VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI: BẢN HÒA ÂM NỬA THẾ KỶ TÌM VỀ NGUỒN CỘI

Phát biểu Đề dẫn của PGS. TS. Nguyễn Thế Kỷ, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, khai mạc Hội thảo khoa học quốc tế ''Văn học, nghệ thuật của người Việt Nam ở nước ngoài sau 50 năm đất nước thống nhất, đổi mới, phát triển (1975-2025)'' do Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức ngày 28.4.2025.

   Năm 2025 đánh dấu nửa thế kỷ đất nước trọn niềm vui thống nhất; là năm mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam long trọng tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ: kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; 80 năm Ngày thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu; 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Hội thảo khoa học chúng ta tổ chức hôm nay là một trong các hoạt động mang nhiều ý nghĩa đó. Hội thảo có chủ đề Văn học, nghệ thuật của người Việt Nam ở nước ngoài sau 50 năm đất nước thống nhất, đổi mới, phát triển (1975-2025). Hội thảo được tổ chức bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến: trực tiếp ở hội trường tại Hà Nội và trực tuyến với các nhà khoa học trong và ngoài nước bằng đường truyền internet với các công cụ và phương thức phù hợp.

   Thay mặt Ban tổ chức Hội thảo, chúng tôi xin gửi tới đồng chí Nguyễn Xuân Thắng và các đồng chí lãnh đạo, các nhà khoa học, các văn nghệ sĩ, đặc biệt là các nhà khoa học, văn nghệ sĩ là người Việt Nam đang sống ở nước ngoài và các nhà khoa học quốc tế lời chào trân trọng, lời cảm ơn sâu sắc vì đã quan tâm tới Hội thảo, đã viết bài, đóng góp ý kiến và tham dự Hội thảo hôm nay.

   Như chúng ta đều biết, từ năm 1945 trở về trước, số người Việt Nam sống và làm việc ở nước ngoài không nhiều, trong đó, số người Việt, gốc Việt tham gia sáng tạo văn chương, nghệ thuật ở nước ngoài còn ít. Họ là các ông quan đi sứ, đi công vụ có thời gian đủ dài ở nước ngoài như Nguyễn An, còn gọi là A Lưu, một kiến trúc sư người Việt Nam đầu thế kỷ XV, là tổng công trình sư xây dựng 9 tòa tháp tại 9 cổng của Tử Cấm Thành, Bắc Kinh, Trung Quốc; Nguyễn Du (Thơ chữ Hán của Nguyễn Du)1, Cao Bá Quát (Dương phụ hành)2, Phan Huy Thực (Sứ trình tạp vịnh)3, một số sáng tác được tập hợp trong Sứ trình thi (Thơ đi sứ)4, Hoa trình thi tập5… và các sáng tác của Trịnh Hoài Đức, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Quang Bích... Đến thời cận - hiện đại, do những biến động lịch sử - xã hội và sự giao lưu quốc tế, số người Việt Nam sống ở nước ngoài có chiều hướng tăng dần, trong đó có giới trí thức, văn nghệ sĩ. Có thể kể đến những sáng tác mĩ thuật đầy thú vị cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX của nhà vua yêu nước Hàm Nghi bị thực dân Pháp bắt và lưu đày biệt xứ; thơ văn của các chí sĩ yêu nước, các nhà hoạt động cách mạng ở ngoài nước như Phan Bội Châu với Hải ngoại huyết thư; Nguyễn Ái Quốc với Con rồng tre (1922), Nhật ký chìm tàu (1931), Giấc ngủ 10 năm (1949), các sáng tác và ký họa của ông trên các báo Pháp thập niên 1920 như Le Paria (Người cùng khổ), L’Humanité (Nhân đạo), Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và kiệt tác Ngục trung nhật ký bằng chữ Hán viết năm 1942 - 1943 trong nhà tù của chế độ Tưởng Giới Thạch… Một số trí thức, văn nghệ sĩ người Việt Nam sang Pháp học hành, tu nghiệp, có sáng tác văn nghệ chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp như Phan Châu Trinh, Lê Văn Miến, Lê Thành Khôi, Phạm Văn Ký, Trần Văn Khê, Lê Mộng Nguyên, Trương Trọng Thi, Lê Bá Đảng…

