Trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa các quốc gia, tư tưởng luôn là một trong những yếu tố khá phức tạp, bởi nó gắn liền với hệ giá trị, đạo đức và cảm thức thẩm mĩ của từng cộng đồng. Trong bối cảnh đó, việc cải biên tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc trên sân khấu cải lương Việt Nam không chỉ là việc sáng tạo về mặt hình thức mà còn là quá trình tái cấu trúc và điều chỉnh cho phù hợp với đời sống tinh thần và văn hóa, tư tưởng của người Việt.
Bài viết tập trung phân tích ba phương diện tư tưởng nổi bật trong cải biên tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc trên sân khấu cải lương Việt Nam: (1) Tư tưởng đề cao nhân nghĩa và đạo lý làm người; (2) Tư tưởng đấu tranh cho quyền tự do trong tình yêu và hôn nhân; (3) Tư tưởng khoan dung và từ bi. Qua việc khảo sát, phân tích ba hệ tư tưởng này, bài viết không chỉ làm sáng tỏ cơ chế tiếp biến tư tưởng trên sân khấu cải lương mà còn góp phần lý giải vai trò của các tác giả cải biên và nghệ sĩ cải lương trong việc định hình bản sắc tư tưởng – thẩm mĩ riêng của nghệ thuật sân khấu dân tộc.
Để làm rõ ba phương diện tư tưởng nói trên, bài viết tiến hành khảo sát và phân tích trên cơ sở các vở cải lương tiêu biểu được cải biên từ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, cụ thể: Huê Dung Đạo của Viễn Châu (cải biên từ tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa, 1974), Bảy con yêu nhền nhện của Viễn Châu (cải biên từ Tây du ký, 1992), Hồng lâu mộng của Viên Hoàng (cải biên từ tiểu thuyết cùng tên, 1999) và Phan Kim Liên - Võ Tòng sát tẩu của Thanh Tòng (cải biên từ Thủy hử, 1978). Việc lựa chọn các vở diễn này không chỉ phản ánh sự đa dạng trong nguồn văn học nguyên tác mà còn thể hiện những xu hướng và chiến lược tiếp biến tư tưởng đặc trưng của sân khấu cải lương Việt Nam trong quá trình bản địa hóa các giá trị văn hóa – tư tưởng ngoại lai. Thông qua các trường hợp nghiên cứu này, bài viết hướng đến việc nhận diện sâu sắc hơn về cách thức mà các tác giả cải biên và nghệ sĩ biểu diễn đã tái hiện, chuyển hóa và truyền tải tư tưởng từ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc sang không gian nghệ thuật dân tộc, từ đó góp phần hình thành bản sắc tư tưởng độc đáo của sân khấu cải lương Việt Nam.
1. Tư tưởng đề cao nhân nghĩa và đạo lý làm người
Khi bàn về tư tưởng nhân nghĩa trong sân khấu, Hà Văn Cầu đã nhận định rằng: “Người Việt Nam và người Trung Quốc, trong đó có các nhà hoạt động sân khấu đều lấy tư tưởng nhân nghĩa làm cốt lõi của mọi ứng xử trong cuộc sống, lấy việc mưu cầu hạnh phúc chân chính cho người khác làm mục tiêu phấn đấu của mình, song, trong thực tiễn hành động, ở mỗi nước, tính nhân nghĩa lại mang nét độc đáo riêng”1. Điều đó thể hiện khá rõ nét qua tác phẩm sân khấu cải lương được cải biên từ tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung và Thủy hử của Thi Nại Am.
Môi trường xã hội Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với bối cảnh văn hóa - xã hội nơi Nho giáo ra đời. Do đó, khi tiếp nhận, các tư tưởng Nho giáo – từ nền tảng triết lý cho đến biểu hiện trong nghệ thuật đã có những điều chỉnh và biến đổi nhất định để phù hợp với điều kiện bản địa. Vì vậy, những giá trị cốt lõi của Nho giáo như “hiếu”, “trung”, “nhân”, “lễ” khi du nhập vào Việt Nam thường được gắn kết với khái niệm “nghĩa”, hình thành nên những quan niệm phổ biến như “hiếu nghĩa”, “trung nghĩa”, “nhân nghĩa” và “lễ nghĩa”. Qua khảo sát các vở cải lương được cải biên từ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, đặc biệt là Tam quốc diễn nghĩa và Thủy hử, người viết nhận thấy rằng yếu tố “nhân nghĩa” luôn được các tác giả cải biên chú trọng như một nền tảng tư tưởng quan trọng.
