Sau 50 năm đất nước thống nhất và gần 40 năm đổi mới, giờ đây, Việt Nam đang bước vào một kỷ nguyên mới của dân tộc: hội nhập quốc tế toàn diện để phát triển đất nước phồn vinh, thịnh vượng. Điện ảnh – ngành nghệ thuật tổng hợp, phát triển trên cơ sở công nghệ hiện đại, có sức mạnh quảng bá rộng lớn và mang tính quốc tế cao – có nhiều lợi thế trong bối cảnh toàn cầu hoá, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo.
Nhìn lại 50 năm qua, điện ảnh hoà cùng với những thăng trầm của đất nước để hàn gắn vết thương chiến tranh, bảo vệ độc lập và chủ quyền của dân tộc, vượt qua bao gian nan thử thánh trong công cuộc tái thiết, xây dựng và phát triển nước Việt Nam giàu mạnh. Một thực tế không thể chối từ là trong mấy chục năm qua, bên cạnh dòng chảy điện ảnh chính thống trong nước còn có một dòng chảy điện ảnh của các đạo diễn gốc Việt ở ngoài nước và các đạo diễn gốc Việt về Việt Nam sinh sống. Cần xác định là nếu chia chặng đường lịch sử 50 năm đất nước thống nhất thành các giai đoạn thì có thể tạm gọi như sau: 1975-1985 là giai đoạn tái thiết đất nước sau chiến tranh trong thời “bao cấp”; 1986-1995: giai đoạn đổi mới và mở cửa; 1996-2010: giai đoạn hội nhập sâu rộng và tăng trưởng; từ 2011 đến nay: đất nước có vị thế mới, bước vào kỷ nguyên số gắn với ổn định và phát triển. Với cách phân chia như vây, phim của các đạo diễn người Việt Nam ở nước ngoài “xuất hiện” ở Việt Nam bắt đầu từ giai đoạn 2, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới và mở cửa. Ngay từ đó, bắt đầu có những tác phẩm của đạo diễn gốc Việt đạt được những thành công lớn tại các liên hoan phim quốc tế (LHPQT) danh giá trên thế giới. Đánh giá vị trí, vai trò của dòng phim do các đạo diễn người Việt Nam ở nước ngoài thực hiện là việc làm cần thiết, nhưng trong chục năm trở lại đây, chưa có một diễn đàn điện ảnh bàn thấu đáo về vấn đề này.
Cách đây gần 20 năm, vào năm 2006, một cuộc toạ đàm chủ đề Phim truyện đề tài Việt Nam của các đạo diễn người Việt ở nước ngoài do Viện Phim Việt Nam tổ chức đã đánh giá sơ bộ những giá trị, hạn chế cũng như một số vấn đề nổi lên từ phim của các đạo diễn gốc Việt ở nước ngoài: cách tiếp cận đề tài Việt Nam của các đạo diễn người Việt ở ngoài nước có gì khác với các đạo diễn trong nước; yếu tố dân tộc từ chất liệu Việt Nam trong các tác phẩm của các đạo diễn người Việt ở ngoài nước thể hiện như thế nào; đóng góp của dòng phim đó như thế nào đối với sự phát triển của điện ảnh trong nước và tác dụng đối với quốc tế…
Từ đó đến nay, dòng phim của các đạo diễn gốc Việt có sự phát triển và thay đổi đáng kể, theo đó, việc nhìn nhận, đánh giá dòng phim này càng cần thiết và quan trọng. Trong khuôn khổ của một bài viết, tôi xin được đi vào 3 điểm chính: thứ nhất là vị trí của dòng phim của các đạo diễn gốc Việt ở nước ngoài đối với công chúng quốc tế; thứ hai, vai trò dòng phim của các đạo diễn gốc Việt về nước sinh sống trong dòng chảy điện ảnh Việt Nam; thứ ba là làm thế nào để phát huy tác dụng dòng chảy phim của các đạo diễn gốc Việt ở nước ngoài trong kỷ nguyên mới.
