạp của những chồng âm và âm sắc nhạc cụ phong phú và đặc điểm ngẫu hứng… của âm nhạc truyền thống Việt Nam nhưng trên hết là hình ảnh của người Việt, đất nước Việt Nam trong tim tôi”3. Ngôn ngữ khí nhạc là không biên giới và luôn mang đến cho người nghe những vấn đề lớn của con người, xã hội với góc nhìn riêng của người nhạc sĩ. Sáng tác khí nhạc cho nhạc cụ phương Tây ngay trên quê hương của thể loại này và được ngưỡng mộ thì quả là những thành công vinh hiển của người Việt Nam ở nước ngoài.

   2. Sáng tác cho nhạc cụ dân tộc truyền thống – mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

   Đối với các sáng tác cho nhạc cụ dân tộc Việt Nam, đàn tranh là nhạc cụ được những người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm nhất. Sáng tác khí nhạc cho đàn tranh không chỉ do các nghệ sĩ biểu diễn đàn tranh mà còn có những nhạc sĩ sáng tác chuyên nghiệp. Những tác phẩm viết cho đàn tranh độc tấu hoặc đàn tranh hòa tấu cùng các nhạc cụ… chiếm số lượng hầu như tuyệt đối so với các nhạc cụ truyền thống Việt Nam khác. Những tác phẩm viết theo ngôn ngữ âm nhạc đương đại được viết sau năm 2000 do các nghệ sĩ đàn tranh sinh sống và làm việc ở nước ngoài như: Inside Outside (Nội tâm và ngoại giới, 2002) do Đặng Kim Hiền hợp soạn cùng nhà soạn nhạc đương đại Ros Bandt. Trong tác phẩm này, đàn tranh 25 dây được kết cùng giọng hát, tiêu gỗ Âu Châu (recorder), viola da gamba và bộ gõ Việt Nam. Tác phẩm A song for sky bells (Điệu chuông trời, 2004) được Lê Tuấn Hùng soạn cho dàn chuông trụ điện, đàn tranh 25 dây, suling (tiêu tre bali) và khẩu cầm tre châu Đại Dương. Độc tấu đàn tranh Khói sóng (2005) và hòa tấu 6 đàn tranh Suối tranh (2010) là hai trong nhiều tác phẩm được Nguyễn Thiên Đạo viết cho nhạc cụ dân tộc4. Nhiều tác phẩm do Võ Vân Ánh biên soạn, chuyển soạn hoặc sáng tác như The overture (Khúc khải hoàn, 2010) cho đàn tranh 19 dây và tốp nhạc (nhạc sĩ jazz Nguyên Lê phối hòa âm); The discourse (Câu chuyện của tôi, 2011) cho đàn tranh 19 dây và tốp nhạc (nhạc sĩ jazz Nguyên Lê phối hòa âm); Daisy flowers (Hoa cúc thu, 2011) soạn cho đàn tranh 19 dây và tốp nhạc (nhạc sĩ jazz Nguyên Lê phối hòa âm); The Legend (Huyền thoại mẹ, 2012) soạn cho đàn tranh 19 dây và giọng hát; Queen of the night (2013) cho đàn tranh 19 dây (hoà âm: Võ Vân Ánh); This boat (2018) cho đàn tranh 19 dây và giọng hát (hoà âm: Võ Vân Ánh).