Cùng với rất nhiều người anh hùng khác, Võ Tòng trong Thủy hử đã có những hành động phản kháng chống lại trật tự xã hội đương thời một cách rõ ràng. Với quan niệm diệt trừ bạo ngược trong cuộc sống là hành động vì nghĩa, Võ Tòng đã thể hiện khí phách của một anh hùng trượng nghĩa. Lúc này, nhân nghĩa không còn là việc thực hiện đạo “trung” mà nhân nghĩa chính là đứng lên để dẹp đi bất bình trong thiên hạ. Đối tượng thi hành “nghĩa” trong Thủy hử chính là nhân dân bị áp bức, là con người cần quyền sống hạnh phúc, tự do. Điều đó được thể hiện qua tâm trạng của Võ Tòng khi chứng kiến sự bưng bít của đám quan lại sau khi được Tây Môn Khánh mua chuộc. Khi ấy, chàng đã cảm thấy “Đáng tiếc cho lộc nước lương dân, phí tổn kể hết bao nhiêu để cung phụng cho quan lại. Nhưng than ôi! Đem tiền mà vứt xuống sông còn được thấy tăm bóng, chớ đem tiền mà cung phụng cho đám ấy thì thực là vô ích cho đời… Thôi anh hùng sự nghiệp mong ở tay mình, oán trả ân đền, tự mình uy phúc can gì mà cậy những con người vô ích thêm phiền”2.
Trên cơ sở đó, khi cải biên từ tiểu thuyết Thủy hử, vở cải lương Phan Kim Liên, Võ Tòng sát tẩu đã làm nổi bật tư chất nhân nghĩa và phẩm chất cao đẹp của Võ Tòng trong toàn bộ tác phẩm. Bên cạnh việc bám sát tư tưởng nhân nghĩa mà Thi Nại Am đã gửi gắm, soạn giả Thanh Tòng cũng thể hiện rất rõ nét đặc trưng nổi bật của Võ Tòng trong vở cải lương cải biên của mình, ngoài nhân nghĩa còn là tinh thần gan dạ - sự hóa thân của chữ “dũng”.
Nhân vật Quan Công trong Tam quốc diễn nghĩa được khắc họa như biểu tượng tiêu biểu của tinh thần trung nghĩa. Tấm lòng trung thành của ông đối với sự nghiệp phục hưng nhà Hán do Lưu Bị lãnh đạo được thể hiện nhất quán, bất chấp mọi biến động về hoàn cảnh. Sự trung nghĩa ấy được La Quán Trung thể hiện rõ nét qua giai đoạn Quan Công ở doanh trại Tào Tháo. Việc ông tạm thời quy thuận Tào Tháo không xuất phát từ sự khuất phục, mà là một hành động mang tính chiến lược nhằm bảo toàn lực lượng và tiếp tục trung thành với Lưu Bị. Hành động “thân tại Tào doanh, tâm tại Hán” của Quan Công là minh chứng cảm động cho khí tiết và đạo nghĩa vững vàng.
Quan Công được xây dựng như mẫu mực của con người chính trực, bản lĩnh: “giàu sang không thể mua chuộc, nghèo khó không làm thay đổi chí hướng, uy quyền không thể khuất phục”. Tấm lòng trung nghĩa của ông không chỉ dành riêng cho Lưu Bị, người đã kết nghĩa vườn đào, mà còn được thể hiện qua thái độ nghĩa khí với Tào Tháo – kể cả khi Tào lâm vào cảnh thất thế. Chính điều đó đã làm nên vẻ đẹp toàn vẹn của phẩm chất trung nghĩa mà nhân vật Quan Công đại diện.
Trong tác phẩm, ở hồi thứ năm mươi, tác giả La Quán Trung đã nhấn mạnh: “Vân Trường xưa nay vẫn là người trọng nghĩa, nhớ đến ân tình Tào Tháo xưa đãi mình rất hậu và việc ra khỏi năm cửa ải chém sáu tướng, không khỏi không động lòng. Vả lại trông thấy quân Tào đứa nào cũng rươm rướm nước mắt, đứng run cầm cập, lòng càng không nỡ… thở dài một tiếng, thả cho đi hết”3. Khai thác sâu khía cạnh nghĩa tình này, soạn giả Viễn Châu trong tác phẩm Huê Dung Đạo (Quan Công tha Tào), qua giọng hát của nghệ sĩ Văn Hường, đã để cho nhân vật Tào Tháo giãi bày về những ân tình mà ông từng dành cho Quan Công, từ đó khơi gợi và đánh thức tinh thần trọng nghĩa trong lòng nhân vật. Chính vì lẽ đó, Quan Công đã không nỡ ra tay sát hại Tào Tháo. Cũng bởi chữ “nghĩa”, ông đã cất lên lời ca đầy thương cảm và rộng lòng tha cho Tào Tháo một con đường sống: “… Trước kia ta đã thọ ơn của Tào thừa tướng, thì nay phải xử sao cho vẹn tiếng anh hùng. Có vậy ngài hãy cùng ba quân ra khỏi nẻo Huê Dung, tìm sanh lộ ra khỏi vòng máu lửa. Vó câu xông lướt dặm dài, ta chúc cho ngài thượng lộ được bình an”4.