1. Vị trí dòng phim của các đạo diễn người Việt Nam ở ngoài nước đối với công chúng quốc tế
Trong nhiều thập kỷ qua, hàng trăm bộ phim Việt Nam đã được giới thiệu tại các LHPQT, hàng chục bộ phim đã được trao các giải thưởng lớn và nhỏ khác nhau (tất nhiên, phim của chúng ta chưa thường xuyên lọt vào các LHPQT hàng đầu như Cannes, Berlin, Venice). Nhưng có một thực tế là phim Việt Nam hầu như chưa xuất hiện rộng rãi trong mạng lưới phát hành ở nước ngoài mà mới chỉ được biết đến qua các liên hoan phim quốc tế và khu vực, các tuần phim, tuần văn hoá, nghĩa là mỗi bộ phim có được chọn tham dự các hoạt động này thì cũng chỉ chiếu một hai lần rồi thôi. Như vậy, số người được xem phim Việt Nam để biết ít nhiều về điện ảnh Việt Nam mới ở trong phạm vi rất nhỏ hẹp, có thể nói là “muối bỏ bể”! Hơn nữa, có không ít bộ phim được chúng ta cho là đã phản ánh khá sâu sắc những vấn đề xã hội Việt Nam, được đánh giá cao ở trong nước, khán giả ta xem rất xúc động nhưng khi đưa ra nước ngoài thì không tìm được sự đồng cảm và hào hứng như vậy và cũng không được đánh giá cao tại các LHPQT quan trọng.
Trong khi đó thì một số phim của các đạo diễn gốc Việt đã thành công khi dự thi tại các LHPQT và lại được phát hành rộng rãi ở nhiều nước, ví dụ như phim Mùi đu đủ xanh của đạo diễn Pháp gốc Việt Trần Anh Hùng. Khán giả và giới điện ảnh ở nhiều nước coi đây là đạo diễn tiêu biểu của điện ảnh Việt Nam, thậm chí một số người nước ngoài khi nói đến điện ảnh Việt Nam thường nhắc ngay đến Trần Anh Hùng. Chúng ta giải thích thế nào về hiện tượng này? Phải chăng chỉ vì các hãng phim nước ngoài có lợi thế về kinh phí đầu tư sản xuất, về quảng cáo mà phim của Trần Anh Hùng thành công trong giới nghề nghiệp và chiếm lĩnh được thị trường như vậy? Thực chất phim của Trần Anh Hùng chứa đựng những gì bên trong, có những bí quyết gì ẩn chứa trong đó? Xin được xem xét cụ thể vào tác phẩm.
Phim của Trần Anh Hùng có những cách đặt vấn đề khác lạ, lại có những thủ pháp thể hiện gây “dị ứng” đối với nhiều khán giả Việt Nam. Trước tiên, xin luận bàn những điểm tích cực nhất về cả nội dung và nghệ thuật từ hai bộ phim của nhà đạo diễn gốc Việt này là Mùi đu đủ xanh và Mùa hè chiều thẳng đứng như một nghiên cứu trường hợp. Điều dễ nhận thấy trước hết là phim của Trần Anh Hùng như những ký ức sinh động và tinh tế về Việt Nam. Bộ phim đầu tiên Mùi đu đủ xanh (1993) là hồi ức về một Việt Nam thời quá vãng, một miền Nam Việt Nam cách đây hơn nửa thế kỷ, bắt nguồn từ “nỗi nhớ về những kỷ niệm tuổi thơ – một mùi vị Việt Nam”. Còn Mùa hè chiều thẳng đứng (2000) là những ký ức và hình dung rất riêng của anh về một Hà Nội cổ kính thông qua những gì anh bắt gặp, anh chiêm ngưỡng từ một Hà Nội ngày hôm nay. Ở cả hai bộ phim, trục nhân vật chính của Trần Anh Hùng là trục nhân vật nữ, còn các nhân vật nam được phác hoạ một