NGÔ THẾ VINH VÀ THỂ LOẠI CHÂN DUNG VĂN HỌC*

Bài viết giới thiệu khái quát về nội dung bộ sách ''Tuyển tập chân dung văn học, nghệ thuật & văn hóa'', gồm 2 tập, của Ngô Thế Vinh. Qua phân tích, so sánh với những tác phẩm chân dung văn học của các tác giả tài năng khác, cho thấy điểm khác biệt của Ngô Thế Vinh trong thể chân dung nhiều văn nghệ sĩ. Đồng thời, qua bộ sách này, chân dung của chính tác giả Ngô Thế Vinh cũng được hiện lên: can đảm và nhân hậu, lịch thiệp và ân cần; có nếp sống và làm việc ngăn nắp, tươm tất, cẩn trọng.

   Nhà văn Ngô Thế Vinh sinh năm 1941 tại Thanh Hóa, nguyên quán Hà Nội, hiện sống tại California, Hoa Kỳ. Trước năm 1975, ông học Đại học Y khoa Sài Gòn, làm chủ bút Báo Tình Thương của sinh viên trường này. Sau khi tốt nghiệp năm 1968, ông vào quân ngũ với nhiệm vụ bác sĩ quân y. Cầm bút từ thời sinh viên, ông đã xuất bản các tiểu thuyết: Mây bão (1963), Bóng đêm (1964), Gió mùa (1965), nổi tiếng nhất là Vòng đai xanh (1971) viết về sự thất bại của chính sách Mĩ đối với Tây Nguyên. Ông còn là tác giả nhiều truyện ngắn đặc sắc, trong đó có truyện Mặt trận ở Sài Gòn (Tạp chí Trình Bầy, số 34, ngày 18.12.1971) khiến tờ báo bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa tịch thu và đưa ra tòa. Định cư ở Mĩ từ năm 1983, ông là bác sĩ nội trú, thường trú, tham gia điều trị và giảng dạy trong một số bệnh viện ở New York, California. Trong thời gian này, ông vừa hành nghề y khoa vừa tiếp tục sáng tác và khảo cứu. Đặc biệt, ông tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường sinh thái ở lưu vực sông Mekong, đã nhiều lần về Việt Nam cộng tác với các nhà khoa học trong nước ở công việc nhiều ý nghĩa này. Về lĩnh vực này, ông đã xuất bản hai cuốn sách có giá trị: Cửu Long cạn dòng, biển Đông dậy sóng (2000) và Mekong – dòng sông nghẽn mạch (2007).

   Công trình gần đây nhất của Ngô Thế Vinh là bộ sách hai tập: Tuyển tập chân dung văn học, nghệ thuật & văn hóa (Việt Ecology Press, tập I, 2017; tập II, 2022). Qua bộ sách này, tác giả cho thấy hoạt động văn hóa, văn nghệ của một số trí thức ở miền Nam Việt Nam trước 1975, sau đó tiếp tục hành trình ở nước ngoài; đồng thời diễn tả tâm tư của những người ly hương luôn mang nặng tình tự dân tộc. Bộ sách này đã được Eric Henry dịch sang tiếng Anh và xuất bản ở Mĩ với nhan đề Creative World of the South Vietnam and Overseas 1954-1975 to the Present (2025). Bài viết này giới thiệu khái quát về nội dung bộ sách đó.

   Mỗi người đi qua cuộc đời này như một khách bộ hành đi trên đường cái, để lại dưới nắng chiều một hình bóng. Những người đến sau nhớ đến con người đó qua một chân dung rõ nét hay nhạt nhòa, thậm chí có khi chỉ là một cái bóng mờ ảo trên tường như cái bóng của nàng Vũ Thị Thiết – người thiếu phụ làng Nam Xương.

   Những người làm văn hóa, văn học, nghệ thuật có ưu thế hơn những người bình thường nhờ phương thức hoạt động của họ có thể lưu giữ trong ký ức hậu thế những hình ảnh thị giác qua hội họa, điêu khắc, phim ảnh; những hình tượng âm thanh qua băng từ, đĩa hát; những hình ảnh tưởng tượng qua ngôn ngữ văn chương. Từ bức tranh đời sống mà người nghệ sĩ tái tạo, có thể hiện lên bức chân dung tinh thần của họ trong sự giao tiếp sinh động với tha nhân qua dòng thời gian.   