Tư tưởng nhân nghĩa mà soạn giả Viễn Châu xây dựng trong vở cải lương Huê Dung Đạo, cải biên từ Tam quốc diễn nghĩa, được thể hiện sâu sắc qua hình tượng anh hùng Quan Công. Hình tượng này không chỉ phản ánh lý tưởng đạo đức của người sáng tác mà còn gửi gắm tâm tư, tình cảm phù hợp với nhận thức và tình cảm của quần chúng nhân dân, đặc biệt là công chúng yêu cải lương Việt Nam. Nhân dân dành cho Quan Công niềm tin và sự ngưỡng mộ sâu sắc, xem ông là hiện thân của khí phách hiên ngang, tài năng và thể lực phi thường. Trong quan niệm dân gian, Quan Công không chỉ là một anh hùng dũng cảm, gan dạ, luôn thực hiện những việc nghĩa lớn khiến mọi người kính phục, mà còn là biểu tượng của tinh thần trượng nghĩa, đặt nghĩa tình và đạo lý lên trên hết.
Từ nguyên tác văn học đến sân khấu cải lương, Quan Công vượt ra ngoài giới hạn của một nhân vật lịch sử Trung Hoa để trở thành biểu tượng của cái đẹp lý tưởng trong lòng nhân dân – một hình tượng do nhân dân kiến tạo, phản ánh ước mơ, khát vọng về người anh hùng lý tưởng trong tâm thức văn hóa Việt.
Lịch sử Trung Hoa trải qua nhiều thời kỳ chiến tranh và bạo loạn khốc liệt. Bên cạnh Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại Am cũng là tác phẩm tiêu biểu phản ánh hiện thực xã hội và lịch sử Trung Quốc một cách sâu sắc. Trong Thủy hử, hoàn cảnh và biến cố của từng nhân vật tuy có vẻ ngẫu nhiên nhưng thực chất là sự phơi bày trung thực về tình cảnh loạn lạc và suy đồi của xã hội đương thời. Tương tự Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử có quy mô lớn, nên khi được cải biên thành tác phẩm cải lương, các tác giả không thể chuyển tải toàn bộ nội dung nguyên tác lên sân khấu. Tuy vậy, các trích đoạn cải biên vẫn phần nào thể hiện được tư tưởng chủ đạo của tác phẩm gốc. Đặc biệt, hình ảnh những anh hùng Lương Sơn Bạc được khắc họa như những đại diện cho ước mơ và khát vọng của quần chúng về một cuộc sống công bằng, nghĩa hiệp và yên bình. Cả Tam quốc diễn nghĩa và Thủy hử đều chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng triết học phương Đông, đặc biệt là Nho giáo với học thuyết Tam cương – Ngũ thường. Khi các tác phẩm này được chuyển thể sang sân khấu cải lương tại Việt Nam, các tác giả và đạo diễn đã linh hoạt chọn lọc những yếu tố phù hợp với bối cảnh văn hóa - xã hội đương thời, đồng thời truyền tải hiệu quả các giá trị tư tưởng nguyên gốc. Hình tượng người anh hùng trung hiếu, tiết nghĩa, điển hình là nhân vật Võ Tòng trong vở cải lương cải biên từ Thủy hử, đã thể hiện rõ nét tinh thần ấy.
Cùng xây dựng hình tượng người anh hùng nhưng cách thể hiện Võ Tòng ở hồi thứ hai mươi hai trong Thủy hử của Thi Nại Am có sự khác biệt về tư tưởng so với cách thể hiện trên sân khấu cải lương Việt Nam của soạn giả Thanh Tòng. Trong nguyên tác, Võ Tòng giết hổ nhằm khẳng định bản thân là “anh hùng hảo hán, hiếm có xưa nay”, là người “để ruột beo, gan sư tử, mật lớn bọc lấy thân”5. Trong khi đó, Võ Tòng trên sân khấu cải lương mang đậm tinh thần vị tha, lấy lợi ích cộng đồng làm trọng. Hành động giết hổ không còn chỉ để thể hiện sức mạnh cá nhân mà nhằm bảo vệ dân chúng như lời khẳng định: “tôi giết mãnh hổ là cứu dân khỏi nạn, chứ không phải vì bổng lộc cao sang”6.
Trong vở cải lương Phan Kim Liên, Võ Tòng sát tẩu, hình ảnh Võ Tòng tiếp tục được khắc họa như một anh hùng hành động vì xã hội, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ và an bình của cộng đồng. Chính tinh thần trách nhiệm và hành động nghĩa hiệp khiến nhân vật trở nên gần gũi, đáng kính trong mắt khán giả.
