Trong bối cảnh mở cửa giao thương ra khu vực và kết nối thị trường toàn thế giới, các làng nghề thủ công truyền thống của Việt Nam giữ một vai trò quan trọng trong kinh tế và giữ gìn văn hóa truyền thống. Việc các làng nghề đang cố gắng duy trì, phát triển nghề truyền thống không chỉ tạo ra việc làm tại chỗ, tận dụng năng lực của các lứa tuổi vẫn còn khả năng lao động, nâng cao thu nhập cho các hộ dân vùng nông thôn mà còn khôi phục kỹ thuật nghề truyền thống, tái tạo giá trị văn hóa, nghệ thuật dân gian, thúc đẩy kinh tế du lịch, góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới.
Tuy nhiên, để tạo ra mô hình phát triển bền vững, các làng nghề cần có được sự hỗ trợ của nhà nước trong việc tạo ra hành lang pháp lý, các chủ trương, chính sách về xã hội hóa thành phần kinh tế làng nghề như một định hướng chiến lược giúp cho các làng nghề có cơ hội hồi sinh mạnh mẽ. Trong khả năng đó, việc huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế như doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, các hộ dân hay tổ chức xã hội sẽ nhanh chóng thúc đẩy mô hình phát huy kinh tế từ nghề truyền thống, bảo tồn di sản văn hóa, nghệ thuật dân gian, đồng thời mang lại nguồn thu từ du lịch trải nghiệm cho khách trong và ngoài nước.
Bài viết nghiên cứu sự tác động của chủ trương xã hội hóa đến các làng nghề thủ công truyền thống, lấy ví dụ điển hình từ một số làng nghề sơn mài, gốm Bắc và Nam Việt Nam, với mục tiêu khảo sát cả mặt tích cực và hạn chế nhằm đưa ra các đề xuất hỗ trợ để mô hình kinh tế làng nghề Việt Nam được gìn giữ và phát huy.
1. Xã hội hóa trong phát triển làng nghề thủ công truyền thống
Bài viết xin đưa ra một khái niệm tổng hợp về xã hội hóa trong phát triển làng nghề thủ công, được hình thành trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn. Xã hội hóa được hiểu như là sự phối hợp của các nguồn lực – không chỉ từ ngân sách nhà nước mà còn từ các doanh nghiệp tư nhân, cộng đồng, dân cư hay những tổ chức phi chính phủ… để hỗ trợ xây dựng mô hình kinh tế làng nghề truyền thống, đầu tư hạ tầng, hỗ trợ đào tạo nghề, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, tạo ra môi trường kinh doanh du lịch trải nghiệm văn hóa tại địa phương. Trong đó, nhà nước đóng vai trò xây dựng chính sách, hành lang pháp lý, tạo điều kiện cho sự tham gia của các thành phần kinh tế được phối hợp cùng địa phương phát triển thúc đẩy mô hình sản xuất - kinh doanh - thị trường - sáng tạo - tiêu thụ từ vốn truyền thống các làng nghề.
Trong sự phát triển kinh tế nhiều thành phần của nước ta, các làng nghề thủ công truyền thống có vai trò tạo ra việc làm tại chỗ, bù lấp khoảng thời gian nông nhàn, tận dụng sức lao động nhiều lứa tuổi và góp phần nâng cao thu nhập, ổn định đời sống của người dân nông thôn. Lưu giữ nghề truyền thống còn là một hình thức bảo tồn bản sắc văn hóa một cách tự nhiên, bởi giá trị của nó không chỉ nằm ở sản phẩm mà còn ở chính những người dân làm nghề và câu chuyện mà họ nuôi dưỡng, gìn giữ cho thế hệ sau. Các sản phẩm của làng nghề còn cho phép Việt Nam gia nhập thị trường quốc tế, vừa giao thương vừa quảng bá giới thiệu hình ảnh của Việt Nam với bạn bè thế giới. Kinh tế làng nghề luôn là hình thức phát triển nông thôn bền vững trên cơ sở triển khai mô hình kết hợp sản xuất - dịch vụ - du lịch, tạo ra chuỗi giá trị mới, đưa nông thôn Việt Nam trở thành điểm đến cho đầu tư và trải nghiệm sáng tạo.