   Từ sau 1945 và 1954, số người Việt Nam sinh sống và hoạt động văn học, nghệ thuật ở nước ngoài dần tăng, chủ yếu qua con đường du học, công cán dài ngày hoặc định cư ở nước ngoài. Có thể kể đến các trường hợp của Điềm Phùng Thị (sang Pháp năm 1948, là bác sĩ nha, năm 1959 bắt đầu đến với nghệ thuật điêu khắc, năm 1966 có triển lãm đầu tiên tại Paris); Thụy Khuê (sang Pháp du học từ 1962 và sau đó làm việc tại RFI); Đặng Tiến (sang Thụy Sĩ từ 1966; từ 1968 ở Đại học Paris 7, giảng dạy về văn học Việt Nam); Phạm Công Thiện (rời Việt Nam từ sau 1970, sống ở Đức, Pháp và từ 1983 định cư ở Los Angeles)… Số người Việt Nam sinh sống và hoạt động văn học, nghệ thuật ở nước ngoài tăng mạnh từ thập niên 1960 trở đi, trong đó tập trung chủ yếu ở Liên Xô (trước đây) và các nước Đông Âu; sau năm 1975 là Hoa Kỳ, Pháp, Canada, Australia, Campuchia, Lào, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, một số nước ở Đông Nam Á, Đông Bắc Á...

   Sau năm 1975 – thời điểm mà chúng ta lấy làm cột mốc cho 50 năm tiếp theo để nghiên cứu, bàn thảo hôm nay – số người Việt Nam là giới trí thức, văn nghệ sĩ ra nước ngoài sinh sống, sáng tạo văn nghệ nhiều hơn, với sự đa diện, đa thanh, đa sắc. Ở chiều ngược lại, có những người là nhà khoa học, văn nghệ sĩ người Việt Nam hay gốc Việt Nam (sau đây gọi tắt là người Việt) cũng về nước làm việc, tham dự hội thảo, giao lưu nghệ thuật, sinh sống lâu dài, có người định cư ở quê hương. Một số người nước ngoài quan tâm nghiên cứu Việt Nam, nhất là văn nghệ của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

   Những năm gần đây, trong bối cảnh toàn cầu hoá, những dòng chảy về dân cư, văn hóa, kinh tế, thương mại, khoa học, công nghệ ngày càng mạnh mẽ, nhiều chiều; không ít người chọn cho mình hai quốc tịch và có hai, ba chốn đi về. Khái niệm “công dân toàn cầu”, “gia đình đa văn hóa”, “văn học, nghệ thuật hải ngoại”, “văn học, nghệ thuật của người Việt Nam ở nước ngoài” cũng được xác lập. Họ sáng tạo văn học, nghệ thuật; nghiên cứu lý luận, phê bình, dịch thuật văn học, nghệ thuật bằng tiếng Việt hoặc các thứ tiếng Anh, Pháp, Nga và bản ngữ nơi họ sinh sống. Dẫu sống xa Tổ quốc, dẫu là thế hệ thứ hai, thứ ba, thứ tư nhưng phần đông đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc, trong đó có giới trí thức, văn nghệ sĩ đều mang trong mình dòng máu Việt, văn hoá Việt, hồn cốt Việt… khi mạnh mẽ, cồn cào, lúc âm thầm, da diết. Công chúng của họ cũng không bó hẹp trong cộng đồng người Việt Nam mà mở rộng ra phạm vi toàn cầu.

   Có hai cụm khái niệm được dùng lâu nay: 1) “Người Việt Nam, người gốc Việt ở nước ngoài”/ “Người Việt Nam, người gốc Việt hải ngoại; 2). “Văn học, nghệ thuật của người Việt Nam, người gốc Việt ở nước ngoài”/ “Văn học, nghệ thuật của người Việt Nam, người gốc Việt hải ngoại”. Cách dùng, cách gọi vừa nêu chủ yếu do các yếu tố lịch sử cụ thể chi phối, cũng có thể chỉ là thói quen sử dụng từ ngữ. Nhưng ở trong nước, khái niệm chính thống, quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam, Nhân dân Việt Nam luôn luôn là khái niệm “Người Việt Nam, người gốc Việt ở nước ngoài” và “Văn học, nghệ thuật của người Việt Nam, người gốc Việt ở nước ngoài”. Khái niệm này được phần lớn giới nghiên cứu và văn nghệ sĩ đồng tình, ủng hộ. Văn học, nghệ thuật của người Việt Nam, người gốc Việt ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời, nằm trong cấu trúc tổng thể của nền văn học, nghệ thuật Việt Nam, trước kia cũng như ngày nay. Hội thảo của chúng ta thống nhất với quan niệm, khái niệm, cách hiểu và cách gọi đó. Đến thời điểm này, Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được 59 bản tham luận, có các tham luận của giới khoa học, văn nghệ sĩ người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài. Đó là những biểu hiện, những con số rất có ý nghĩa, bảo đảm cho sự thành công của Hội thảo hôm nay.

   Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, số người Việt Nam, người gốc Việt định cư, lập nghiệp hay sinh sống lâu dài ở nước ngoài ở thời điểm này có khoảng trên dưới 6 triệu, ở 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đó là một bộ phận con Lạc cháu Hồng không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam. Nói về bộ phân văn học, nghệ thuật này, có một vài đặc điểm cần quan tâm: Sau 1954, nhất là từ 1975 trở đi, sự chuyển dịch của người Việt Nam ra nước ngoài và cả chiều ngược lại tăng lên nhiều, trong đó có giới trí thức, văn nghệ sĩ. Họ ra đi vì nhiều hoàn cảnh, lý do: do chiến tranh và những khó khăn thời hậu chiến; do đoàn tụ gia đình; do hoàn cảnh kinh tế, văn hóa; do tìm kiếm một không gian sống mới; do hôn nhân có yếu tố nước ngoài; do bất đồng chính kiến và quan điểm chính trị… Số văn nghệ sĩ được coi là “tị nạn chính trị” rất ít và theo thời gian, con số này càng nhỏ dần. Phạm vi định cư và sáng tạo văn học, nghệ thuật của giới trí thức, văn nghệ sĩ người Việt Nam, người gốc Việt ở nước ngoài không nằm chủ yếu ở một số nước phương Tây hay không gian hậu Xô viết, mà rộng lớn, đa dạng và phong phú.

   Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong quá trình xây dựng và thực thi Hiến pháp, Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết, chính sách, pháp luật, luôn coi trọng và quan tâm nhiều mặt đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, luôn gọi họ là đồng bào, là con Lạc cháu Hồng. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), tại Điều 9, quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài”. Điều 17, Mục 3, quy định: “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ”. Đặc biệt, Điều 18 quy định: “1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. 2. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước”. Nhà nước ta, với tư cách là một bên đàm phán và ký kết Hiệp định Paris 1973 nhằm chấm dứt chiến tranh Việt Nam, cũng đã quan tâm đến một số yếu tố về hòa hợp dân tộc, thống nhất đất nước, bảo đảm các quyền tự do, dân chủ cho mọi người dân. Hiệp định Paris 1973 có 23 điều, trong đó các Điều 11, 12, 13 ghi rõ: “Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ hận thù, cấm mọi hoạt động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia; tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc”.

   Ngày 29.11.1993, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về chính sách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó khẳng định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”. Nghị quyết 36-NQ/TW, ngày 26.3.2024, của Bộ Chính trị chỉ rõ: “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai”. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII khẳng định: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng, tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người dân Việt Nam ở trong và ngoài nước”.

   Không chỉ trong các văn kiện quan trọng của Đảng, Nhà nước mà trong thực tiễn, nhiều hoạt động đối ngoại, trong đó có việc bình thường hóa quan hệ, tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt; xây dựng quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam với các nước đều vì lợi ích của đất nước, trong đó có cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài6.

   Trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, hoạt động giao lưu, quảng bá, hợp tác giữa các hội, các đơn vị văn học, nghệ thuật ở Việt Nam với các tổ chức, cá nhân là văn nghệ sĩ người Việt Nam ở nước ngoài được tăng cường, mang lại kết quả rất đáng ghi nhận. Họ về nước tham gia các cuộc giao lưu, trò chuyện, hội nghị, hội thảo văn nghệ7 ; họ có những cách cảm, cách nghĩ, giọng điệu, cách thức trong sáng tạo, nghiên cứu. Tác phẩm của họ được công chúng trong và ngoài nước đón nhận8. Không ít văn nghệ sĩ người Việt Nam rất nổi tiếng ở nước ngoài, sau bao nhiêu năm xa quê, đã mong ước về lại quê hương như Giáo sư Trần Văn Khê, nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị, kể cả trường hợp nhạc sĩ Phạm Duy và một số người khác…