   Hẳn nhiên, được khúc xạ qua thời gian và qua cái nhìn của kẻ khác, bức chân dung một con người có thể biến dạng như bóng cây soi trên mặt hồ hay chỉ là một trắc diện trong tấm ảnh truyền thần. Ở đó có phần ổn định của tính cách, lại có phần thêm vào và phần bớt đi của người tiếp nhận. Theo ý nghĩa đó, trong phần cuối tiểu thuyết tự truyện Những cảnh đời tỉnh lẻ1, J. M. Coetzee đã thể nghiệm những cuộc phỏng vấn giả tưởng đối với những người thân, để ức đoán phút nói thật về ông khi ông đã từ trần, hầu tự họa ra chân dung của chính mình. Dẫu vậy, đây vẫn không phải là bức chân dung toàn vẹn, tròn đầy, suy cho cùng cũng chỉ là những trắc diện mà thôi.

   Cầm bút khởi thảo Tuyển tập chân dung văn học, nghệ thuật & văn hóa, có lẽ Ngô Thế Vinh đã lường hết những khó khăn và thử thách mà ông phải đối diện. Những đối tượng khảo sát của ông là những người cùng thời đã từng được các tác giả khác phác vẽ chân dung. Vậy ông phải tìm một cách thế khác, một con đường riêng của mình để tiếp cận và khai mở cuộc đời, tính cách của các đối tượng ấy.

   Thể loại chân dung đòi hỏi người viết thông qua ngoại hình mà miêu tả thần thái, thông qua hành trạng mà khắc họa tính cách, thông qua sự nghiệp mà đánh giá lẽ sống. Không thể chỉ đi lướt qua nhau mà khắc họa được chân dung của nhau. Những nhân vật mà Ngô Thế Vinh xây dựng đều là những người ông giao tiếp lâu năm, nhiều lần gặp gỡ, để lại không ít kỷ niệm, giúp ông hiểu biết sâu sắc cuộc đời của họ trong những khía cạnh đa dạng. Ông có giao tình với Mặc Đỗ từ những năm 1960, với Như Phong từ trước 1963; gần gũi người bạn tấm cám Nghiêu Đề từ thời sinh viên; quen biết các nhà văn Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Xuân Hoàng, Trần Hoài Thư, các họa sĩ Đinh Cường, Nguyên Khai, Hoàng Ngọc Biên… Có thể nói không một chân dung nào trong hai tập sách này được ông nhìn và vẽ từ xa.

   Nhưng Ngô Thế Vinh không lạm dụng ưu thế của sự quen biết và tình thân để viết chân dung, bởi sự lạm dụng ấy một mặt có thể khiến ngòi bút của người viết lệch về phía chủ quan, mặt khác có thể gieo rắc sự hoài nghi từ phía độc giả. Ông không nói về đối tượng chỉ qua những ghi nhận bằng ống thu hình cận cảnh hay những cảm nhận riêng tư của một kẻ tri âm. Khi cần thiết, ông sẵn sàng đứng lui ra phía sau, dành chỗ cho đối tượng hiện ra giữa những tư liệu và chứng cứ khách quan, trung thực, để cho câu chuyện và sự kiện về một con người tự nó lên tiếng thay vì đưa vào văn bản quá nhiều lời bình phẩm xuất phát từ cái tôi của người viết. Thành ra văn viết về chân dung trong hai tập sách này không phải là loại văn cảm tính, ấn tượng mà là văn khảo sát cá tính, văn nghiên cứu nhân cách của những người nghệ sĩ. Hầu như bạn đọc không bắt gặp ở đây giọng trữ tình mượt mà, bóng bẩy; thay vào đó là lối viết “thực chứng” của một nhà khoa học thực nghiệm, với những nhận xét có sở cứ, những trích dẫn chuẩn xác, những thư từ và hình ảnh quý hiếm được lưu giữ qua năm tháng. Ấy vậy mà đọc hết hai cuốn sách dày, người đọc không có cảm giác nặng nề vì luôn được khám phá, phát hiện theo dòng kể chuyện về đường đời và số phận của các nhân vật với những bức chân dung hiện ra sinh động cả qua kênh chữ lẫn kênh hình, qua ngôn ngữ trần thuật lẫn ngôn ngữ đối thoại. Kinh nghiệm làm báo và viết văn xuôi tư liệu, cả kinh nghiệm của một người thầy thuốc, chắc hẳn giúp ích không ít cho Ngô Thế Vinh trong phương pháp và kỹ thuật viết chân dung.