Làng nghề truyền thống luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố khi triển khai các hoạt động của mình. Đó là làm thế nào tạo ra nguồn vốn đầu tư cho các hộ sản xuất, vấn đề hạ tầng cơ sở, xử lý rác thải và môi trường. Công nghệ tạo mẫu, khả năng thiết kế sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của thị trường hiện đại mà vẫn giữ được bản sắc riêng luôn là nỗi trăn trở của người dân. Sự kế thừa kỹ thuật truyền thống, nguồn lực lao động, vấn đề truyền nghề, đào tạo… cũng là một trong những khó khăn mà cơ sở sản xuất làng nghề gặp phải. Họ đang rất mong đợi chính sách hỗ trợ và hành lang pháp lý của nhà nước, cho phép sự liên kết linh hoạt giữa sản xuất của làng nghề truyền thống với các doanh nghiệp đầu tư, tạo điều kiện mở rộng thị trường và kênh tiêu thụ trong nước, quốc tế, đồng thời phát huy được các yếu tố văn hóa, bảo tồn truyền thống và tạo ra môi trường sống đẹp, phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch đến các vùng nông thôn bằng con đường bền vững.
2. Thực trạng và tác động của xã hội hóa đối với làng nghề thủ công truyền thống
Để nhìn nhận thực trạng và phân tích tác động của xã hội hóa đối với hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm làng nghề, bài viết sẽ xem xét những khía cạnh liên quan đến đầu tư, đổi mới công nghệ và cơ sở hạ tầng; vai trò của chính sách và hành lang pháp lý; sự vận hành của thị trường và các cơ chế tiêu thụ sản phẩm; quản lý nguồn lao động; việc bảo tồn và phát huy giá trị nghề truyền thống cũng như những hướng đi bền vững gắn với bảo vệ môi trường.
Theo con số thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, đến năm 2024, hiện cả nước đang có trên 5.400 làng nghề truyền thống đang hoạt động. Nhiều làng nghề đã tồn tại và phát triển qua hàng thế kỷ, trở thành dấu ấn văn minh khu vực, được người dân trong vùng coi trọng như biểu tượng tự hào của văn hóa địa phương. Có thể kể những làng nghề nổi tiếng như làng tranh Đông Hồ, làng lụa Vạn Phúc, làng gỗ Đồng Kỵ, làng đúc đồng An Hội, làng dệt Bảy Hiền… Làng nghề truyền thống trong ký ức của chúng ta luôn gắn liền với hình ảnh những bàn tay sạm nắng, khéo léo, những tấm lưng cần cù miệt mài ngày này qua ngày khác bền bỉ bên những dụng cụ, vật liệu thô sơ như đất, gỗ, mây tre, nong tằm, khung cửi… để tạo ra hàng triệu sản phẩm tinh xảo, xinh xắn, ấm áp tình quê lòng người. Sự hiện diện của các sản phẩm thủ công làng nghề âm thầm nhắc nhở ký ức mỗi người dân Việt Nam tình yêu không bao giờ phai đối với quê hương, với những lũy tre, rặng dừa xanh mát, với con đường, dòng kênh, những cánh cò trắng bay dài trên cánh đồng bát ngát, với những câu hò, bài hát đồng dao làm xao xuyến lòng người. Bằng sự khéo léo trong tạo tác và tấm lòng chân thành mộc mạc, người dân làm nghề thủ công đã truyền vào trong các sản phẩm của mình những giá trị tinh túy nhất của vùng miền, nâng niu nó như một hình thức lưu giữ và tạo ra cây cầu vô hình kết nối tinh thần từ các thế hệ hàng trăm năm trước đến những thế hệ mai sau.