cách mờ nhạt, như thể chỉ để làm nền cho bức chân dung kỹ lưỡng về các nhân vật nữ. Ba nhân vật tạo nên trục nữ trong Mùi đu đủ xanh là Mùi, cô gái giúp việc nết na chăm chỉ, suốt ngày như cô Lọ Lem quẩn quanh trong bếp; là bà chủ nhà – người đàn bà nhân hậu gánh trên vai mọi gánh nặng gia đình và âm thầm chịu mọi thiệt thòi trong cuộc sống riêng tư; là bà nội – một bà già gần đất xa trời ngày ngày ngồi tụng kinh gõ mõ một mình trên gác để nhớ về một thế giới xa xăm nào đó. Ta mường tượng thấy cách hình dung của Trần Anh Hùng về hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong “trục nữ” này, với quá khứ (bà nội), hiện tại (bà chủ) và tương lai (Mùi). Trục nhân vật nữ ở Mùa hè chiều thẳng đứng là ba chị em gái một gia đình bình thường, có thể nói là trung lưu ở Hà Nội. Ba chị em mỗi người một số phận, một cá tính, được đạo diễn mô tả dịu, nuột và tĩnh lặng như trong những bức tranh lụa. Nhưng ở nhiều chỗ khác, họ lại được đặt gần nhau – đúng hơn là nhiều lúc được đặt lồng vào trong nhau – như ba mặt, ba góc nhìn với một không gian nhiều chiều trong một bức tranh lập thể. Ta thấy trong “trục nữ” này nỗi nhớ và tâm thức hướng về những gì mang tính truyền thống thông qua nỗi nhớ người mẹ và người cha đã khuất của họ. Ta cũng thấy những khát vọng bình thường về tình yêu đôi lứa, về hạnh phúc gia đình và cả những bản năng phụ nữ của họ về sinh con đẻ cái, duy trì cuộc sống gia đình... Sự muôn hình muôn vẻ và sức sống mãnh liệt, bền bỉ từ đời này sang đời khác của cuộc sống con người phải chăng được tạo nên chính từ những chân dung lồ lộ trên bề mặt và những góc khuất bên trong của trục nhân vật nữ trong cả hai bộ phim? Điều này có thể xem là một thành công căn cốt của Trần Anh Hùng khi anh dường như đã “chạm” được vào một phần chính yếu của bản sắc Việt Nam: tính nữ. Bởi chưng “nguyên lý mẹ” (chữ của giáo sư Trần Quốc Vượng) được các nhà nghiên cứu văn hóa khẳng định là một trong những nét nổi bật trong bản sắc văn hóa dân tộc ta.
Nhìn vào một bề mặt phim rộng hơn, khi hình ảnh Việt Nam trong “phim nội” sản xuất trong nước mãi mới đến được với một số người và không phải bao giờ cũng hoàn toàn thuyết phục được họ thì nhiều khán giả nước ngoài biết đến hình ảnh Việt Nam qua phim của Trần Anh Hùng và họ hầu như bị chinh phục! Những năm sau, các phim Xích lô (1995) của Trần Anh Hùng, Ba mùa (1999) của Tony Bùi, Mùa len trâu (2004) của Nguyễn Võ Nghiêm Minh, Bụi hồng (1997) và Thời xa vắng (2004) của Hồ Quang Minh, Hạt mưa rơi bao lâu (2005) của Đoàn Minh Phượng - Đoàn Thành Nghĩa… cũng chu du một số LHPQT và đã đạt được một số giải thưởng. Gần đây, Muôn vị nhân gian (2023) của Trần Anh Hùng, Bên trong vỏ kén vàng (2023) của Phạm Thiên Ân đạt được thành công lớn tại LHP Cannes năm 2023.
Vì sao phim của các đạo diễn gốc Việt thành công trên diễn đàn điện ảnh quốc tế?