Bên cạnh tư tưởng nhân nghĩa và chí khí anh hùng, tư tưởng Nho giáo về sinh tử cũng được thể hiện rõ qua cái chết của Võ Đại Lang – một yếu tố xuất hiện cả trong tiểu thuyết lẫn sân khấu cải lương. Theo Khổng Tử: “Nhân sinh hữu khí, hữu hồn, hữu phách. Khí hồn phách hội vị chi sinh… Tử tất quy thổ, cốt nhục tệ ư hạ, âm vi dã thổ, kỳ khí phát dương ư thượng vi chiêu minh”7, nghĩa là con người chỉ mất đi hình thể khi chết, còn tinh thần – khí tinh anh – vẫn tồn tại và tiếp tục ảnh hưởng trong thế giới sống.
Cùng chung tư tưởng về mối liên hệ giữa người sống và người chết, Thi Nại Am trong Thủy hử đã để nhân vật Võ Đại hiện hồn báo mộng cho em trai mình là Võ Tòng. Khi nằm bên linh sàng anh, Võ Tòng cảm nhận được “một trận lãnh khí từ dưới linh sàng bốc lên quanh quẩn ở trên, làm cho đèn hương đều mờ mịt, tối tăm mà giấy má trên vách đều bay phất phới... Em ơi ta chết rất là oan khổ”8.
Tương tự, trên sân khấu cải lương, tác giả Thanh Tòng cũng xây dựng cảnh Võ Đại về báo mộng với Võ Tòng. Tuy nhiên, trong phiên bản cải biên, lời than khóc của hồn Võ Đại được diễn tả bằng giọng điệu đầy xúc cảm, đậm chất bi thương: “Bớ Võ Tòng hiền đệ, có anh là Võ Đại Lang đây bớ em… kể ra đây anh rất đau lòng, vì câu giai ngẫu tự thiên thành, lương duyên do Thúc đế, dẫu cho người có sắc nước khuynh thành gặp người tật nguyền bần khổ hơn ai, họ cũng cho đó là duyên trời ban là trời đã định, nên hơi tàn mới thành nghĩa vợ chồng, trăm năm kết tóc…”9.
Việc phát triển nội dung tư tưởng trong vở cải lương được thực hiện dựa trên nền tảng văn bản nguồn. Các tác giả cải biên đã linh hoạt chuyển thể tinh thần của tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc sao cho phù hợp với bối cảnh xã hội đương thời, từ đó tạo nên sức lan tỏa và sự tiếp nhận sâu sắc của công chúng yêu mến sân khấu cải lương.
2. Tư tưởng đấu tranh cho tự do trong tình yêu và hôn nhân
Tào Tuyết Cần tuy xuất thân từ gia đình quý tộc quan lại nhưng lại lựa chọn viết Hồng lâu mộng từ góc nhìn của tầng lớp thị dân, phê phán sâu sắc chế độ phong kiến Trung Quốc. Chính vì vậy, hệ thống nhân vật trong tác phẩm, đặc biệt là các nhân vật nữ, được ông khắc họa một cách tinh tế và đầy trân trọng. Ông đã “tự mình tách khỏi hàng ngũ của giai cấp xuất thân, hướng vọng cuộc sống tự do tự tại, yêu cầu tự do hôn nhân và cá tính giải phóng”10.
Mối tình giữa Bảo Ngọc và Đại Ngọc trong Hồng lâu mộng là hình tượng tình yêu vượt lên lễ giáo phong kiến. Dù được thể hiện trong tiểu thuyết hay trong phiên bản cải lương cải biên, mối duyên ấy đều mang màu sắc định mệnh: “Tài tử giai nhân là nợ sẵn”, “Duyên nợ ba sinh, trăm năm định sẵn”11. Tuy nhiên, nguyên nhân khiến họ không thể đến được với nhau được lý giải khác biệt trong tiểu thuyết và sân khấu cải lương. Trong tiểu thuyết, tình yêu giữa hai nhân vật là sự đồng điệu về tâm hồn, cùng khát vọng tự do trong một xã hội bị trói buộc bởi Nho giáo. Bảo Ngọc, dù sống trong gia đình quyền quý, luôn phản kháng tư tưởng phong kiến, đề xướng “nguyên lý nữ tính” nhằm bác bỏ quan niệm “trọng nam khinh nữ”. Đại Ngọc là người duy nhất thấu hiểu và chia sẻ những quan điểm đó, khiến cả hai trở thành “cặp đôi phản nghịch” trong xã hội đương thời. Vì thế, mối tình của họ không thể được thừa nhận. Giả mẫu đã thẳng thắn bác bỏ: “Con Lâm tính tình tinh ranh, đó cũng là điều tốt của nó, nhưng ta không muốn dạm nó cho Bảo Ngọc, cũng chỉ vì điều đó. Vả lại, nó yếu đuối như thế, sợ không thọ. Chỉ có con Bảo là tốt hơn hết”12.