   Cách thể hiện trong sáng tác cho đàn tranh độc tấu là ngôn ngữ âm nhạc đương đại, dựa trên âm sắc nhạc cụ dân tộc Việt Nam, nhưng có một cách thể hiện khác, chính là điệu thức cổ truyền, những nét nhấn rung của nghệ thuật đờn ca tài tử, ca Huế, chèo... Chiến mã (1999-2000) của Đặng Kim Hiền được xây dựng trên 7 điệu thức nhạc truyền thống Việt Nam và khai thác các chữ nhấn quãng 5, 6 và 7 như lối phát âm, lối hát của người Việt Nam. Đặng Kim Hiền luôn muốn giữ gìn âm thanh âm nhạc truyền thống: thang âm, phong cánh thể hiện hay kể cả giữ gìn thang âm 7 cung đều của nhạc truyền thống Việt Nam5 trên hệ thống dây đàn. Các sáng tác cho đàn tranh 29 dây của Đặng Kim Hiền: tổ khúc Meditation on a bird song (Tiếng chim tỉnh thức, 2011-2015) soạn cho đàn tranh 29 dây (gồm 4 chương: Trống mái, Họp bầy, Táo tác và Ẩn thiền); 28 Thiền khúc (2015-2020) soạn cho đàn tranh 29 dây, gồm 12 bài Tâm nhạc (Khai tâm, Luyện tâm, Tịnh tâm, Định tâm, Thanh tâm, Từ tâm, Nhất tâm, Chân tâm I, II, III, IV, V), 12 bài Thiền nhạc (Sương thiền, Sen thiền, Nắng thiền, Gió thiền, Lửa thiền, Sóng thiền, Trăng thiền, Hoa thiền, Xuân thiền, Trúc thiền, Chuông thiền, Hương thiền) và 4 bài Tĩnh nhạc (Tĩnh niệm, Tĩnh không, Tĩnh âm và Tĩnh hành) đều hướng tới việc thể hiện những hình tượng âm nhạc mang tình cảm, suy nghĩ riêng về cuộc đời, về sứ mệnh và sinh mệnh của con người trong vũ trụ bao la bằng ngôn ngữ âm nhạc Ấn tượng nhưng dựa trên chất liệu âm nhạc dân tộc với cách thể hiện mới. Sự cải tiến về cấu trúc hình thức, giai điệu âm nhạc, kỹ thuật diễn tấu… vẫn phải là từ chất liệu âm nhạc dân tộc, ngôn ngữ âm nhạc dân tộc, có lẽ, là tôn chỉ trong sáng tác của Đặng Kim Hiền.

   Ở một cách sáng tạo khác, nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo viết Khói sóng (2005) hoặc hòa tấu Suối tranh (2010) soạn cho 6 đàn tranh 16 dây không còn giữ lại phần hệ thống dây theo ngũ cung, giai điệu là một thể hiện tiêu biểu của âm nhạc theo trường phái Tiên phong rất phổ biến của tác giả. Lullaby for a country (Love - Yearning - Sorrows - New Dawn, 2016) là concerto dài 25 phút do Võ Vân Ánh soạn cho đàn tranh 19 dây, đàn bầu, giọng hát và dàn nhạc giao hưởng… Những tác phẩm này chỉ phần nào giữ lại âm điệu âm nhạc dân tộc (sử dụng chất liệu âm nhạc dân tộc) bằng các nét nhấn nhá của tay trái, không rõ một chất liệu cụ thể nào hoặc pha trộn nhiều phong cách - chất liệu khác nhau trong một tác phẩm. Phần hòa âm khá dầy và theo hình thức hòa âm bốn bè phương Tây cùng với sự hòa điệu với giọng hát và nhiều nhạc cụ khác nhau, sử dụng hòa âm jazz pha trộn với giọng hát và các nhạc cụ khác theo kiểu jazz (ngẫu hứng trên nền hòa âm và tiết tấu chung của phong cách - thể loại) đã làm mới, lạ kỹ thuật diễn tấu cũng như thanh âm đàn tranh.

   Cùng phong cách World music, các sáng tác của Võ Vân Ánh như: The discourse (Câu chuyện của tôi, 2011) cho đàn tranh 19 dây và tốp nhạc (nhạc sĩ jazz Nguyên Lê phối hòa âm); Daisy flowers (Hoa cúc thu, 2011) cho đàn tranh 19 dây và tốp nhạc (nhạc sĩ jazz Nguyên Lê phối hòa âm); The legend (Huyền thoại mẹ, 2012) cho đàn tranh 19 dây và giọng hát; Queen of the night (2013) đàn tranh 19 dây (hoà âm: Võ Vân Ánh); This boat (2018) cho đàn tranh 19 dây và giọng hát (hoà âm: Võ Vân Ánh); Lullaby for a country (Love - Yearning - Sorrows - New Dawn, (2016) là concerto cho đàn tranh 19 dây, đàn bầu, giọng hát và dàn nhạc giao hưởng… hoặc Lights of hope (Ánh sáng hi vọng, 2015) cho đàn tranh 22 dây và giọng hát với accordion, cello và trống taiko. Autumn dating song (Thu hò hẹn, 2020) cho đàn tranh 22 dây và tốp nhạc (Võ Vân Ánh và nhóm Blood Moon Orchestra soạn hòa âm); Gliding (2020) cho đàn tranh 22 dây và tứ tấu đàn dây; Infinity (2017) cho đàn tranh 24 dây và tốp nhạc (Võ Vân Ánh và nhóm Blood Moon Orchestra soạn hòa âm); How about us (2020) soạn cho đàn tranh 24 dây và giọng hát (Võ Vân Ánh và nhóm Blood Moon Orchestra soạn hòa âm)… là những khai thác âm sắc nhạc cụ cùng với lối hòa điệu mới của nhạc jazz, rock, blue và âm nhạc điện thanh.

