Trong nền văn học, nghệ thuật Việt Nam ngày nay có một bộ phận hết sức quan trọng, đó là hoạt động văn học, nghệ thuật hết sức phong phú và đặc sắc của kiều bào ta ở nước ngoài – gần 6 triệu người con sống xa quê hương nhưng luôn hướng về Tổ quốc. Đây là “cửa sổ văn hóa” mở ra cho thế giới cái nhìn sâu sắc về bản sắc, tâm hồn, trí tuệ và khát vọng của dân tộc Việt Nam. Các văn nghệ sĩ người Việt Nam ở nước ngoài là những “đại sứ văn hóa”, “người thắp lửa” truyền giữ bản sắc văn hóa dân tộc trong cộng đồng kiều bào ta; đồng thời là đội ngũ tiên phong trong việc tăng cường giao lưu nhân dân, tạo dựng sự hiểu biết và mối thiện cảm giữa Việt Nam với các nước. Thông qua các tác phẩm văn học, âm nhạc, hội họa, điện ảnh và nhiều loại hình nghệ thuật khác, hình ảnh một Việt Nam tươi đẹp, giàu truyền thống, đổi mới, năng động, sáng tạo và nhân văn được giới thiệu sinh động tới bạn bè khắp năm châu; trở thành cầu nối hiệu quả thúc đẩy hội nhập, nâng cao sức mạnh “mềm” quốc gia, khẳng định vị thế và uy tín nước ta trên trường quốc tế.
Nhìn lại nửa thế kỷ qua, trong dòng chảy lịch sử của nền văn học, nghệ thuật Việt Nam, chúng ta đã chứng kiến những cảm xúc thăng trầm, những cung bậc chuyển đổi khác nhau trong hoạt động văn học, nghệ thuật của kiều bào ta ở nước ngoài.
1) Từ tâm trạng day dứt, mặc cảm của những người Việt Nam lưu lạc nơi xứ người đến cảm nhận mới – nguồn năng lượng mới và cảm xúc tích cực hướng về quê hương, đất nước.
Sau năm 1975, tương phản với niềm vui vỡ oà của đất nước trong ngày thống nhất, giai đoạn đầu sau những đợt di cư lớn, tâm trạng chủ đạo trong văn học, nghệ thuật của người Việt Nam ở nước ngoài là nỗi buồn tha hương day dứt và mặc cảm cuộc sống lưu vong. Những văn nghệ sĩ thế hệ đầu tiên thường trĩu nặng nỗi nhớ quê hương, cảm giác mất mát, lạc lõng giữa xã hội mới. Các tác phẩm chất chứa nỗi bi thương cá nhân, hóa thành biểu tượng cho một cộng đồng ly tán. Vì cách nhìn, chỗ đứng và mặc cảm tha phương khiến một số công trình có những khái quát, nhận định cực đoan, phiến diện, thiếu thiện chí. Tuy nhiên, theo dòng thời gian, cùng với sự ổn định cuộc sống và hội nhập ngày càng sâu sắc vào xã hội sở tại, tâm trạng này đã chuyển biến mạnh mẽ. Thế hệ các văn nghệ sĩ thứ hai, thứ ba – những người sinh ra hoặc lớn lên trong môi trường đa văn hóa – mang đến một cảm xúc và nguồn năng lượng sáng tác mới, khát khao kết nối với quê hương, chủ động tìm kiếm bản sắc dân tộc như một phần nền tảng để định vị giá trị, chỗ đứng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
2) Từ những định kiến về chiến tranh đã chuyển sang khát vọng hòa bình, hòa giải và hòa hợp, cùng nhau “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”.