Đầu tiên, vì các phim này hầu hết là sản phẩm của các hãng phim nước ngoài (hoặc có sự tài trợ, đầu tư của nước ngoài) nên kinh phí sản xuất lớn hơn so với đa số phim sản xuất trong nước. Các hãng sản xuất (hoặc ngay cả bản thân các nhà làm phim) đánh giá đúng tầm quan trọng và rất quan tâm tiếp thị, quảng cáo phim, nắm bắt thị trường tốt, bài bản trong việc tiếp thị và dành những khoản tiền lớn cho công việc này.
Nhưng đó mới chỉ là lý do bên ngoài tác phẩm. Lý do quan trọng hơn khiến phim của các đạo diễn người Việt Nam ở nước ngoài chiếm được sự quan tâm của khán giả ngoài nước chính là những gì chứa đựng bên trong tác phẩm.
Thứ nhất, trong phim của mình, các đạo diễn rất quan tâm đến việc đưa màu sắc Việt Nam lên màn ảnh. Điều này là một lợi thế của các đạo diễn ở nước ngoài – những người có sự gián cách với cuộc sống trong nước và có thể phát hiện ra những nét đẹp, nét lạ, nét độc đáo Việt Nam ngay trong những câu chuyện, tình huống, chi tiết bình thường nhất (điều này có thể nhìn thấy cả ở trong hình thức thể hiện và nội dung phim) mà các đạo diễn trong nước dường như cho là quá “bình thường” nên không phải lúc nào cũng phát hiện ra.
Thứ hai, các đạo diễn người Việt Nam ở nước ngoài biết rõ thị hiếu và nhu cầu của khán giả nước ngoài hơn các đạo diễn trong nước. Đây chính là bí quyết chính dẫn đến thành công: họ biết cách đem đến cho thế giới một bộ phim vừa mang màu sắc Việt Nam lại vừa chứa đựng cả những điều mà nhiều người quan tâm. Nghĩa là từ những cái riêng của một đất nước, họ cố gắng thể hiện sao cho nhiều người ở nhiều quốc gia có thể hiểu và thông cảm được, tìm cách “quốc tế hoá” cái riêng thành cái chung mang tính nhân loại. Phải chăng đây cũng là điều chúng ta cần quan tâm trong xu thế xúc tiến hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay?
Thứ ba, phải thừa nhận rằng tư duy sáng tác và nghệ thuật thể hiện trong phim của các đạo diễn Việt ở nước ngoài tuy có thể xếp ở những “nấc thang” khác nhau nhưng nhìn chung các tác phẩm thành công của họ đã đạt một mức độ chuẩn mực về nghề nghiệp và kỹ thuật mà giới nghề nghiệp điện ảnh quốc tế phải công nhận.
Có một điều đặc biệt là các đạo diễn gốc Việt dường như mang dòng máu Việt Nam trong huyết quản nên có khi khai thác thành công những câu chuyện hoàn toàn “Tây” thì đâu đó vẫn phảng phất một chút gì đó gợi nhớ hương vị Việt. Tôi đang muốn nói đến bộ phim Muôn vị nhân gian của đạo diễn Trần Anh Hùng. Đây là bộ phim tưởng như vừa “mổ xẻ” vừa làm thăng hoa cả “hình”, cả “sắc” và cả “vị” của ẩm thực Pháp hoà quện trong tình yêu kiểu Pháp nhưng không hiểu sao vẫn thấy một “cái gì đó” gợi nhớ hương vị của món phở Việt cùng cái đằm, cái tĩnh của tình yêu Việt! Phải chăng cái “gen” Việt đã làm nên nét độc đáo của chàng đạo diễn Pháp gốc Việt Trần Anh Hùng?