   Có thể nói, dưới ngòi bút Ngô Thế Vinh, chân dung văn học trở thành một thể loại tổng hợp, kết nối và thu hút vào trong lòng nó nhiều thể loại khác: thơ, truyện, tùy bút, nhật ký, phỏng vấn, khảo cứu, kinh nghiệm sáng tác… Có sự kết hợp giữa khoa học và nghệ thuật, thể loại chân dung ở đây như một bản hợp xướng nhiều bè mà tác giả là người nhạc trưởng phối khí và chỉ huy để tạo ra một toàn thể tác phẩm hoàn chỉnh. 

   Những điểm khác biệt không lẫn được của Ngô Thế Vinh trong thể chân dung có thể nhận ra qua sự so sánh với những tác giả tài năng khác trên lĩnh vực này ở miền Nam và ở nước ngoài như Tạ Tỵ, Mai Thảo, Du Tử Lê, Huỳnh Hữu Ủy, Trần Doãn Nho, Bùi Vĩnh Phúc… – những người viết chân dung mang nghệ sĩ tính.

   Với những chân dung như những bức tranh treo trong phòng triển lãm Mười khuôn mặt văn nghệ (NXB. Nam Chi Tùng Thư, 1970) cùng Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay (NXB. Lá Bối, 1971), trên cái nền của vốn sống và sự từng trải, Tạ Tỵ đã dùng ngôn từ của người viết tiểu sử và văn phong tùy bút để điểm tô cho những nét ký họa nhân vật mà ông quen thuộc đời tư, tính cách và tính khí. Có thể xem đó là những khảo luận - tùy bút - chân dung kết hợp với phân tích văn bản. Điều thú vị là trong khi tranh lập thể của Tạ Tỵ xuất hiện những nét vẽ cả quyết, mạnh bạo thì giọng văn viết chân dung của ông lại có nhiều phân vân, ngập ngừng và lưỡng lự.

   Viết Chân dung 15 nhà văn, nhà thơ Việt Nam (NXB. Văn Khoa, 1985), Mai Thảo thực hành một sáng tạo nghệ thuật đích thực với phong cách ngôn từ của riêng ông và gửi gắm vào đó những tâm trạng vui buồn khác nhau. Tác giả xác định ngay từ đầu: “Đó là mọi chân dung đã được minh hoạ và đều chỉ được minh họa từ những chất liệu của trí nhớ và kỷ niệm. Không bằng tài liệu văn học, bằng tác phẩm”. Dưới ngòi bút Mai Thảo, trong cái nhìn nhất phiến của ông và qua tâm thức của một người đang hồi cố về dĩ vãng, mỗi chân dung là một số phận, một con đường trải qua bao gập ghềnh, để khẳng định cá tính sáng tạo, dù ông không quan tâm tổng kết sự nghiệp của họ như những công tích để lại cho đời.

   Bộ sách hai quyển Phác họa toàn cảnh sinh hoạt 20 năm văn học, nghệ thuật miền Nam Việt Nam 1954-1975 (Quyển 1, Người Việt Books, 2014; Quyển 2, HT Productions, 2016) của Du Tử Lê dễ gây cho người đọc ấn tượng về một công trình lược thảo văn học sử, thật sự là tập hợp những chân dung văn nghệ (âm nhạc, điện ảnh, hội họa, thi ca, văn xuôi…) nằm trong sự quan tâm và thiện cảm của tác giả. Ông gọi đó là những “tùy-bút-nhận-định”, trong đó chất tùy bút có phần lấn át chất nhận định. Văn bản chân dung của Du Tử Lê thiên về bút pháp trữ tình, nhiều liên tưởng và tưởng tượng, nhiều điệp ngữ như thơ. Cách chọn nhân vật cũng tương đối thoải mái, nội dung và cấu trúc bài viết không chặt chẽ và nhất quán, có khi chỉ lẩy ra từ một khía cạnh của cuộc đời nghệ sĩ. Thế mạnh của ngòi bút ông là những chi tiết của đời tư mà nhiều khi chỉ có ông nắm bắt và ghi nhận được, điểm xuyết và lóe sáng trong văn.