   Về kỹ thuật diễn tấu đàn tranh trong những tác phẩm “đương đại” này, dễ dàng nhận thấy những sáng tạo gần như không có giới hạn: đàn tranh diễn tấu chất liệu âm nhạc dân gian Việt Nam trên nền âm thanh điện tử, những kỹ thuật diễn tấu bán cung liên tục với tốc độ nhanh, những âm thanh bị bịt/ tắt tiếng (nhiều kiểu), gõ vào thành đàn, mặt đàn, đáy đàn… hoặc như trong tác phẩm JiJi (2018) của Lương Huệ Trinh, người chơi dựng đứng cây đàn, thổi vào hộp đàn để tạo tiếng vọng… Những tác phẩm này cũng là bước phát huy ngôn ngữ âm nhạc đương đại của các nhạc sĩ, nghệ sĩ. Các phẩm viết cho đàn tranh 19, 25 dây có phần khai thác âm khu trầm, mở rộng việc kết hợp kỹ thuật tay phải với tay trái cùng gảy dây, kỹ thuật chạy lướt… cũng là những kỹ thuật đã được khai thác trong những tác phẩm trước đó.

   Phân tích những tác phẩm viết cho nhạc cụ dân tộc với sự kết hợp ngôn ngữ, hình thức thể hiện của nghệ thuật đương đại đồng thời vẫn có những đặc trưng của nghệ thuật diễn tấu nhạc cụ Việt Nam, trong bài viết Khí nhạc dân tộc đương đại của Nguyễn Thị Mỹ Liêm nêu: “Dòng khí nhạc dân tộc Việt được viết theo phong cách mới, sáng tác bằng ngôn ngữ của những xu hướng âm nhạc các thập kỷ cuối thế kỷ XX – âm nhạc đương đại. Trong những tác phẩm này thể hiện sự kế thừa tư tưởng tiên phong của các trường phái, của phong cách sáng tác khí nhạc hậu hiện đại (post modern music)… của trường phái Tiên phong (Avant d’garde)”6. Những tác phẩm này đều hướng tới việc thể hiện những hình tượng âm nhạc mang tình cảm, suy nghĩ riêng về cuộc đời, về sứ mệnh và sinh mệnh của con người trong vũ trụ bao la bằng ngôn ngữ âm nhạc Tiên phong của Nguyễn Thiên Đạo (qua các tác phẩm cho nhạc cụ dân tộc độc tấu và hòa tấu cùng dàn nhạc giao hưởng với những cách tân về âm sắc và kỹ thuật diễn tấu, trong đó có sáu tác phẩm mang tên Khói) hoặc âm nhạc Ấn tượng được dựa trên chất liệu âm nhạc dân tộc của Đặng Kim Hiền… Những tác phẩm về sau này có ngôn ngữ âm nhạc mới, vô điệu tính hoặc không rõ giọng điệu, nhiều dấu hóa bất thường trong tác phẩm do không khẳng định điệu tính, nhiều ký hiệu lạ do muốn thể hiện những âm thanh ngoài thang âm bình quân của âm nhạc phương Tây… nhưng trên hết có lẽ là những hoài niệm về quê hương, những khao khát được cống hiến và sáng tạo, được giới thiệu hình ảnh quê nhà bằng cách khác biệt của ngôn ngữ âm nhạc đương đại. Hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, nỗi nhớ quê hương ẩn dấu ở tầng sâu trong tác phẩm, được thể hiện qua hình thức của các trường phái âm nhạc mới nhưng luôn có những chỉ dấu dễ nhận thấy như thang âm ngũ cung, thanh âm 7 cung đều dân tộc, âm sắc nhạc cụ và hình tượng quê hương qua âm điệu hát ru, câu rao, câu hò…