Nếu trong tiểu thuyết, lý do chia lìa là vì tính cách và thể trạng của Đại Ngọc, thì trong vở cải lương Hồng lâu mộng cải biên, nguyên nhân lại được lý giải khác, thể hiện rõ qua cuộc đối thoại giữa Tiết Bàn và Giả Chính:
“Giả Chính: Tại sao cháu biết Lâm Đại Ngọc không sinh sản được? Tại sao cháu biết hai đứa nó yêu nhau?
Tiết Bàn: Thưa dượng, trong tiết Nguyên Tiêu con thấy cả hai đến am Vân, tình mộng đổi trao. Đến khi Bảo Ngọc rủ con về vì quên cây quạt ở hậu liêu, con trở lại tìm thì bỗng nhiên thấy Đại Ngọc và Tử Kim tâm sự. Vô tình, con nghe được Đại Ngọc lo âu than thở khi biết căn bệnh mình không thể sản sanh, sợ cho họ Giả phải đành tuyệt tự”13.
Trong tác phẩm văn học, Giả Chính được khắc họa như một tín đồ trung thành của chế độ phong kiến, dễ dàng nhận ra dấu hiệu phản nghịch ở Bảo Ngọc do tư tưởng Nho giáo ăn sâu trong tâm thức. Tác phẩm cải lương cải biên từ Hồng lâu mộng cũng xây dựng hình tượng Giả Chính với sắc thái Nho gia tương tự, thể hiện rõ thái độ ngăn cản mối tình giữa Đại Ngọc và Bảo Ngọc khi biết Đại Ngọc không thể sinh sản. Tuy cùng chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo, nhưng trong văn học, bi kịch tình yêu của Bảo Ngọc và Đại Ngọc chủ yếu do Đại Ngọc bị xã hội phong kiến từ chối. Nếu Bảo Thoa là người con ngoan ngoãn, tiếp thu trọn vẹn chế độ phong kiến, thì Đại Ngọc lại là hình mẫu phản kháng, sắc sảo và tự do bày tỏ chính kiến, sống thật với tình yêu và nỗi đau của mình, trái ngược với sự e dè, giấu mình của Bảo Thoa.
Ngược lại, trong phiên bản cải biên của Viên Hoàng, câu chuyện tập trung vào sứ mệnh duy trì nòi giống của người phụ nữ trong gia đình. Theo Trần Đình Hượu, khi đến Việt Nam, “Nho giáo coi trọng nguồn gốc, dòng giống, coi gia đình là gắn chặt với họ hàng, coi tuyệt tự, mất dòng giống là tội lỗi với tổ tiên, là sự bất hạnh lớn nhất”14. Quan niệm duy trì nòi giống được xem là trọng yếu trong mối quan hệ vợ chồng ở Việt Nam, đặt lên vai người phụ nữ gánh nặng lớn về trách nhiệm này.
Người đời từng mang định kiến nghiệt ngã: “Cây độc không trái, gái độc không con” gán sự rẻ rúng, khinh thường cho phụ nữ không có khả năng sinh sản, điều này được phản ánh rõ trong cấu trúc cốt truyện của tác phẩm cải biên Hồng lâu mộng. Tác giả Viên Hoàng lựa chọn đây là nguyên nhân dẫn đến bi kịch tình yêu giữa Bảo Ngọc và Đại Ngọc, phù hợp với quy luật tiếp nhận văn hóa, tư tưởng trong tâm thức người Việt.
Qua lời ca của Giả Chính, nhiều khán giả mang tư tưởng cổ hủ dễ nhận diện quan niệm: “... tất cả đều là dòng huyết thống sẽ toại lòng cho đôi bóng giao loan, nhưng hỡi mẫu thân cần có cháu nối dòng, Đại Ngọc bệnh tình không giảm thuyên, làm sao tròn mối duyên. Dáng mảnh mai như liễu úa đào hiên, nét suy tư sầu muộn ưu phiền, chỉ lo kết hợp hương nguyền tuyệt tự sẽ tủi buồn tổ tiên”15.
Lời ca này vừa là lời than trách vừa nhắc nhở xã hội cần loại bỏ quan niệm và cách nghĩ hà khắc, vì chúng khiến phụ nữ vốn đã đau khổ càng thêm bất hạnh.
Nhân vật Bảo Ngọc trong vở cải lương khắc họa rõ nỗi đau mà con người phải chịu khi bị chia lìa tình duyên. Tương tự như trong Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần, khán giả khi xem vở cải lương cải biên của Viên Hoàng không thể quên hình ảnh Bảo Ngọc dù trong tình trạng nguy kịch – “không uống, bỏ ăn, nằm thiêm thiếp phập phồng nguy hiểm”. Khi nghe tin gia đình chuẩn bị lễ cưới cho “tân lang Bảo Ngọc cành vàng tân nương Bảo Thoa họ Tiết”, nàng đã vội vàng, trong cơn bạo bệnh, cất tiếng ca ai oán: “Không không, chuyện hôn nhân hãy để con tự quyết, chớ diệt đời bằng hành động ép duyên. Lâm Đại Ngọc gái thuyền quyên, đã trọn hương nguyền cùng Bảo nhi”16.