   Cách viết chân dung của Ngô Thế Vinh xa lạ với sự phóng túng của tùy bút, đồng thời cũng xa lạ với sự lắp ghép cơ giới những tư liệu. Ông quan niệm “bài viết có thể thiếu, nhưng phần tư liệu thì cần chính xác và không thể sai”, xem đó như một nguyên tắc phải tuân thủ nghiêm ngặt. Có những tư liệu ông thu thập được một cách cẩn trọng và tái tạo nhuần nhuyễn trong văn bản làm nên chất liệu sống của nó. Có những tư liệu ông đưa trực tiếp vào trong văn bản như một thành tố gắn liền, thay vì đặt ở phần phụ lục như một vài tác giả khác, để người đọc tiếp cận tự nguồn và cảm nhận trong dáng vẻ nguyên thủy. Tự xem mình như người “góp nhật cát đá” hay đi tìm “những dấu chân chim trên cát”, ông chắt lọc tư liệu và dàn dựng lại như dựng một bộ phim có cấu trúc chặt chẽ, hợp lý. Từ bài viết công phu của Ngô Thế Vinh với hình ảnh đầy chất thơ về con chim chằng nghịch nay đã mất dấu trên quê hương, một đạo diễn tài năng có thể dựng nên một cuốn phim cảm động về tình yêu và số phận của Trần Hoài Thư - Nguyễn Ngọc Yến trên con đường đời nửa thế kỷ. Hà Ngọc Thuần có lý khi gọi những bài viết của Ngô Thế Vinh là “essai biographique” (luận văn tiểu sử).

   Thử lấy một thí dụ khá tế nhị mà Ngô Thế Vinh có lẽ là người có thẩm quyền viết về vấn đề này, đó là sức khỏe của văn nghệ sĩ. Còn nhớ, trong Hồi ký Nguyễn Hiến Lê (NXB. Văn học, 1992), tác giả không ngần ngại dành một mục dài nói về những căn bệnh mà ông từng mắc phải, phương pháp điều trị và những hàm ơn của ông dành cho các bác sĩ thân thiết. Đó là nhà văn tự nói về “khiếm khuyết” của cơ thể mình. Bây giờ Ngô Thế Vinh nói về điều “nhạy cảm” đó của văn hữu khi mà họ và thân nhân có thể đọc được thông tin ám ảnh về những cơn đau “vật vã đến xanh xao”, “những trận đau bướng bỉnh và rất quái quỷ” được lý giải dưới góc nhìn đạo đức y khoa. Bản lĩnh của người nghệ sĩ khi chống chọi với bệnh tật và cái chết nói lên tính cách và nhân sinh quan của người đó. Không phải là “méo mó nghề nghiệp”, sự quan tâm chu đáo của Ngô Thế Vinh với sức khỏe của bạn văn vừa nói lên tấm lòng, nỗi lo của ông, vừa nói rằng thể trạng của người nghệ sĩ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tâm lý sáng tạo, đến cả từng câu văn, nét vẽ. Người không có kiến văn sâu rộng về y khoa không thể đưa ra những cắt nghĩa khả tín về tình trạng sức khỏe của các nhân vật để tạo dựng đầy đủ diện mạo của họ trên cuộc đời đầy khổ ải này.

   Bước vào thế giới nghệ thuật phi hư cấu mà Ngô Thế Vinh xây dựng, ta không chỉ tiếp cận những chân dung của đời sống cá nhân mà còn tiếp cận bức chân dung tinh thần của một lớp người, một thế hệ trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Sự liên kết và tương tác cá nhân tạo nên một cộng đồng số phận với những cách ứng xử khác nhau trước thời cuộc nhưng cùng một tâm thức về tình cảnh và thời thế, cùng cố gắng bảo toàn khuôn mặt tinh thần của thế hệ mình trong căn cốt văn hóa của nó.