Trong một thời gian khá dài, văn học, nghệ thuật Việt Nam ở nước ngoài đã bị chi phối nặng nề bởi ký ức chiến tranh. Nhiều tác phẩm là tiếng nói day dứt về một quá khứ bi thương, một cuộc chiến không thắng lợi trong tâm thức người ra đi. Các tác giả thường mô tả những bi kịch cá nhân, những rạn vỡ tâm hồn, sự phân ly đau đớn không chỉ về địa lý mà còn về lý tưởng, hoài bão. Chiến tranh được phản ánh như một vết thương chưa lành. Tuy nhiên, cùng với sự chuyển mình của thời đại và dòng chảy hòa giải, những nỗi suy tư, trăn trở đó đã dần thay đổi. Nhiều văn nghệ sĩ đã chủ động gác lại nỗi ám ảnh quá khứ để hướng về tương lai, nhấn mạnh khát vọng hòa giải dân tộc, hàn gắn những vết thương lịch sử. Thay vì tái diễn bi kịch, nhiều tác phẩm mới ra đời, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc kể về những câu chuyện vượt lên, chữa lành và hi vọng; tìm kiếm những giá trị chung của con người, về tình yêu, hòa bình và sự khát khao sống tử tế. Nét chuyển biến tinh tế này trong tâm thức của những người Việt Nam xa xứ đã cho thấy sự sẵn sàng đồng hành cùng với tiến trình đổi mới, hội nhập và phát triển của quê hương Việt Nam.
3) Từ những ký ức hoài niệm, suy tư, trăn trở về tình hình trong nước đã chuyển sang một tâm thế mới, niềm tự hào về quê hương, đất nước Việt Nam.
Sau ngày giải phóng và những năm đầu đổi mới, khi đất nước còn nhiều khó khăn, những tác phẩm văn học, nghệ thuật ở nước ngoài chủ yếu là những tiếng vọng từ quê nhà: phản ánh đời sống xã hội, tâm trạng con người trong nước hoặc về những kỷ niệm cá nhân gắn với nơi “chôn nhau cắt rốn”. Việt Nam hiện lên như một ký ức cố định, một miền quá khứ để hoài niệm. Được chứng kiến những thay đổi to lớn của đất nước trong tiến trình đổi mới, hội nhập và phát triển, văn học, nghệ thuật của người Việt Nam ở nước ngoài đã tìm thấy một nguồn cảm hứng mới, sứ mệnh mới – đó là giới thiệu chiều sâu văn hóa, tâm hồn Việt Nam và quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Bằng nhiều cách diễn giải đa dạng, những tác phẩm văn học, nghệ thuật đã thể hiện sự tự tin, niềm tự hào về cội nguồn và khát vọng gắn bó với quê hương, đất nước. Đó không còn chỉ là tiếng nói của những ký ức lưu lạc mà đã từng bước chuyển mình trở thành dòng chảy tích cực, góp phần làm phong phú diện mạo văn học, nghệ thuật Việt Nam trong thế kỷ XXI.
Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn trân trọng khẳng định và đánh giá cao vị trí, đóng góp to lớn của kiều bào ta đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó được thể hiện qua nhiều chủ trương, chính sách quan trọng trong tiến trình đổi mới, tiêu biểu là Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26.3.2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19.5.2015 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới và trong các Văn kiện Đại hội Đảng qua nhiều nhiệm kỳ.
Cần khẳng định, các văn nghệ sĩ, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài đã có những đóng góp không nhỏ cho nền văn nghệ nước nhà thống nhất trong đa dạng. Với vốn hiểu biết văn hóa dân tộc và khả năng sử dụng tốt Việt ngữ và ngôn ngữ bản địa, nhiều dịch giả người Việt Nam ở nước ngoài và các dịch giả trong nước đã chủ động chuyển ngữ những tác phẩm văn học, nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc của dân tộc ta ra nước ngoài và những tác phẩm nghệ thuật có giá trị của nước ngoài vào Việt Nam.
Sáng tác văn học, nghệ thuật của người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng phát triển đa dạng, gồm nhiều khuynh hướng và nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau. Nhiều thành tựu văn học, âm nhạc, mĩ thuật, sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh... thể hiện đậm nét bản sắc dân tộc Việt Nam đã được công nhận trên thế giới và ở các nước sở tại.