Có thể thấy, cả tác giả tiểu thuyết Hồng lâu mộng và tác giả cải lương cải biên từ tác phẩm này đều không tách rời bi kịch tình yêu giữa Bảo Ngọc và Đại Ngọc khỏi bối cảnh đời sống xã hội. Tuy nhiên, nếu như tư tưởng của tiểu thuyết, theo cách nói của Trần Xuân Đề, là “không hạn chế trong một phạm vi bi kịch hôn nhân cá nhân” thì theo nhận định chủ quan của người viết, tư tưởng ấy lại trở thành trục chính trong tác phẩm cải lương cải biên. Trong vở cải lương Hồng lâu mộng, tác giả đã nỗ lực truyền tải cảm xúc chân thực đến khán giả, đồng thời chuyển tải những thông điệp mang tính cảnh tỉnh sâu sắc. Tác phẩm được xây dựng nhằm phản bác các quan niệm phong kiến cổ hủ, lên án sự áp đặt trong hôn nhân, khẳng định quyền tự do yêu đương và mưu cầu hạnh phúc – đặc biệt là với phụ nữ – như một hồi chuông thức tỉnh trước những định kiến xã hội đè nặng lên con người.
Với tư tưởng ấy, vở cải lương cùng tên cải biên từ Hồng lâu mộng đã được côngchúng đón nhận một cách khá trọn vẹn, có lẽ chính bởi những thông điệp mà tác giả cải biên gửi gắm phù hợp với bối cảnh xã hội đương thời và vẫn còn nguyên giá trị cho đến tận sau này. Cũng từ tác phẩm đó, nhiều khán giả sau khi xem vở cải lương Hồng lâu mộng đã thay đổi quan điểm, cho phép con cái được tự do yêu đương và kết hôn với người mình lựa chọn. Một câu chuyện khá ngẫu nhiên được người viết ghi lại trong quá trình thực hiện nghiên cứu là cuộc trao đổi với bà Vũ Thị Lương. Khi nhắc đến vở cải lương Hồng lâu mộng, bà chia sẻ: “nhờ có nó mà cuộc đời tôi đổi khác, ngày đó ba mẹ tôi cũng không chấp nhận để cho tôi lấy người mình yêu thương, nhưng nhờ bà nội tôi sau khi xem vở cải lương ấy mà thương, khóc hết nước mắt để nói đỡ với ba mẹ tôi rất nhiều nên tôi mới không bị ép gả cho người mình không yêu, dù là cuộc sống của tôi với chồng, sau này cũng không mấy hạnh phúc, nhưng ngay cả người mình yêu còn không được hạnh phúc thì thử hỏi lấy người mình không yêu sẽ đau khổ đến chừng nào”17.
Qua đó cho thấy, bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào cũng mang trong mình một sứ mệnh đặc biệt. Bởi lẽ, vai trò của các tác phẩm nghệ thuật nói chung và nghệ thuật sân khấu cải lương nói riêng, chính là giúp con người hướng đến một đời sống nhân văn và tốt đẹp hơn. Cùng với nhiều vở cải lương cải biên khác, Hồng lâu mộng đã chạm đến chiều sâu cảm xúc của người xem, khơi gợi sự đồng cảm và thấu hiểu. Đặc biệt, thông qua tác phẩm, con người có thể ít nhiều rút ra bài học cho riêng mình về cuộc đời, về dự cảm số phận, cũng như có cơ hội nhìn lại và thay đổi những định kiến sai lầm về hôn nhân mà xã hội đã áp đặt.
3. Tư tưởng khoan dung, từ bi
Tư tưởng khoan dung là một trong những tư tưởng lớn của Khổng Tử và Mạnh Tử. Gắn với tư tưởng ấy là những quan niệm như “Tứ hải giai huynh đệ” (Bốn biển đều là anh em); “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Điều gì bản thân mình không mong muốn thì đừng làm cho người khác)… Tất cả những điều đó cho thấy một tinh thần khoan dung, nhân hậu. Tinh thần ấy rất phù hợp với tâm tình của người Việt Nam. Có lẽ chính vì vậy mà khi xây dựng hình ảnh Phan Kim Liên, tác giả cải lương cải biên đã để cho nàng những lời trần tình rất đáng thương, khiến người xem không khỏi lay động tâm can, qua đó ít nhiều cảm thấy đồng cảm với một người hồng nhan bạc mệnh.