   Về cảm hứng, chủ đề, đề tài sáng tạo: không ít văn nghệ sĩ người Việt Nam ở nước ngoài coi sáng tác văn nghệ như một nhu cầu giải toả cá nhân trong bối cảnh buồn vui, nhớ quên, sướng khổ mà họ gặp phải. Nhưng càng sống lâu hơn ở nước ngoài, nỗi quan hoài về quê hương, cố quốc càng da diết, nhiều khi xa xót; cảm hứng hoà hợp, hòa giải ở phần đông là chân thành, tha thiết; nhiều người vẫn gắn bó sâu sắc với nguồn cội, với văn hóa Việt Nam, ngôn ngữ Việt Nam; trăn trở về thân phận dân tộc và con người, nhất là qua những biến đổi, biến động của đời sống đương đại; quan tâm, mừng vui trước những đổi thay lớn lao, sâu sắc ở quê nhà; tự hào là người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, nguồn cội Việt Nam. Tổ chức, tham gia các sinh hoạt cộng đồng nhằm góp phần lưu giữ và lan tỏa văn hóa Việt Nam như giải Phượng Hoàng được tổ chức hằng năm nhằm tuyển lựa, khích lệ tài năng cổ nhạc. Nhiều trung tâm dạy tiếng Việt được mở. Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế (Vietnamese International Film Festival - ViFF) diễn ra hai năm một lần tại Đại học California...

   Bên cạnh những nỗ lực và kết quả rất đáng ghi nhận đã nêu, quá trình hướng về, quay về với đất nước, với cội nguồn, những gắng gỏi để hoà giải, hoà hợp, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai trong một bộ phận văn nghệ sĩ người Việt Nam ở nước ngoài với trong nước vẫn còn có một số rào cản, trở ngại; có khoảng cách về tâm lý, mặc cảm do những khác biệt đã có từ rất lâu, do bị một số luận điệu tuyên truyền có tính lừa dối, kích động. Một số người có quan điểm “chống cộng” khá cực đoan, thậm chí thù địch9.

   Trên đây là mấy nét phác thảo rất không đầy đủ và chưa thể sâu sắc về tình hình, diện mạo văn học, nghệ thuật của người Việt Nam và người gốc Việt ở nước ngoài. Để góp phần bù đắp, bổ cứu cho sự thiếu khuyết vừa nêu, chúng tôi nghĩ sự thảo luận, nhận xét, đánh giá, góp ý của quý vị đại biểu là hết sức quan trọng và rất cần thiết. Đặc biệt, những vấn đề mang tính chỉ đạo, định hướng cho thời gian tới, GS. TS. Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương sẽ nêu quan điểm, mục tiêu, yêu cầu của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong bài phát biểu quan trọng mở đầu nội dung chính của Hội thảo. Sau đây chúng tôi xin nêu mấy vấn đề có tính gợi ý và đề nghị:

   1. Chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về hoà giải, hoà hợp dân tộc, thống nhất đất nước, về đại đoàn kết toàn dân tộc; coi người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; coi văn học, nghệ thuật của người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của nền văn học, nghệ thuật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

   2. Thực trạng văn học, nghệ thuật của người Việt Nam ở nước ngoài với diễn trình phát triển qua các giai đoạn lịch sử, nhất là từ năm 1975 đến nay; nhận diện đội ngũ các văn nghệ sĩ; đi sâu vào từng loại hình văn học, nghệ thuật; các khu vực sinh sống, hoạt động văn nghệ; chủ đề, nội dung, phương pháp sáng tác; hoạt động lý luận, phê bình, dịch thuật; chỉ ra ưu điểm, kết quả và hạn chế, bất cập, lý do của hạn chế, bất cập là gì?

   3. Phân tích, đánh giá quá trình hòa hợp, hòa giải, thống nhất, tiếp biến, phát triển của nền văn học, nghệ thuật Việt Nam, trong đó văn học, nghệ thuật của người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận hữu cơ quan trọng; sự gắn kết, tương tác, tương hỗ giữa văn học, nghệ thuật trong nước và văn học, nghệ thuật của đồng bào ta ở nước ngoài. Những vấn đề đặt ra trong quá trình hòa hợp, giao lưu, gắn kết, hợp tác cùng phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang phát triển như vũ bão với sự đan xen cả cơ hội và thách thức.

   4. Những đề xuất, kiến nghị với lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam; với lãnh đạo của nước sở tại để khuyến khích, tạo điều kiện cho việc phát triển văn học, nghệ thuật của người Việt Nam ở nước ngoài; giải quyết một số khó khăn, vướng mắc, “điểm nghẽn” để tạo ra bước phát triển tốt hơn trong những năm tới.

   Tổ chức cuộc Hội thảo khoa học tầm quốc gia, quốc tế, Hội đồng Lý luận Trung ương mong muốn huy động được trí tuệ, trách nhiệm và sự đóng góp của giới sáng tác, giới nghiên cứu, lý luận, phê bình, dịch thuật văn học, nghệ thuật nhằm có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn, góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề cần quan tâm về văn học, nghệ thuật nói chung, văn học, nghệ thuật của đồng bào ta ở nước ngoài nói riêng, từ đó tư vấn cho Đảng, Nhà nước Việt Nam trong xây dựng và thực thi đường lối, chính sách phát triển văn học, nghệ thuật; có thêm những quyết sách đúng đắn, kịp thời để phát triển nền văn hóa, văn nghệ nước nhà và của đồng bào ta sống xa Tổ quốc.