Nhưng ở một góc nhìn ngược lại, bên cạnh những lợi thế trong hội nhập quốc tế và thu hút thị trường điện ảnh nước ngoài như trên, cũng phải thừa nhận rằng phim của các đạo diễn người Việt Nam ở nước ngoài cũng có những hạn chế. Điều này dẫn đến thực trạng là có phim được khán giả trong nước đón nhận nồng nhiệt nhưng có phim bị dư luận phản ứng, bên cạnh đó, có những phim được tiếp nhận với thái độ có phần phân vân, dè dặt. Đó là vì không phải đạo diễn nào cũng có điều kiện hiểu thấu đáo cuộc sống Việt Nam, càng không có điều kiện gắn bó máu thịt với hiện thực cuộc sống như các đạo diễn sống ở trong nước. Hoàn cảnh sống xa đất nước khiến cho không phải ai cũng có thể hiểu được những nét bình dị nhưng tinh tế trong cuộc sống, tình cảm, tâm hồn người Việt Nam. Bởi vậy, khi đạo diễn ở nước ngoài đưa lên màn ảnh những điều xa lạ với tình cảm và cách ứng xử Việt Nam thì cũng là điều dễ hiểu (trường hợp quan hệ “quá thân thiết” không chỉ giữa anh trai - em gái trong phim Mùa hè chiều thẳng đứng là một ví dụ). Điều này chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng là nếu chỉ dừng ở mức thể hiện cuộc sống Việt Nam với những nét lạ, độc đáo theo cảm nhận của người mới gặp gỡ thì không những sẽ ra đời một số phim khiến người xem trong nước cảm thấy xa lạ mà dần dần sẽ dẫn đến sự lặp lại, khiến cho ngay cả người xem nước ngoài cũng không còn hào hứng đón nhận. Có lần tôi đã viết về một vài bộ phim của đạo diễn người Việt Nam ở nước ngoài rằng “đó là những bức tranh rất đẹp, rất ấn tượng nhưng chỉ hợp khi đem lắp trong khung tranh ngoại và treo trong không gian văn hoá phương Tây!”.
2. Vai trò dòng phim của các đạo diễn người Việt Nam ở nước ngoài trong dòng chảy điện ảnh Việt Nam
Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, điện ảnh Việt Nam bước vào cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước. Phim Việt buộc phải có bước chuyển: từ chỗ chỉ có một dòng phim “chính thống” được nhà nước bao cấp từ khâu sản xuất đến khâu phát hành và phổ biến đã ra đời dòng phim “thương mại” do tư nhân đầu tư, mục tiêu đầu tiên là kiếm lãi và đôi khi bất chấp nghề nghiệp, chỉ cốt dùng chiêu trò câu khách. Phong trào nhà nhà làm phim, người người làm phim dẫn đến xu hướng “nghiệp dư hoá”, “thương mại hoá” và đẻ ra những sản phẩm “phim mì ăn liền” không thể gọi là bộ phim.
Trong khi điện ảnh đang chìm dần theo làn sóng phim thị trường, chủ yếu là những phim thảm hoạ hay hài nhảm, một số nhà làm phim gốc Việt ở Mĩ và một vài nước châu Âu trở về Việt Nam. Xuất hiện khá sớm là Lưu Huỳnh với phim Em và Michael (1992) ít nhiều được khán giả chú ý, rồi hơn chục năm sau cho ra đời một phim khá thành công ở trong và ngoài nước là Áo lụa Hà Đông (2006) và một số bộ phim sau không được thành công bằng: Huyền thoại bất tử (2009), Lấy chồng người ta (2012), Hiệp sĩ mù (2014), Hy sinh đời trai (2015). Song song với đó, không ít đạo diễn đã nhanh