Tuy nhiên, với cấu trúc xã hội ngày một hiện đại, công nghệ và giao lưu toàn cầu trên mọi lĩnh vực đang ngày càng mạnh mẽ, các nhà máy sản xuất công nghiệp mọc lên san sát quanh xã trên xóm dưới, trên những cánh đồng trước đây từng phủ kín màu xanh của cây trồng. Điều này đã gây ra tác động không nhỏ đến sự tồn tại của những giá trị truyền thống, cụ thể là hoạt động sản xuất của các làng nghề. Nhiều lứa thanh niên trong làng bỏ nghề gia truyền đi làm công nhân bởi muốn thoát khỏi sự vất vả của hàng chuỗi những công đoạn hoàn toàn thủ công để tạo ra được một sản phẩm địa phương với giá thành không hấp dẫn. Hơn nữa, họ mong muốn đổi mới không gian sống và làm việc: có bạn bè giao lưu đến từ nhiều nơi, có sự độc lập kinh tế dù ít hay nhiều để không bị lệ thuộc vào gia đình. Làng nghề hầu như chỉ còn gương mặt của người già, trung niên, trẻ em và phụ nữ. Nhiều mô hình sản xuất hàng thủ công truyền thống bị thu hẹp, thậm chí gần như bỏ hẳn. Khung cửi đắp chiếu, lò nung bỏ hoang, máy quay, khuôn đúc phủ đầy bụi. Những nhộn nhịp đi lại của xe thồ, tiếng trao đổi mua bán trước đây lao xao từ sớm đến chiều, nay dần ít đi, nhường chỗ cho khoảng lặng im lìm trong ngõ vắng. Nhiều làng nghề tuy vẫn còn nét truyền thống riêng nhưng không còn được nhộn nhịp như trước nữa. Trong bối cảnh đó, vẫn còn những con người bền bỉ sống với niềm hi vọng không nguôi về một ngày nghề truyền thống của làng được khôi phục.
Câu chuyện của ông Lê Bá Linh, người giữ cương vị Phó Chủ tịch Hiệp hội Sơn mài – Điêu khắc Bình Dương là một minh chứng sống động cho ước mơ của người dân làng nghề. Đã có tuổi nghề gần nửa thế kỷ, được tiếp nối truyền thống của gia đình vợ nhưng với lòng kiên trì và tình yêu dành cho từng sản phẩm nhỏ bé ngày ngày được hoàn thiện trong xưởng sơn mài của gia đình, ông đã theo đuổi nghề bất chấp những khó khăn. Năm 1990, ông thành lập cơ sở sản xuất Sơn mài mĩ nghệ Tư Bốn và đến năm 2007 đã đi lên thành công ty với lượng hàng xuất khẩu mạnh, đều đặn hàng tháng đi các nước Đông Âu. Ông chia sẻ: “Thời điểm đó công việc nhiều lắm, làm không hết. Với nguồn nhân công địa phương dồi dào, vật tư rẻ mà giá hàng xuất lại cao, cơ sở sản xuất của ông và các hộ dân khác trong làng luôn có thu nhập đều và tốt. Đến những năm đầu thời kỳ mở cửa kinh tế, Việt kiều được hồi hương. Những người này cũng như nhiều thương gia sẵn sàng về mua hàng hóa ra nước ngoài để bán tận nơi cho cộng đồng người Việt ở Mĩ, Canada và nhiều nước khác. Cửa khẩu giao thương với Lào, Campuchia cũng được mở, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương, hàng thủ công mĩ nghệ lại có thêm đường xuất ra hai nước láng giềng. Thật là một công đôi việc, ích nước lợi nhà” - ông Linh nhớ lại với đôi mắt vẫn còn lấp lánh niềm vui.
Mọi việc bắt đầu thay đổi từ năm 2010, khi sự xuất hiện của các công ty, nhà máy sản xuất nước ngoài sau một thời gian tồn tại, nay đã thành thói quen công việc cho các lao động trẻ đến từ nông thôn. Các công ty đã dần lấy đi gần hết lực lượng lao động đến từ nhiều vùng quê trong cả nước. Đối với quốc gia, đây là một cơ hội phát triển kinh tế với sự tham gia của thành phần doanh nghiệp nước ngoài. Tuy nhiên, với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của địa phương, thay đổi đáng kể này đã đặt ra rất nhiều thách thức cho sự tồn tại của nghề truyền thống cùng các mô hình sản xuất mang tính thủ công. Sự khó đồng đều về chất lượng cũng như số lượng của hàng thủ công khiến nó luôn không thể cạnh tranh được với hàng sản xuất công nghiệp. Khó khăn nối tiếp khó khăn, vật tư ngày càng đắt đỏ, nhân lực hiếm khiến nhân công cao; giá xuất hàng lại cạnh tranh bởi thị trường tiêu dùng trong và ngoài nước đã có rất nhiều lựa chọn. Dù đã rất chú trọng đến việc thay đổi nguyên vật liệu, áp dụng công nghệ, máy móc vào sản xuất nhưng rất nhiều doanh nghiệp nhỏ, các cơ sở sản xuất hàng thủ công truyền thống ở quê ông đã dần phải đóng cửa. Riêng đối với công ty của gia đình ông Linh, sản xuất và hàng hóa đã thu hẹp chỉ còn khoảng 20% so với thời vàng son của họ. “Tôi đã mất ăn mất ngủ vì điều này” - ông chia sẻ.
