SỰ SINH THÀNH NHÀ VĂN DÂN TỘC THIỂU SỐ: KHI VĂN CHƯƠNG NHƯ MỘT CÁCH ĐỊNH NGHĨA VỀ CỘI NGUỒN*

Trong văn học Việt Nam đương đại, sự hiện diện của các nhà văn dân tộc thiểu số đã tạo nên một diện mạo riêng độc đáo, góp phần tái định nghĩa khái niệm bản sắc và tính dân tộc trong bối cảnh toàn cầu. Bài viết xem xét cách nhà văn dân tộc thiểu số kiến tạo bản sắc bằng việc sử dụng ngôn ngữ, 'tự định nghĩa' thông qua nhan đề tác phẩm như một tiếng nói khác biệt, không thể thiếu trong nền văn học quốc gia.

   Trong diện mạo văn học Việt Nam đương đại, sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số đã thoát khỏi vị thế ngoại vi, đồng thời khẳng định bản sắc riêng như một dòng chảy tự chủ, góp phần làm giàu thêm tổng thể văn học quốc gia. Từ những tác giả đặt nền móng như Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn… đến Y Điêng, Lò Ngân Sủn, Mã A Lềnh, Y Phương, Mai Liễu, Lò Cao Nhum, Cao Duy Sơn… và thế hệ sau này như Niê Thanh Mai, Đinh Su Giang, Nông Quang Khiêm, Đàm Hải Yến, Phạm Văn Vũ, Lý Hữu Lương, Phùng Hương Ly…, văn học dân tộc thiểu số cho thấy ý thức kiến tạo bản ngã luôn nằm ở sự giao thoa giữa truyền thống với hiện đại, giữa tiếng mẹ đẻ với ngôn ngữ quốc gia, giữa yếu tố địa phương với tính toàn quốc. Điều này góp phần mở rộng những khái niệm về “bản sắc”, “tính dân tộc” trong bối cảnh sáng tạo văn chương ngày càng mang tính toàn cầu. Bên cạnh tài năng cá nhân và cơ hội tiếp cận giáo dục thời hiện đại, cần nhận diện sâu xa hơn những điều kiện văn hóa – không gian – ngôn ngữ đã nuôi dưỡng và định hình họ như chủ thể sáng tạo đích thực. Họ viết không chỉ bằng trải nghiệm cá nhân mà bằng ký ức cộng đồng qua nhiều thế hệ, bằng hệ biểu tượng đã được lưu truyền trong đời sống dân gian hàng ngàn năm, bằng cảm quan sinh thái khác biệt. Do vậy, hành trình hình thành một nhà văn dân tộc thiểu số là hành trình không đơn thuần của cá nhân, mà chính là hành trình mang theo tiếng nói cộng đồng, từ không gian núi rừng đến những trang viết hiện đại. Việc họ hiện diện trong văn học quốc gia không chỉ để làm phong phú mà còn để tái định nghĩa về văn học Việt Nam. Đó là nền văn học mang tính đa thanh, đa chiều kích và đa trung tâm. Bài viết đặt vấn đề về quá trình hình thành tác giả dân tộc thiểu số như một chủ thể văn hóa từ không gian sống, ký ức cộng đồng đến lựa chọn ngôn ngữ và biểu tượng. Ý thức về bản sắc văn hóa riêng của nhà văn dân tộc thiểu số được thể hiện ngay từ tên gọi tác phẩm đến ngôn ngữ, cấu trúc biểu đạt. Sự hiện diện đó cần được nhìn nhận như một phần không thể thiếu của văn học dân tộc. Đặc biệt, bài viết tập trung vào cách định nghĩa về nhà văn dân tộc thiểu số thông qua nhan đề các tác phẩm như một tiếng nói khác biệt cần được lắng nghe trong nền văn học quốc gia.

   1. Nhà văn dân tộc thiểu số – từ quan niệm đến khái niệm

   Khoản 2, 3 Điều 4 của Nghị định 05/2011/NĐ-CP xác định rõ: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia1. Như vậy, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam là 53 dân tộc trong thành phần dân tộc Việt Nam, trừ dân tộc Kinh là dân tộc đa số. Theo thống kê, dân tộc đa số chiếm 85,3% và dân tộc thiểu số chiếm 14,7% tổng dân số của cả nước2. Cách diễn đạt “dân tộc thiểu số” là khái niệm mang tính hành chính chỉ tương quan về lượng, thay cho lối sử dụng những khái niệm như “dân mán”, “người thượng”… mang định kiến sắc tộc trước kia. Ngày 18.11.1991, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam được thành lập với chức năng là đoàn thể quần chúng, có nhiệm vụ phối hợp với Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), các cơ quan văn hóa, khoa học trong cả nước, huy động các lực lượng văn hóa trong xã hội cùng thực hiện nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số... Tính đến nhiệm kỳ 2019-2024, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam có hơn 1000 hội viên, 40 tổ chức cơ sở Hội và chi hội của 40 tỉnh thành trong cả nước thuộc các chuyên ngành: văn học, âm nhạc, múa, mĩ thuật, sân khấu - điện ảnh, nhiếp ảnh, lý luận - phê bình, văn nghệ dân gian.