Gorky đã từng nói: “Trong tiểu thuyết, trong truyện, những con người được tác giả thể hiện đều hành động với sự giúp đỡ của tác giả. Tác giả luôn luôn ở bên cạnh họ, tác giả mách cho người đọc hiểu những ý nghĩa thầm kín, những động cơ bí ẩn phía sau những hành động của các nhân vật được miêu tả, tô đậm thêm cho tâm trạng của họ bằng những đoạn mô tả thiên nhiên, trình bày hoàn cảnh, và nói chung là luôn giật dây cho họ thực hiện những mục đích của mình, điều khiển một cách tự do và nhiều khi rất khéo nhưng lại rất võ đoán – mặc dù người đọc không nhận thấy. Những hành động, những lời lẽ, những việc làm, những mối tương quan của họ, luôn tìm mọi cách để làm cho các nhân vật trong truyện được rõ nét và có sức thuyết phục đến mức độ tối đa về phương diện nghệ thuật”18.
Sân khấu cải lương cải biên từ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc có phần khác biệt, bởi đặc trưng của nghệ thuật trình diễn. Nhân vật trên sân khấu cải lương cải biên, dù là người tốt hay kẻ xấu, đều phải tự mình thể hiện hành động, cảm xúc của họ, thay vì thông qua lời kể của tác giả như trong các tác phẩm văn học. Đồng thời, tính kịch của thể loại trình diễn cũng đòi hỏi việc biểu đạt cảm xúc mạnh mẽ hơn so với tiểu thuyết. Nhận thức được điều đó, các tác giả cải biên đã chủ động để cho nhân vật trên sân khấu cải lương tự thể hiện những cảm xúc, tâm tư của họ một cách trực tiếp và đầy sức nặng nghệ thuật.
Người xem chắc hẳn không thể tránh khỏi nỗi xót xa trước hình ảnh người phụ nữ đang đau khổ, bị dồn đến cái chết để trả giá cho sự suy đồi đạo đức mà chính mình đã gây ra. Qua những lời ca ai oán của người nghệ sĩ trong vai Phan Kim Liên rằng: “… Tôi trăm lạy chú Ba, ngàn lạy chú Ba, trời ơi luân lý cang thường đạo nghĩa, đè nặng lên đầu của kẻ đọc sách cổ nhân, buộc ràng bao ngang trái đoạn trường…”19, phần nào cho thấy đặc trưng của sân khấu cải lương đã được vận dụng triệt để trong tác phẩm cải biên. Sân khấu cải lương chỉ có thể sống được khi thực hiện sứ mệnh trao gửi những thương cảm, rung động mà tác phẩm đã gửi gắm đến khán giả.
Bên cạnh thái độ khoan dung trong đạo lý làm người, quan niệm từ bi của Phật giáo cũng được thể hiện khá sinh động trong các tác phẩm sân khấu cải lương cải biên từ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. So với tiểu thuyết Tây du ký của Ngô Thừa Ân, tác phẩm cải lương Bảy con yêu nhền nhện của soạn giả Viễn Châu cũng rất thành công trong việc xây dựng tư tưởng đề cao triết lý của nhà Phật. Qua từng suy nghĩ, hành động và lời ca của Tam Tạng, tư tưởng ấy trở thành cảm quan chủ đạo, đặc biệt là trong những lúc ông dạy bảo đệ tử của mình. Chẳng hạn, khi Tôn Ngộ Không xin phép đi giúp đỡ gia đình họ Cao, Tam Tạng đã nhắc rằng: “Cấm không được sát sanh, vì đó là ngũ giới tam quy, kẻ tu hành phải noi theo… Kẻ đã xuất gia phải có lòng từ bi, phải có dạ bao dung bác ái, lòng độ lượng hỷ xả vị tha với tất cả chúng sinh”20.
Tư tưởng từ bi, hướng thiện của Phật giáo được thể hiện rất rõ ràng trong từng lời khuyên của Đường Tăng dành cho đệ tử. Đạo Phật luôn hướng con người đến tâm từ bi và những hành động thiện lành. Do đó, Đường Tăng trong vở cải lương cải biên từ tiểu thuyết Tây du ký cũng tiếp nối và truyền tải những tư tưởng cơ bản của tác phẩm nguồn: hạn chế điều ác, tuyệt đối không dùng bạo lực hay hủy diệt sự sống của những sinh linh vô tội.
Tất cả những yếu tố như lòng thương người, sự bao dung và tinh thần từ bi được các tác giả cải biên đưa vào tác phẩm cải lương. Bên cạnh sự ảnh hưởng từ các tác phẩm nguồn, đây còn là biểu hiện rõ nét của tính cách người Việt nói chung và người Nam Bộ nói riêng – vốn đã tồn tại từ bao đời nay – được các soạn giả cải lương khai thác một cách triệt để.