   Nói theo Ngô Thế Vinh, đó là một thế hệ lạc lõng, tìm đường và cùng đường, đồng thời cũng là một thế hệ đầy cao vọng và ảo vọng – những “người đi trên mây”, như nhan đề một tác phẩm của Nguyễn Xuân Hoàng. Dù chọn lựa đúng hay sai – là đúng sai với hoàn cảnh hơn là đúng sai với lương tâm mình – họ cũng đều day dứt không thôi trước lẽ đời nhân quả. Chiến tranh và cuộc xung đột ý thức hệ đã cuốn họ vào guồng máy của nó, như buổi đầu phân hóa được phản ánh trong tiểu thuyết trường thiên Giòng sông Thanh Thủy (NXB. Đời Nay, 1961) của Nhất Linh, đã gây ra bao thù hận ngút trời và vết thương chia cắt đến nay vẫn còn rỉ máu. Như ý nghĩ của một nhân vật trong Siu Cô Nương (NXB. Quan Điểm, 1959) của Mặc Đỗ được ghi lại trong cuốn sách này, khi anh ta từ ô cửa tàu hỏa nhìn những người nông dân chân lấm tay bùn trên cánh đồng hai bên đường và nghĩ: “Mai ngày những con người kia sẽ thành thù địch ư?”. Không, không một người Việt Nam nào bẩm sinh có thể trở thành thù địch với những người “cùng bào thai” với mình. Đó chẳng qua là sự vô minh của lịch sử kéo theo những đêm trường trên đất nước.

   Trong hoàn cảnh cực đoan của dân tộc, đời sống văn học, nghệ thuật miền Nam những năm 1954-1975 không phải chỉ có những điểm sáng. Không thiếu những cám dỗ của tiền tài, địa vị, danh vọng; không tránh khỏi những sa ngã về phía này hay phía khác. Nhưng ở thời điểm nào, giới trí thức tinh hoa vẫn là tấm gương sáng cho văn hóa, khoa học và nghệ thuật như những hình ảnh đẹp trong hai cuốn sách này. Đó là những bậc minh sư khả kính Phạm Biểu Tâm, Hoàng Tiến Bảo, Trần Ngọc Ninh với những dự phóng cho một nền y học Việt Nam tiên tiến và nhân bản. Đó là Phạm Hoàng Hộ, tác giả các bộ sách quý Cây cỏ miền Nam Việt Nam (2 quyển, Trung tâm Học liệu Bộ Giáo dục xuất bản, 1970-1972); Cây cỏ Việt Nam (2 tập, gồm 6 quyển, tác giả xuất bản, Montréal, 1991-1993)… với giấc mơ bảo tồn và phục hồi thảm thực vật đa dạng của đất nước.

   Sau những dở dang trên chính trường, dù không thành đạt như ý nguyện trong dự định khôi phục ảnh hưởng của Tự lực văn đoàn với việc sáng lập Tạp chí Văn Hóa Ngày Nay và Nhà xuất bản Phượng Giang, Nhất Linh vẫn là bậc trưởng thượng có sức vẫy gọi. Cứ xem việc ông quan tâm khích lệ những nhà văn trẻ thì biết. Cả Nhất Linh, Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến đều tán dương Linh Bảo và đích thân Nhất Linh biên tập rồi xin thủ tục xuất bản tiểu thuyết Gió bấc (NXB. Phượng Giang, 1953) của nhà văn này, lúc bà chưa phải là tên tuổi quen biết trên văn đàn.

   Không làm văn học bằng sáng tác mà bằng cách tập hợp, phổ biến tác phẩm của các nhà văn từ những khuynh hướng và quan niệm nghệ thuật khác nhau, Lê Ngộ Châu, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút Tạp chí Bách Khoa, với tấm lòng liên tài đã giành được tình cảm thủy chung của văn hữu và đồng nghiệp. Cùng với Nguyễn Đình Vượng và Trần Phong Giao ở Tạp chí Văn, ông có thể được xem là “bà đỡ” cho sự ra đời những tác phẩm của “những cây bút trẻ sẽ đi xa trong tương lai”. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa không phải lúc nào cũng ưu ái với văn nghệ sĩ, nhất là những văn nghệ sĩ có “chất men bất phục tùng và phản kháng”, thậm chí còn đưa ra một số biện pháp trừng phạt khắc nghiệt, nhưng họ cũng không ngăn trở những hoạt động dân sự lành mạnh có ích cho sự phát triển của văn hóa, nghệ thuật.

   Tất nhiên, chân dung cũng là những hiện tượng, mà theo E. Husserl, hiện tượng chẳng qua là những gì hiện ra trước ý thức ta. Ta không phải là Thượng đế để có cái nhìn toàn tri mà biết tất cả, biết hết về đối tượng. Cũng như bức chân dung cá thể, bức chân dung tập thể là những trắc diện mà những khoảng trống chỉ có thể được khắc phục bằng nỗ lực của nhiều người từ nhiều góc nhìn khác nhau, bổ sung cho nhau. Ngô Thế Vinh khẳng định vị trí và công lao Võ Phiến, đồng thời ông cũng thẳng thắn nhận xét rằng tác giả bộ Văn học Miền Nam (NXB. Văn Nghệ, 1986) đã “sử dụng cái sở trường văn phong tùy bút nay thành sở đoản để châm biếm, mỉa mai cá nhân với nhiều định kiến thiên lệch”.