Không chịu thua hoàn cảnh, ông ngày đêm cùng anh em, con cháu trong gia đình nghĩ kế thay đổi vật liệu sạch, công nghệ sản xuất theo chu trình khép kín luôn đảm bảo tính liên hoàn, vệ sinh và chất lượng. Ông tìm cách tạo dáng mới cho sản phẩm, đưa nhiều phong cách trang trí hoặc vẽ tay; đổi mới phương thức pha màu, thay đổi cả cách đóng từng bao bì sản phẩm sao cho chỉn chu và hấp dẫn nhất với từng đối tượng khách. Nhờ vậy mà cho dù khó khăn chưa dứt nhưng gia đình ông vẫn luôn có một lượng khách hàng đủ duy trì sản xuất, trả lương cho nhân công và tái đầu tư vào các đơn đặt hàng dù rất nhỏ. Khách của gia đình ông đến từ nhiều nguồn khác nhau như Nhật, châu Âu và cả thị trường nội địa.
Càng trong khó khăn, người dân làng nghề càng hiểu được giá trị của nghề truyền thống. Ông Linh cũng như bao người dân khác thay vì tiếc nuối một thời đã qua, vẫn cặm cụi, âm thầm lưu giữ bản sắc quê hương qua bàn tay chai sạn ngày ngày trau chuốt từng sản phẩm để mong chúng được khách hàng để mắt tới. Ông hiểu rằng, du khách đến các làng nghề không phải chỉ để mua một món đồ kỷ niệm mà họ còn đến để hiểu biết những câu chuyện, để trải nghiệm và hưởng thụ tinh hoa của một nền văn minh trìu mến và phong phú. Câu chuyện bên những chiếc bàn đầy sản phẩm còn dở dang, lời kể của những người dân quê mộc mạc, bình dị sẽ biến những chiếc giỏ, lọ hoa hay khay sơn mài xinh xắn thành những món hàng quý giá của tinh thần.
Việc giữ gìn nhóm nghệ nhân – tinh hoa làng nghề cũng vô cùng quan trọng. Làm sao để những người trẻ ở lại tiếp tục học hỏi, làm việc và tiếp thu những truyền dạy của thế hệ trước? Làm sao để các cơ sở đào tạo nghề vừa duy trì học viên vừa có việc làm tại chỗ cho người học để họ có đủ khả năng tự túc kinh phí đào tạo? Rồi còn vấn đề khai phá chất liệu, kỹ thuật mới; đội ngũ thiết kế mẫu mã, các phương pháp ghi chép tỉ mỉ từng công đoạn để lưu giữ trong các hộ gia đình làm nghề?... Tất cả những câu hỏi đó được đặt ra trong bối cảnh Trường Trung cấp Mỹ nghệ Bình Dương hầu như không có người theo học.
Để duy trì sản xuất, các hộ gia đình và hiệp hội nghề sơn mài đã tìm cách hỗ trợ nhau dù hiệp hội tự hoạt động mà không có quỹ. Theo lời ông Linh, từ khoảng năm 2016, chương trình quỹ khuyến công đã hoàn toàn bị đóng do Thủ Dầu Một lúc đó được lên cấp thành Thành phố loại một, các làng biến thành các phường, không còn mô hình làng nghề nên quỹ không thể triển khai tiếp. Người dân làng nghề, để bán được sản phẩm, họ đã thông qua hiệp hội, tìm cách kết nối với các thị trường nội địa như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội bằng hình thức quảng bá hình ảnh không mấy thành công qua các triển lãm nhanh chóng của làng nghề, nhiều khi không đủ thời gian cho khách có nhu cầu tìm hiểu kỹ càng.