Bên cạnh đội ngũ sáng tác, đội ngũ lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật người Việt Nam ở nước ngoài cũng tăng dần, có điều kiện tiếp nhận các tri thức lý luận hiện đại, tạo được diễn đàn học thuật khá sôi nổi với những khuynh hướng lý luận, phê bình khác nhau. Đặc biệt, từ khi công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ, cộng đồng mạng ngày càng đông đúc, sự kết nối của người Việt Nam ở nước ngoài và trong nước thuận lợi hơn. Trên nền tảng số và nhờ được trang bị bằng hướng tiếp cận mới, phương pháp mới, phương tiện mới nên các công trình của họ có những phát hiện mới về văn nghệ Việt Nam, góp phần hiện đại hóa lý luận, phê bình văn nghệ trong nước.
Để tiếp tục thúc đẩy sự phát triển và phát huy những đóng góp to lớn của văn học, nghệ thuật của kiều bào ta ở nước ngoài, chúng ta cần quan tâm thực hiện thật tốt một số giải pháp mang tính định hướng sau đây:
Trước hết, cần tạo dựng một môi trường thuận lợi, cởi mở nhằm khuyến khích các văn nghệ sĩ kiều bào sáng tạo nghệ thuật gắn bó với cội nguồn dân tộc. Các cơ quan chức năng trong nước cần đẩy mạnh việc thiết lập các không gian giao lưu văn hóa, nghệ thuật, tổ chức các trại sáng tác, cuộc thi, triển lãm dành riêng cho văn nghệ sĩ Việt Nam ở nước ngoài. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, thị thực, đi lại để các văn nghệ sĩ có thể dễ dàng tham gia các hoạt động nghệ thuật trong nước. Cần tiếp tục quan tâm đầu tư xây dựng những trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài, nhất là ở những nước có đông bà con Việt Nam sinh sống, để đây không chỉ là nơi giữ gìn, giới thiệu văn hóa Việt Nam mà còn là “ngôi nhà chung” để các văn nghệ sĩ gắn kết, sáng tạo và quảng bá tác phẩm của mình.
Thứ hai, chú trọng ghi nhận và tôn vinh văn nghệ sĩ Việt Nam ở nước ngoài. Việc ghi nhận, biểu dương những đóng góp của các văn nghệ sĩ cần được thực hiện thường xuyên và có chiều sâu. Thiết lập nhiều hơn các giải thưởng văn học, nghệ thuật dành riêng cho người Việt Nam ở nước ngoài; tổ chức nhiều hơn, thường xuyên hơn các lễ vinh danh, trao tặng danh hiệu, bằng khen cho những cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Việc tôn vinh không chỉ khích lệ tinh thần sáng tạo mà còn khẳng định rằng mọi đóng góp nghệ thuật vì Tổ quốc đều được trân trọng, dù ở bất kỳ nơi đâu. Qua đó, hình thành động lực mạnh mẽ, khơi dậy niềm tự hào, tự tin dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước, củng cố mối liên kết bền chặt giữa văn nghệ sĩ kiều bào với quê hương Việt Nam.
Thứ ba, triển khai các cơ chế, chính sách thiết thực nhằm hỗ trợ đội ngũ văn nghệ sĩ người Việt Nam ở nước ngoài theo tinh thần đột phá trong các nghị quyết mới của Đảng như: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ tài chính, học bổng sáng tác cho các văn nghệ sĩ trẻ, hỗ trợ xuất bản, biểu diễn, triển lãm, đi kèm với việc tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho các hoạt động nghệ thuật quốc tế. Cần xây dựng các quỹ hỗ trợ sáng tạo văn học, nghệ thuật cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, tạo điều kiện để họ duy trì và phát triển hoạt động nghệ thuật trong môi trường mới mà không bị biệt lập, đứt gãy với nền tảng văn hóa dân tộc. Đẩy mạnh kết nối với các tổ chức nghệ thuật quốc tế nhằm hỗ trợ văn nghệ sĩ Việt Nam ở nước ngoài tiếp cận những cơ hội phát triển mới, nâng cao vị thế và ảnh hưởng.