   Đọc Tuyển tập chân dung văn học, nghệ thuật & văn hóa của Ngô Thế Vinh, chắc hẳn có những độc giả không tán thành và chia sẻ quan niệm của tác giả cũng như chính kiến một số nhân vật của ông. Điều đó không chỉ xuất phát từ chỗ đứng của mỗi người trong hiện tại mà còn do chi phối bởi tầm nhìn về sứ mạng của người trí thức trong tương lai của dân tộc. Quá khứ nặng nề luôn ám ảnh không thể nào dứt bỏ một sớm một chiều. Vấn đề là làm sao để quá khứ không mãi là tảng đá trì kéo người Việt Nam trên con đường đi tới tương lai như đã trì kéo gần nửa thế kỷ qua; làm sao để trao truyền cho con cháu chúng ta một nền văn hóa, văn nghệ khoan dung và nhân bản, để cho quê hương Việt Nam còn là nơi trở về và sum họp của các thế hệ hậu sinh.

   Tất nhiên, đời người là một chuỗi những chọn lựa mà không ai ở ngoài cuộc có thể cắt nghĩa thấu đáo, thậm chí bản thân người trong cuộc cũng không cắt nghĩa được rõ ràng. Rồi thì ai nấy đều phải đối diện với ngày phán xử cuối cùng. Ta đâu có quyền gì để lấy cái đấu của ta mà đong cho người khác. Ba nhà văn chủ lực của nhóm Quan Điểm kiên trì chủ nghĩa quốc gia, theo Ngô Thế Vinh, “phần cuối cuộc đời đều có khuynh hướng thiên về đạo Phật”, điều mà chính họ không hình dung thời trẻ tuổi: Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ Đỗ Quang Bình và Tuyết Ngưu Vũ Khắc Khoan. Rồi Tạ Tỵ, Phạm Duy, Tạ Chí Đại Trường, dù biết trước những khó khăn, phiền toái, đã chấp nhận trở về chết trên quê hương, điều mà họ cũng không dự kiến trong ngày bỏ xứ ra đi.

   Tấm gương phản ánh chân dung văn nghệ sĩ không chỉ là tiểu sử, hành trạng mà quan trọng là tác phẩm của họ nhiều khi tách khỏi chức năng quy chiếu và biểu hiện của nó để tồn tại như một công trình nghệ thuật độc đáo và độc lập với chủ thể và bối cảnh. Để rồi công chúng dõi xem đời sống của những tác phẩm đó dài lâu đến đâu, khỏe mạnh đến đâu, khi lịch sử vẫn đang cuộn chảy và biến thiên không ngừng và sự phán xét lúc đó sẽ không hoàn toàn phụ thuộc vào những người đã qua mà thuộc về những thế hệ đang tới và sẽ tới trong cuộc đời này.

   Liệu qua những bài viết về chân dung văn nghệ sĩ, ta có thể nhận ra bức chân dung của chính người viết chân dung? Người miêu tả những bức tranh này có gửi vào đó tâm cảm của mình? Nói Ngô Thế Vinh là nhà văn tôn trọng tính khách quan, là ngòi bút kiềm chế cảm xúc không có nghĩa là độc giả không nhận ra được gì về hình ảnh của ông trong những trang văn phi hư cấu. Vậy có thể nói gì về chính tác giả Ngô Thế Vinh qua Tuyển tập chân dung văn học, nghệ thuật & văn hóa này? Thiết nghĩ, học tập chính tác giả, ta có thể căn cứ vào những yếu tố của văn bản để tìm sở cứ cho những ức đoán của mình.