Ông cũng như người dân trong khu vực đã từng rất hi vọng vào một dự án đến với làng quê ông cách đây nhiều năm. Dự án bảo tồn phát triển làng nghề sơn mài truyền thống Tương Bình Hiệp. Sở Công Thương và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã từng phối hợp với kỳ vọng xây dựng được Cụm công nghiệp sản xuất hàng sơn mài, kết hợp du lịch trong địa bàn Thủ Dầu Một. Tuy nhiên, cho đến nay, dự án vẫn còn trong kế hoạch. Người dân trong làng, sau những lần trực tiếp giao lưu với khách, họ hiểu được, để tạo một môi trường mua sắm trải nghiệm tốt, làng nghề cần được đầu tư, cải tạo không gian, đưa các dịch vụ đi kèm để khách đến được thỏa mãn sự trải nghiệm gồm văn hóa, ẩm thực, đồ lưu niệm và cả những câu chuyện đằng sau của mỗi sản phẩm truyền thống, tạo ra những kỷ niệm đáng nhớ. Điều này đã được Sở Văn hóa và Du lịch Thành phố Thủ Dầu Một (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh) đề cập đến từ nhiều năm. Họ đã đưa ra mô hình bảo tồn và phát triển kinh tế văn hóa làng nghề truyền thống, đưa sản phẩm hàng hóa trở thành sản phẩm văn hóa du lịch, phát triển công nghiệp văn hóa, tạo sân chơi hấp dẫn cho khách du lịch, tham quan.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khái niệm xã hội hóa kinh tế làng nghề không còn xa lạ đối với người dân. Là người trực tiếp sản xuất, bảo vệ, giữ gìn hàng thủ công truyền thống mà thường xuyên vấp phải những khó khăn về vốn, vật liệu, nhân công, mẫu mã, quảng bá giới thiệu và bán sản phẩm… nên họ luôn mong một hình thức linh hoạt trong kết hợp đầu tư sản xuất và bao tiêu.
Xã hội hóa sẽ giúp huy dộng được nhiều nguồn lực linh hoạt ngoài ngân sách nhà nước, tạo điều kiện cho các hộ sản xuất trong làng nghề truyền thống được đầu tư hạ tầng, công nghệ sản xuất, đổi mới mẫu mã thiết kế và duy trì nguồn cung nguyên liệu ổn định.
Về việc làm và thu nhập cho người dân nông thôn: xã hội hoá giúp cho làng nghề truyền thống vốn sử dụng lao động nông thôn tại chỗ có điều kiện tạo thu nhập ổn định và giữ chân thế hệ trẻ ở lại tiếp nhận sự truyền dạy của các nghệ nhân trong làng.
Xã hội hóa kinh tế làng nghề cũng khiến cho người dân hiểu được tầm quan trọng của việc phát triển sản xuất xanh, sạch bằng quy trình được đầu tư bài bản, khép kín. Việc các thành phần kinh tế tư nhân tham gia đầu tư vào quy trình sản xuất sẽ giảm thiểu tiêu hao năng lượng và giữ môi trường lao động an toàn, thân thiện hơn.
Xã hội hóa sẽ tạo ra nhiều cơ hội tiếp cận thị trường trong nước và quốc tế cho các sản phẩm thủ công truyền thống. Hệ thống quảng bá hình ảnh, hệ thống bán hàng chuyên nghiệp cùng các kế hoạch kêu gọi, thu hút thêm vốn đầu tư sẽ làm cho thị trường của nhóm sản phẩm này nhanh chóng chuyển mình tăng mạnh.
Mô hình xã hội hóa sẽ cho làng nghề cơ hội thay da đổi thịt. Đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân sẽ biến những làng quê xa xôi thành điểm đến hấp dẫn cho du lịch văn hóa trải nghiệm. Người dân của làng sẽ ý thức hơn, tự hào hơn về truyền thống của mình bởi họ nhìn thấy được quê hương đang ngày một giàu đẹp lên, ý muốn gìn giữ bản sắc dần trở lại. Họ sẽ yêu lại nghề gia truyền, yêu hơn mái nhà đã bao năm gắn bó. Truyền thống và văn minh bản địa dần được hồi sinh từ chính những người con quay trở về xây dựng quê hương.