   Xét từ thực tiễn sáng tác và tiếp nhận, sự tồn tại của nhóm nhà văn dân tộc thiểu số gắn với vấn đề sắc tộc trong cộng đồng các tác giả sáng tác văn chương là một thực tế mang tính tất yếu. Đặt trong không gian văn học Việt Nam, nhà văn dân tộc thiểu số xuất hiện như một chủ thể đặc thù: vừa là tác giả cá nhân, vừa là tiếng nói đại diện cho cộng đồng có ngôn ngữ, văn hóa và thế giới quan riêng. Họ thường được nuôi dưỡng trong môi trường văn hóa bản địa, gắn với thiên nhiên, vòng đời nghi lễ, ký ức cộng đồng và truyền thống truyền khẩu – khác biệt cơ bản với nhiều nhà văn dân tộc đa số. Nhà văn dân tộc thiểu số vì thế không chỉ là người “kể chuyện của dân tộc mình” mà còn là người góp phần tái định nghĩa dân tộc mình trong hình thức nghệ thuật hiện đại, chuyển hóa ký ức tập thể thành sáng tạo cá nhân. Họ là trường hợp điển hình cho thấy rõ hơn sự gắn kết giữa cá nhân với cộng đồng, giữa ngoại biên với trung tâm, qua đó góp phần tái định nghĩa văn học Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa: một nền văn học đa trung tâm, đa chiều kích, đa bản sắc.

   2. Sự sinh thành nhà văn dân tộc thiểu số với việc kiến tạo bản sắc

   Nếu trước đây văn học dân tộc thiểu số đôi khi bị coi là dòng chảy bên lề, tồn tại để phản ánh đời sống miền núi hoặc làm phong phú màu sắc dân tộc thì nay cần một cách nhìn khác. Tái định nghĩa khái niệm “nhà văn” theo hướng đa thanh, đa trung tâm là yêu cầu tất yếu: văn học quốc gia phải lắng nghe tiếng nói từ ngoại biên. Những tiếng nói đó không phải là sự phụ họa cho các chính sách về văn hóa, cũng không phải nỗ lực đối đáp với dòng chảy văn học đa số, mà xuất phát từ chính nhu cầu bản thân của các tác giả văn học dân tộc thiểu số. Đó là nhu cầu bộc lộ bản sắc dân tộc thông qua việc sử dụng ngôn ngữ. Chiến lược này được thể hiện qua lựa chọn sáng tác song ngữ và đặt tên tác phẩm của các tác giả dân tộc thiểu số.

   2.1. Diễn ngôn bản sắc qua chiến lược sử dụng ngôn ngữ

   Bản sắc không phải là cái gì có sẵn mà là quá trình hình thành, lựa chọn và thể hiện, thường diễn ra qua các hình thức nghệ thuật, truyền thông, ký ức tập thể. Trong văn học, bản sắc được kiến tạo qua việc lựa chọn biểu tượng, không gian, giọng điệu và hình thức biểu đạt. Tác phẩm của nhà văn dân tộc thiểu số là diễn ngôn bản sắc kép: vừa mang đặc điểm cá nhân hóa, vừa gắn chặt với không gian văn hóa dân tộc thiểu số – từ ngôn ngữ mẹ đẻ, nghi lễ truyền thống, đến thế giới quan bản địa. Trong văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, đặc biệt là khu vực miền núi phía Bắc, sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc, nhất là mối quan hệ mật thiết giữa văn hóa người Việt với văn hóa các dân tộc thiểu số có từ khá sớm. Chính quá trình cộng cư đã nảy sinh ra nhiều điều kiện để tiếp xúc ngày một sâu rộng trên nhiều phương diện. Theo Triều Ân, “Trong quá trình phát triển, dân tộc Tày đã có nhiều giao thoa quan trọng với các dân tộc anh em, trong đó sự giao thoa Tày – Kinh là quan trọng hơn cả”3. Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám phần lớn là văn học dân gian. Từ các thể loại dân ca, tục ngữ dân gian đến thơ ca, từ tích truyện dân gian đến loại hình tự sự là một bước tiến và chuyển khá nhanh, trong đó sự phân định rạch ròi quá trình đó nhiều khi không đơn giản, thậm chí dấu vết của bước chuyển là cực kỳ mờ nhạt. GS. Phan Đăng Nhật trong bài viết “Từ thơ dân gian đến thơ thành văn Ngần Văn Hoan (Thái), Hoàng Đức Hậu (Tày)”4 đã khảo sát hai tác giả tiêu biểu của văn học dân tộc thiểu số trước Cách mạng Tháng Tám để nhìn ra sự vận động mang tính đặc thù ấy. Sang giai đoạn hiện đại, có thể thấy lớp nhà văn trưởng thành từ Cách mạng đã tạo nên một lực lượng sáng tác hùng hậu, ôm chứa những nguồn đề tài phong phú của hiện thực cuộc sống và cuộc đấu tranh cách mạng. Sau 1975, văn học dân tộc thiểu số có những phát triển lớn mạnh về đội ngũ, chất lượng tác phẩm; các vấn đề khác nhau trong đời sống hiện thực được soi rọi bằng một cái nhìn mới, và đáng kể nhất là sự ý thức ngày một sâu sắc về tinh thần dân tộc, bản lĩnh và vị thế dân tộc.