chóng khẳng định vị thế bằng những tác phẩm có sức lan tỏa và dấu ấn nghệ thuật rõ rệt: Charlie Nguyễn với Dòng máu anh hùng (2007), Để Mai tính (2010), Long Ruồi (2011), Cưới ngay kẻo lỡ (2012), Tèo Em (2013), Để Mai tính 2 (2014)…; Victor Vũ với Chuyện tình xa xứ (2009), Giao lộ định mệnh (2010), Cô dâu đại chiến (2011), Thiên mệnh anh hùng (2012), Scandal: Bí mật thảm đỏ (2012), Cô dâu đại chiến (2014), Quả tim máu (2014), Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (2015), Lôi Báo (2017), Người bất tử (2018), Mắt biếc (2019), Thiên thần hộ mệnh (2021), Người vợ cuối cùng (2022), Thám tử Kiên (2025); Dustin Nguyễn với Lửa Phật (2013), Trúng số (2015), Bao giờ có yêu nhau (2016), 798 Mười (2018); Hàm Trần với Âm mưu giày gót nhọn (2013), Đoạt hồn (2014), Siêu trộm (2016), Bạn gái tôi là sếp (2017), Thất sơn tâm linh (2019); Lê Văn Kiệt với Ngôi nhà trong hẻm (2012), Dịu dàng (2015), Hai Phượng (2019), Bóng đè (2021); Ngô Thanh Vân – nữ đạo diễn xuất thân từ một diễn viên được mệnh danh là “đả nữ” của màn ảnh Việt với Tấm Cám chuyện chưa kể (2016), Thanh Sói - Cúc dại trong đêm (2022); Kathy Uyên, nữ diễn viên thử sức vai trò đạo diễn trong bộ phim Chị chị em em (2019).
Kể ra loạt phim trên đây, cho dù là chưa đầy đủ số phim mà các đạo diễn gốc Việt đã về Việt Nam thực hiện, để khẳng định rằng phim của các đạo diễn gốc Việt đã chiếm một phần rất lớn trong bức tranh điện ảnh Việt Nam. Thậm chí, có những năm, phim của các đạo diễn gốc Việt chiếm đa số trong các phim được sản xuất tại Việt Nam và cũng thành công hơn hẳn về doanh thu. Nếu Dòng máu anh hùng được xem là phim hành động - cổ trang nghiêm túc mà vẫn hấp dẫn, cho đến nay vẫn là hình mẫu của loại phim này ở Việt Nam, thì các phim khác của đạo diễn Charlie Nguyễn như Long Ruồi, Tèo Em là những phim hài ăn khách đặc trưng và thoát khỏi việc bị “mệnh danh” là hài nhảm. Scandal: Bí mật thảm đỏ và Quả tim máu là những phim thương mại có doanh thu cao với nghề nghiệp chỉn chu và cách thể hiện cuốn hút, trong khi đó Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh cũng do Victor Vũ làm đạo diễn vừa trở thành bộ phim đặt hàng của nhà nước thành công nhất trong lịch sử về doanh thu, lại vừa mở ra một xu hướng làm phim trong trẻo với những hồi ức tuổi học trò.
Có thể nói, những phim của đạo diễn gốc Việt đem một luồng gió mới cho điện ảnh Việt Nam, thể hiện ở tính chuyên nghiệp cao hơn, cách kể chuyện gần với đời sống và đỡ đơn điệu hơn, tiết tấu nhanh hơn. Kỹ thuật là điểm mạnh nhất của những phim này, ở đó có một sự đồng bộ trong các khâu quay, dựng, âm thanh… Tóm lại, sự chuyên nghiệp trong cách thể hiện như thế đã làm cho phim Việt Nam, nhất là những phim dòng “thị trường”, tiếp cận nhanh hơn với sự chuyên nghiệp, phần nào khắc phục xu hướng “nghiệp dư hoá” có thể khiến hoạt động điện ảnh ngày càng dễ dãi, xem nhẹ chuẩn nghề nghiệp, đứng trước nguy cơ dần đánh mất khán giả.