Trên thực tế, không phải làng nghề nào cũng có khả năng tiếp cận và khai thác tốt cơ chế này. Bằng tính bảo thủ của nhiều vùng, người dân vẫn chấp nhận hình thức sản xuất nhỏ lẻ, không thống nhất để doanh nghiệp can thiệp vào quá trinh sản xuất. Theo ý kiến của chuyên gia Vũ Huy Thiều, điểm yếu chung của các làng nghề thủ công truyền thống là thiếu đổi mới trong thẩm mĩ và ý tưởng thiết kế, nhiều sản phẩm na ná giống nhau được sản xuất khiến những giá trị sáng tạo chưa được phát huy1 . Các lao động trẻ vẫn chưa cảm nhận được sức mạnh của truyền thống. Họ vẫn khao khát con đường mới dù con đường đó chưa chắc đã yên bình. Việc thu hút được lực lượng lao động này qua về học nghề cha tuyền con nối trong làng là một vấn đề cho đến nay vẫn chưa có giải pháp tốt.
3. Đề xuất một số giải pháp cho việc xã hội hóa kinh tế làng nghề truyền thống
Qua những khảo sát và nghiên cứu trên, bài viết xin được đề xuất một số giải pháp cho việc xã hội hóa kinh tế làng nghề truyền thống. Cụ thể:
- Đối với nhà nước và chính quyền địa phương: hoàn thiện chính sách hỗ trợ, tăng cường hỗ trợ ưu đãi đất đai, hạ tầng, tạo cơ chế cho doanh nghiệp được tham gia vào phát triển kinh tế làng nghề.
- Tạo chính sách khuyến khích mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp tư nhân và người làm nghề truyền thống. Đưa phương pháp quản trị tài chính, nhân công, kỹ thuật, mẫu mã vào làng nghề để chuyên nghiệp hóa cơ sở sản xuất.
- Có cơ chế khuyến khích sản xuất xanh, sạch và bền vững, thân thiện môi trường.
- Đưa mô hình đào tạo nghề vào trong doanh nghiệp, vừa đào tạo vừa có việc làm và lương cho học viên.
- Tạo hành lang pháp lý hỗ trợ doanh nghiệp xúc tiến thương mại đầu tư bằng việc triển khai các hội chợ quốc tế, phát triển thương hiệu quốc gia cho sản phẩm làng nghề truyền thống.
- Triển khai mô hình kinh tế sáng tạo, gắn làng nghề với du lịch trải nghiệm, phát triển nông thôn mới trên cơ sở sử dụng vốn đầu tư linh hoạt từ các thành phần kinh tế tư nhân.
4. Kết luận
Chủ trương xã hội hóa là một giải pháp tích cực giúp cho sự hồi sinh các làng nghề thủ công truyền thống ở nước ta. Bằng câu chuyện thực tế của người dân làm nghề sơn mài truyền thống ở Tương Bình Hiệp, Thủ Dầu Một, tác giả bài viết đã cảm nhận được mong đợi của người dân đang vất vả giữ gìn nghề gia truyền như một kho báu và luôn ước có ngày thấy nghề hồi sinh trở lại. Từ việc thu hút nguồn vốn, xây dựng đội ngũ nhân công, đổi mới quy trình công nghệ trong sản xuất, thiết kế mẫu mới phù hợp nhu cầu thị trường, đến việc tạo môi trường mua sắm trải nghiệm và quảng bá, xúc tiến thương mại cho sản phẩm… đều cần sự hỗ trợ về chủ trương, chính sách của nhà nước nhằm tạo thành phần kinh tế phát triển bền vững và bảo tồn được giá trị truyền thống.
Nếu mô hình kết hợp giữa nhà nước - doanh nghiệp - làng nghề được phát huy thì nó không chỉ dừng lại ở câu chuyện của kinh tế mà nó còn là cách chúng ta bảo tồn giá trị truyền thống, xây dựng nông thôn Việt Nam trở thành thương hiệu, hình ảnh quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Chú thích:
1 Nguyên Trang (2025): “Hỗ trợ làng nghề đổi mới thiết kế”, Báo Nhân dân điện tử, ngày 31.7.2025.