Ngoài ra, tác giả cải biên đã mượn triết lý của nhà Phật để truyền tải ước vọng thay đổi xã hội bằng con đường tinh thần, nhằm thức tỉnh con người và đem đến cho cuộc sống một niềm hi vọng lạc quan, an lành. Cùng với tư tưởng Phật giáo, khi tiếp cận tiểu thuyết Tây du ký của Ngô Thừa Ân, người đọc có thể suy ngẫm và rút ra những bài học quý báu để từ đó thay đổi bản thân theo chiều hướng tích cực. Khi cải biên Tây du ký sang sân khấu cải lương, tác giả Viễn Châu cũng đã nhấn mạnh đến bản chất của nỗi khổ, đồng thời đưa ra phương pháp và con đường giải thoát thông qua việc để cho Đường Tăng giảng giải cho Trư Bát Giới – cũng như cho người nghe, người xem – về con đường giải thoát mà Phật giáo đã đề ra.
Qua vở cải lương Bảy con yêu nhền nhện, tiếng nói cảnh báo về quy luật nhân quả được tác giả cải biên nhấn mạnh, thể hiện những tâm tư và nguyện vọng phù hợp với tinh thần của nhân dân Việt Nam. Đồng thời, tư tưởng về “nghiệp” cũng được thể hiện rất rõ trên sân khấu cải lương cải biên từ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Cùng với các vở cải lương được chuyển thể từ Thủy hử, Hồng lâu mộng, vở Bảy con yêu nhền nhện của Viễn Châu đã phần nào giúp người nghe, người xem nhận thức rõ ràng hơn rằng: khi làm điều tốt, điều thiện thì sẽ tích tạo được nghiệp lành cho tương lai; ngược lại, nếu gây ra điều ác, điều xấu thì sẽ phải nhận lấy quả báo, gánh chịu những hệ quả trong hành trình “tái sinh” sau này.
4. Kết luận
Quá trình tiếp biến văn hóa và tư tưởng từ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc trên sân khấu cải lương Việt Nam là một minh chứng rõ ràng cho cơ chế giao lưu và tiếp biến văn hóa mang tính chủ động, sáng tạo. Trong quá trình này, các tác giả cải biên đã chọn lọc và chuyển hóa những giá trị tư tưởng ngoại lai như “trung nghĩa”, “hiếu thảo”, “trọng nghĩa khinh tài” hay “tình yêu lý tưởng” từ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc sao cho phù hợp với tâm thức văn hóa, đạo lý và thị hiếu nghệ thuật của người Việt. Các yếu tố tư tưởng trong các tác phẩm văn học được điều chỉnh, diễn giải lại, từ đó mang đến những tầng nghĩa mới, thể hiện rõ sự tương tác giữa di sản văn hóa khu vực và năng lực sáng tạo dân tộc trên sân khấu cải lương.
Việc nghiên cứu vấn đề này không chỉ giúp nhận diện bản chất của sự giao thoa văn hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật mà còn khẳng định vai trò tích cực của sân khấu cải lương Việt Nam trong việc tiếp nhận và tái tạo các hệ tư tưởng ngoại lai. Đây chính là cơ sở để hiểu rõ hơn về cách mà cải lương đã góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần dân tộc, đồng thời chứng minh khả năng tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo để phục vụ cho nhu cầu nội sinh của văn hóa Việt Nam.
Chú thích:
1 Hà Văn Cầu (1992): “Ảnh hưởng của tư tưởng nhân nghĩa Trung Quốc trong Tuồng cổ Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật, số 102, tr. 48-51.
2, 5, 8 Thi Nại Am (2017), Thủy hử (Á Nam Trần Tuấn Khải dịch), NXB. Văn học, tr. 467-468, 407, 463.
3 La Quán Trung (2017), Tam quốc diễn nghĩa (Phan Kế Bính dịch, Bùi Kỷ hiệu đính), NXB. Văn học, tr. 227.
4, 20 Viễn Châu (1974), Cải lương Huê Dung Đạo, cải biên từ tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa.
6, 9, 19 Thanh Tòng (1978), Cải lương Phan Kim Liên, Võ Tòng Sát Tẩu, cải biên từ tiểu thuyết Thủy hử.
7 Trần Trọng Kim (2003), Nho giáo (trọn bộ), NXB. Văn học, tr. 61.
10 Đường Đắc Dương (2003), Cội nguồn văn hóa Trung Hoa, NXB. Hội Nhà văn, tr. 135.
11, 12 Tào Tuyết Cần, Cao Ngạc (2007), Hồng lâu mộng (Vũ Bội Hoàng, Nguyễn Thọ và Nguyễn Doãn Địch dịch), NXB. Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 164, 165.
13, 15, 16 Viên Hoàng (1999), Cải lương Hồng lâu mộng, cải biên từ tiểu thuyết Hồng lâu mộng.
14 Trần Đình Hượu (1989): “Gia đình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng Nho giáo”, Tạp chí Xã hội học, số 2, tr. 33.
17 Đặng Ngọc Ngận (2022), Vấn đề cải biên tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc trên sân khấu cải lương Việt Nam (Luận án Tiến sĩ), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 118.
18 M. Gorky (1970), Bàn về văn học (Xuân Đính dịch), NXB. Văn hóa, tr. 133.