Thứ tư, tăng cường hợp tác giữa đội ngũ văn học, nghệ thuật trong nước và ngoài nước. Cần thiết lập cơ chế phối hợp thường xuyên giữa các hội văn học, nghệ thuật trong nước với các hội, nhóm văn nghệ sĩ Việt Nam ở nước ngoài. Tổ chức định kỳ các chương trình hợp tác sáng tác chung, hội thảo chuyên đề, dự án giao lưu nghệ thuật xuyên quốc gia, qua đó tạo điều kiện cho các văn nghệ sĩ chia sẻ kinh nghiệm, làm phong phú thêm vốn sáng tạo, có được những góc nhìn đúng đắn, chân thực về đất nước, miễn nhiễm được trước những luận điệu xuyên tạc, thù địch; đặc biệt, cùng thống nhất trong việc truyền tải hình ảnh văn hóa, con người Việt Nam ra thế giới. Tăng cường sử dụng các nền tảng số để chia sẻ thông tin, quảng bá tác phẩm và tổ chức hoạt động chung. Xây dựng các mạng lưới sáng tạo văn học, nghệ thuật để tạo lập cầu nối vững chắc, thắt chặt tình đoàn kết, phát huy sức mạnh tổng hợp của đội ngũ văn nghệ sĩ Việt Nam trong và ngoài nước trong công cuộc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong bối cảnh thế giới đang diễn ra những thay đổi mang tính thời đại, Việt Nam đang tiến hành những quyết sách mang tính lịch sử để bứt phá, vươn mình phát triển trong kỷ nguyên mới, sự nghiệp phát triển văn hóa, văn nghệ đang đặt ra cho văn nghệ sĩ, trí thức trong và ngoài nước nhiều trọng trách to lớn, hết sức vẻ vang nhưng cũng rất nặng nề. Văn hóa, văn nghệ càng phải phát huy hơn nữa thiên chức “soi đường”, phải thực sự là tiếng nói của công bằng, lẽ phải, là lương tâm, lương tri của thời đại; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí và khát vọng vươn lên mạnh mẽ của mỗi người dân Việt Nam. Chúng ta cần sáng tạo những tác phẩm văn học, nghệ thuật lớn, đặc sắc, vừa mang những giá trị nhân văn, nhân bản cao đẹp, vừa có thể mang lại cả những giá trị về kinh tế, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ ngành công nghiệp văn hoá, dịch vụ văn hoá Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới.
Kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước là dấu mốc mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc, mở ra chương mới cho sự giao thoa, tiếp biến gắn kết giữa văn học, nghệ thuật trong nước với văn học, nghệ thuật Việt Nam ở nước ngoài. Trong bài viết Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: Mọi người Việt Nam, dù ở trong nước hay ngoài nước, dù từng đứng ở phía nào của lịch sử, đều cùng mang một cội nguồn, một ngôn ngữ, một tình yêu dành cho quê hương, đất nước. Sẽ không còn mặc cảm về những người ở “phía bên kia” mà tất cả đều là “con dân đất Việt”, “con Lạc, cháu Hồng”. Sẽ không còn nỗi hận thù, chia rẽ và ngăn cách mà sẽ là sự trân trọng, lắng nghe, chung sức, đồng hành. Văn học, nghệ thuật cần trở thành biểu tượng cho sự kết nối từ trái tim đến trái tim của hàng triệu người Việt Nam trong nước và trên khắp năm châu, cùng chung nhịp đập yêu thương, tự hào và khát vọng. Đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức trong nước cùng các anh chị em kiều bào đã, đang và cần tiếp tục phát huy mọi tài năng sáng tạo của mình, đóng góp vào sự nghiệp chung và mục tiêu chung cao cả: vì một Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Có thể nói, hành trình 50 năm qua là cơ sở thực tiễn sinh động để khẳng định vị thế không thể tách rời văn học, nghệ thuật của người Việt Nam ở nước ngoài trong nền văn học dân tộc. Bước vào giai đoạn phát triển mới, việc tiếp tục nghiên cứu và triển khai các nhóm giải pháp khả thi, khoa học nhằm thúc đẩy sự phát triển của bộ phận văn học, nghệ thuật này là yêu cầu cấp thiết. Sự cộng hưởng giữa các dòng chảy văn hóa trong và ngoài nước sẽ góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; đồng thời kiến tạo nên nguồn lực và sức mạnh nội sinh to lớn để đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.