   Đàn bầu là nhạc cụ truyền thống Việt Nam được các nhạc sĩ quan tâm hàng thứ hai, sau đàn tranh. Những sáng tác cho đàn bầu thường là độc tấu với dàn nhạc đệm hoặc hòa tấu. Nguyễn Thiên Đạo viết Sóng nhất nguyên (2002) cho đàn bầu, violon celle và dàn nhạc giao hưởng. Tác phẩm được Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam trình diễn lần đầu tiên dưới sự chỉ huy của chính tác giả. Ông cũng có tác phẩm độc tấu đàn bầu Khói Trương Chi (2004) như một hình ảnh vẽ riêng cho người nghệ sĩ trong truyền thuyết mà vở vũ kịch (ballet) Sóng nhạc Trương Chi (2002) trước đó đã kể. Ở đây, sự pha trộn âm sắc nhạc cụ truyền thống Việt Nam với nhạc khí phương Tây (của Nguyễn Thiên Đạo) hoặc với giọng hát, nhạc khí điệu tử (của Võ Vân Ánh)… đều mong muốn tìm kiếm những hiệu ứng mới mẻ, mặc dù thể hiện những vấn đề không mới: con người. Cách thể hiện này ngẫu hứng, nhiều màu sắc và đưa nhạc cụ truyền thống sang một cách thể hiện mới về con người ở thời đại mới nhưng vẫn muôn đời mang trong mình hình ảnh quê hương Việt Nam.

   So với các thể loại âm nhạc khác, khí nhạc vượt qua rào cản ngôn ngữ nên dễ đưa đến với thế giới những vấn đề lớn của con người và xã hội Việt Nam. Khí nhạc, kể cả những tác phẩm khí nhạc dân tộc, đã đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện những vấn đề lớn lao, vấn đề của thời đại; cùng với đó là những hoài niệm về đất nước, con người, những tri nhận của các nhạc sĩ người Việt Nam ở nước ngoài về quê hương thông qua những phương tiện của ngôn ngữ âm nhạc: giai điệu, thang âm, tiết tấu và đặc biệt là những chất liệu âm nhạc trong các làn điệu dân ca, thể điệu của tuồng, chèo, đờn ca tài tử…

   Thành công của người Việt Nam ở nước ngoài luôn là những khích lệ cho những sáng tạo trong nước. Đối với văn học, nghệ thuật, những tác phẩm, công trình của họ không chỉ đóng góp cho nghệ thuật âm nhạc thế giới mà còn mang đến sự khai phá, sáng tạo trong nghệ thuật âm nhạc, đồng thời giới thiệu hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam với thế giới.

  

 

 

Chú thích:
1 “Les maitres de musique” là cách gọi những nhà soạn nhạc danh tiếng ở phương Tây và cũng là tên của tủ sách chuyên giới thiệu các danh nhân âm nhạc, ghi nhận những đóng góp của bậc thầy âm nhạc, do Nhà xuất bản danh tiếng Vandevelde, Paris ở Pháp xuất bản.
2 Nguyễn Thụy Kha (2015), “Nguyễn Thiên Đạo: người nhạc sĩ bị giời đày đã bay về giời”, https://tuoitre.vn/nhac-si-nguyen-thien-daonguoi-bi-gioi-day-da-bay-ve-gioi-1007284.htm, truy cập ngày 20.10.2024.
3 Isabelle Massé (2014): “Nguyen-Thien Dao, Une voie de la musique contemporaine OrientOccident”, Les maitres de musique, Van De Velde Publishing House, Paris, France, p. 85.
4 Nguyễn Thiên Đạo còn sáng tác nhiều tác phẩm độc tấu cho các nhạc cụ dân tộc truyền thống khác như: độc tấu đàn bầu Khói Trương Chi (2004), độc tấu đàn nguyệt 4 dây Khói nguyệt (2005), song tấu sáo trúc và tiêu Khói khói (2005), độc tấu đàn nhị Khói hát (2005), độc tấu đàn tì bà Khói tháp (2005) và tam tấu Tơ đồng cho đàn tranh, tì bà và đàn bầu (2011).
5 Quan điểm “thất thanh, ngũ cung” của âm nhạc truyền thống Việt Nam được nêu lần đầu tiên trong sách Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hỗ và được các nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Ba, Nguyễn Văn Đời, Đặng Thị Kim Hiền, Lê Tuấn Hùng, Nguyễn Thị Mỹ Liêm… nhắc lại nhiều lần trong các nghiên cứu về âm nhạc truyền thống Việt Nam.
6 Nguyễn Thị Mỹ Liêm (2016): “Khí nhạc dân tộc đương đại”, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, số 387, tháng 9, tr. 50-53.

Bình luận

    Chưa có bình luận