   Một là, hai bài phỏng vấn Ngô Thế Vinh do Lê Ngộ Châu và Phùng Nguyễn thực hiện. Đó là những phút trải lòng của tác giả khi ông công bố tiểu thuyết Vòng đai xanh (NXB. Thái Độ, 1970) và truyện ngắn Mặt trận ở Sài Gòn (Tạp chí Trình Bầy số 34, ngày 18.12.1971), rồi sau này khi nhìn lại hai hiện tượng đó. Từ rất sớm, bước vào nghề văn gần như đồng thời với nghề y, Ngô Thế Vinh tự giác hay ngẫu nhiên đã chọn con đường văn chương sử tính, văn chương thời tính, vì vậy mà tác phẩm của ông từ tiểu thuyết đầu tay Mây bão (NXB. Sông Mã, 1963) cho đến ký sự Mekong – dòng sông nghẽn mạch (Văn học Press & Việt Ecology Press, 2021) đều mang dấu ấn của lịch sử, của thời đại. Đó là con người không ngại đối diện với những vấn đề gai góc nhất của thực tế, như năm 22 tuổi, ông lên tận Bộ Thông tin Việt Nam Cộng hòa khiếu nại và yêu cầu chính quyền cấp phép xuất bản cho tiểu thuyết Mây bão hay khi ông cùng bạn đồng môn Phạm Đình Vy phỏng vấn trực tiếp Thượng tọa Thích Trí Quang ở chùa Từ Đàm để đặt những câu hỏi nóng bỏng thời sự về bối cảnh chính trị và tôn giáo đương thời.

   Hai là, những đoạn văn trữ tình gắn kết “một chút riêng tư” trong câu chuyện của các bậc thầy, các nhà văn đàn anh và văn hữu đồng thế hệ. Ông không ngần ngại chia sẻ những kỷ niệm với bạn đọc, trong giới hạn, nó làm sáng tỏ hơn tính cách một con người, đồng thời làm rõ tấm lòng liên tài, sự quan tâm ân cần trong tình bạn. Ông nhập thân vào tác phẩm của Nghiêu Đề: “Có ngồi hàng giờ, im lặng theo dõi những nét cọ của Nghiêu Đề, để thấy là từ những tảng sơn dầu dầy cộm màu thô sượng, khi được cây cọ Nghiêu Đề miết lên mặt bố thoáng chốc trở thành một nền xanh ngọc ửng sáng mềm mại, cho dù chuyển sang vùng xanh đậm mảng tranh vẫn không hề thiếu nét long lanh của ánh sáng, chất liệu thì mượt mà, bố cục vững chắc mà vẫn thanh thoát, rất Nghiêu Đề”. Nếu không có tấm lòng đó, người ta không lưu giữ qua suốt nửa thế kỷ một tấm ảnh, một trang thư, một dòng đề tặng. Không phải ngẫu nhiên mà Nhất Linh trước và Mặc Đỗ sau đều có lòng tin tưởng gửi gắm bản sao di bút của mình cho Ngô Thế Vinh – một văn hữu vong niên trung thực và chu đáo.

   Ba là, cung cách khảo sát, trình bày, tái hiện một chân dung vừa khoa học vừa nghệ thuật. Nhìn cách tác giả sắp xếp, tổ chức văn bản và hình ảnh cho một bài viết, ta thấy sự dụng công và kỹ lưỡng của ông. Qua những tấm ảnh chụp cùng đồng nghiệp, có vẻ như Ngô Thế Vinh mang phong cách lịch thiệp của một nhà giáo hơn là một nghệ sĩ. “Bạn có nếp sống ngăn nắp, tươm tất”, câu nói đó của Đinh Cường về Ngô Thế Vinh được xác nhận qua cách làm sách cẩn trọng của ông, từ sự chọn lựa chủ đề cho đến một dòng chú thích, một chữ viết hoa.

   Can đảm và nhân hậu, lịch thiệp và ân cần, phải chăng người và văn Ngô Thế Vinh nhất quán với nhau ở những tính chất đó. Nhưng đây là một cái nhìn từ xa, qua trung gian của hình ảnh và ngôn ngữ. Có lẽ ta còn phải chờ đợi, biết đâu chính Ngô Thế Vinh không là “nguyên mẫu” của một bức tranh chân dung bằng lời đang được ai đó thực hiện và sẽ sớm hoàn thành.

 

 

 

Chú thích:
* Đọc Tuyển tập chân dung văn học, nghệ thuật & văn hóa (2 tập) của Ngô Thế Vinh, Việt Ecology Press, tập I, 2017; tập II, 2022.
1 J. M. Coetzee (2020), Những cảnh đời tỉnh lẻ (tiểu thuyết tự thuật, 3 tập: Tuổi thơ, Tuổi trẻ, Mùa hè; bản dịch của Hương Châu), NXB. Phụ nữ Việt Nam - Phương Nam Book.

Bình luận

    Chưa có bình luận