Một điều cần khẳng định, nếu coi một trong những điều kiện của công nghiệp điện ảnh là thị trường thì phim của các đạo diễn người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp khá lớn cho thị trường điện ảnh Việt Nam thập niên 20 của thế kỷ XXI. Cũng chính cách sản xuất và tiếp thị phim, cách ứng xử với tác phẩm điện ảnh như những sản phẩm - hàng hoá điện ảnh xuất hiện khá rõ rệt ở các đạo diễn, nhà sản xuất gốc Việt. Có lẽ cách hành nghề ở nước ngoài đã cho họ kỹ năng ấy và điều đó có ích khi nền công nghiệp điện ảnh Việt Nam ở giai đoạn ban đầu.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, phim của các đạo diễn gốc Việt không còn giữ vị trí áp đảo trong toàn cảnh phim Việt Nam và cũng không còn nhiều phim thành công, kể cả về doanh thu lẫn về chất lượng nghệ thuật. Có vẻ như các đạo diễn gốc Việt “lừng danh” đã dần cạn nguồn chất liệu và đã không còn nhiều đất dụng võ nghề nghiệp. Bên cạnh sự trưởng thành về nghề nghiệp của các đạo diễn trong nước, sự xuất hiện của một làn sóng các đạo diễn người Việt Nam ở nước ngoài mới đang là điều đáng chờ đợi.
3. Làm thế nào để phát huy tác dụng dòng chảy phim của các đạo diễn gốc Việt ở ngoài nước?
Để điện ảnh Việt Nam hội nhập tích cực và phát huy hết vai trò của mình trong kỷ nguyên phát triển đất nước, cần phải có những tác phẩm điện ảnh đặc sắc, có giá trị thực sự, đưa câu chuyện Việt Nam, tâm hồn và khát vọng Việt Nam ra thế giới và chinh phục được khán giả toàn cầu. Những bộ phim xuất sắc – những tác phẩm đỉnh cao cả về nghệ thuật và tính nhân văn – trở thành cây cầu hiệu quả nối Việt Nam với thế giới và đưa thế giới đến với Việt Nam. Bài học của điện ảnh Hàn Quốc – hạt nhân của Hallyu – toàn cầu hoá làn sóng văn hoá Hàn Quốc đã chứng minh sức mạnh của điện ảnh. Đó là những bộ phim mang đậm bản sắc Hàn Quốc nhưng lại chinh phục được người xem từ nhiều nền văn hoá khác, nhiều dân tộc khác, gắn kết với sự phát triển không chỉ điện ảnh mà các ngành công nghiệp đi kèm như thời trang, mĩ phẩm, hàng tiêu dùng, ẩm thực...
Vậy làm thế nào để điện ảnh Việt Nam có những tác phẩm vừa mang đậm bản sắc dân tộc của mình vừa chiếm được cảm tình của nhiều dân tộc khác, đồng thời phù hợp với nhu cầu của nhiều người ở nhiều quốc gia? Muốn như vậy, chúng ta phải “quốc tế hoá cái dân tộc”, phải làm cho những điều người Việt Nam quan tâm có được sự đồng cảm của những người ở những đất nước khác, châu lục khác. Nói to tát hơn là làm cho “những gì gần gũi máu thịt với nhân dân ta trở thành mối quan tâm chung của nhân loại”. Chỉ khi ấy phim ảnh của chúng ta mới phát huy được rộng rãi tác dụng của mình ra bên ngoài.
Chúng ta rất nên thu hút nhiều người Việt Nam có tài đang sống ở nước ngoài cùng “làm văn hoá”, “làm điện ảnh”. Bởi vì bản thân cuộc sống của họ đã cho họ kinh nghiệm “quốc tế hoá” màu sắc Việt Nam dễ dàng hơn những người chỉ sống ở trong nước, đồng thời sản phẩm văn hoá của họ thường có điều kiện phổ biến rộng rãi, liên tục hơn nhiều so với việc chỉ trông vào những hoạt động giao lưu văn hoá hay điện ảnh hạn hẹp. Điều quan trọng là phải khơi gợi được “hồn dân tộc”, trách nhiệm đối với đất nước của những người con sống xa quê hương để chung sức tạo một “làn sóng Việt Nam” trong điện ảnh nói riêng và văn hoá nói chung.