 

 

 

 

Chú thích:
1 NXB. Văn học, 1965.
2 Bài thơ này từng được sử dụng trong chương trình SGK Văn học 11 giai đoạn 1990-2006 nhưng đã được lược bỏ trong SGK Ngữ văn 11 từ 2007.
3 Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu (DSHNVNTMĐY) gồm 3 tập, do Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp hợp tác xuất bản năm 1993, in song ngữ Pháp - Việt, NXB. Khoa học xã hội, tập II, tr. 729 -730.
4 Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu (sđd).
5 Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu (sđd), tập I, tr. 796.
6 Các đối tác chiến lược của Việt Nam: Trung Quốc (2008), Nga (2012), Ấn Độ (2016), Hàn Quốc (2022), Hoa Kỳ (09.2023), Nhật Bản (11.2023), Úc (03.2024), Pháp (10.2024), Malaysia (11.2024), New Zealand (02.2025), Indonesia (3.2025) và Singapore (3.2025).
7 Các nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, Thuỵ Khuê, Nguyễn Huy Hoàng…; các họa sĩ Cyril Kongo, Hom Nguyễn, Nguyễn Văn Cường, Anh Bach (Bạch Hoàng Anh), Mina Ho Ferrante (Hồ Mộng Nhã Uyển), Tim Nguyen (Nguyễn Kỳ Quy), Ly Tran (Trần Phương Ly).
8 Trong văn học là: Thu Tứ, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Thị Hoàng, Thụy Khuê, Lý Lan, Linda Lê, Nguyên Sa, Nguyễn Thụy Vũ, Nguyễn Bá Chung, Hoàng Khởi Phong, Ocean Vuong, Nguyễn Huy Hoàng, Đoàn Minh Phượng, Nguyễn Phan Quế Mai, Thuận, Kiệt Tấn, Trương Anh Tú, Hiệu Constant, Quỳnh Iris de Prelle, Viet Thanh Nguyen, Doan Bui, Vũ Trần, Isabelle Thuy Pelaud, Lan Dương, Bích Minh Nguyễn, Thanhhà Lại, Monique Trương, Kevin Nguyễn, Quan Barry, Amy Tan, Khế Iêm, Đỗ Kh, Đỗ Quyên, Lê Minh Hà, Trần Trọng Vũ, Mai Ninh… Một số nhà lý luận, phê bình, dịch thuật văn học, nghệ thuật như Đặng Tiến, Thuỵ Khuê, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Vy Khanh, Hoàng Ngọc Tuấn, Luân Hoán, Nguyễn Đức Tùng, Phan Huy Đường, Đoàn Cầm Thi, Trương Hồng Quang… Trong điện ảnh là các đạo diễn: Hồ Quang Minh, Trần Anh Hùng, Việt Linh, Nguyễn Võ Nghiêm Minh, Đoàn Minh Phượng, Lưu Huỳnh, Charlie Nguyễn, Victor Vũ… Trong âm nhạc là Nguyễn Duy, Ngô Thụy Miên, Thái Thanh, Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Lê Đức Hùng, Sangeeta Kaur… Trong mĩ thuật là Kim Đoàn, Cyril Kongo, Hom Nguyễn, Đào Trọng Lý, Anh Bạch, Tim Nguyen, Thúy Quỳnh Nga, Ly Tran… Trong kiến trúc là Hồ Thiệu Trị, Duan Tran (Trần Hữu Minh Duan), Nguyễn Lâm Chí Thiện, Vincent Monluc…
9 Đấu tranh “chống cộng”; tham gia “Chiến dịch Cờ Vàng”, “Ủy ban cứu Người vượt biển”, “Ngày Thuyền nhân Việt Nam”. Gọi ngày thống nhất non sông 30.4.1975 là “Ngày Quốc hận”; cho rằng cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân hai miền Nam Bắc là “Nồi da xáo thịt”, là “Nội chiến Bắc Nam”; đòi xoá bỏ chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa và thay bằng một chế độ khác; đòi “đa nguyên, đa đảng”; vu cáo Đảng và Nhà nước “bán đất, bán biển”, “vi phạm tự do báo chí”, “vi phạm tự do, dân chủ”; phủ nhận thành quả công cuộc Đổi mới ở trong nước; phủ nhận thành quả của văn học, nghệ thuật Việt Nam mấy chục năm qua...

Bình luận

    Chưa có bình luận