   Việt Nam là đất nước đa văn hóa và bởi thế văn chương Việt Nam là nền văn chương đa ngôn ngữ. So với những sáng tác bằng tiếng phổ thông, sáng tác của các tác giả dân tộc thiểu số chiếm một số lượng khiêm tốn. Một quy luật dễ dàng được thừa nhận là văn chương là một trong những điều kiện tồn tại và phát triển của ngôn ngữ dân tộc. Từ đó đặt ra những suy tư về công cuộc gìn giữ, lưu truyền bản sắc văn hóa khi ngôn ngữ dân tộc thiểu số ngày một mai một đi nhiều. “Tiếng nói và chữ viết (đối với các dân tộc có chữ viết truyền thống) là một trong những biểu hiện sinh động của bản sắc văn hóa. Trong thực tế, tiếng nói và chữ viết không phải lúc nào cũng song hành phát triển ở mỗi dân tộc. Về chữ viết các dân tộc ở nước ta có thể chia làm ba loại:

   - Chữ viết truyền thống, đây là loại chữ viết đã được sử dụng từ lâu đời. Những bộ chữ, phương án xây dựng bộ chữ dân tộc được thực hiện từ thời thực dân Pháp đô hộ nước ta đều dùng ký tự Latinh để phiên âm tiếng bản địa.

   - Chữ viết mới cho dân tộc được xây dựng theo Nghị định số 206-CP ngày 27/11/1961 của Hội đồng Chính phủ phê chuẩn việc dùng chữ các dân tộc và Quyết định số 53-CP ngày 22/2/1980 của Hội đồng Chính phủ về chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số”5.

   Tiếng nói, chữ viết không chỉ phản ánh cách tư duy nghệ thuật của các nhóm cộng đồng mà còn tham gia định hình, tác động trở lại tư duy nghệ thuật ấy. Trước kia, khi văn học viết chưa thực sự phát triển trong cộng đồng dân tộc thiểu số, không hiếm trường hợp, các tác giả dân tộc thiểu số sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình để biểu đạt tiếng nói, và có một khoảng cách khá lớn giữa ngôn ngữ thể hiện với khả năng biểu đạt. Theo Lâm Tiến, Tô Hoài là nhà văn sớm nhận ra sự khác biệt giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số cùng viết về đề tài dân tộc và miền núi. Nhà văn kể về thời gian khi viết cuốn Miền Tây, thực ra ông chỉ bắt chước tiếng nói, lối nói của người Mông, còn anh em ở trên đấy đọc nói rằng trong ngôn ngữ cụ thể từng câu, tác giả “có vẻ Mông”... Theo ông, chỉ “có vẻ” Mông chứ không phải thật Mông, thật ngôn ngữ, tư duy của dân tộc Mông. Nên nếu ngôn ngữ của Tô Hoài có bản sắc dân tộc (thiểu số) thì nó chỉ “có vẻ” bản sắc dân tộc, chứ không phải là bản sắc dân tộc đích thực. Từ “có vẻ’’ của Tô Hoài dùng ở đây rất đắt. Dường như các tác phẩm người Kinh viết về dân tộc và miền núi đều có vẻ bản sắc dân tộc như vậy và sau này đều có xu hướng “bắt chước” theo một khuôn mẫu được tạo ra bởi một trong những người khởi đầu đó. Sự khác biệt này chính là xuất phát từ chiều sâu văn hóa, tư duy và ngôn ngữ dân tộc và đó cũng là yếu tố chính tạo nên bản sắc dân tộc trong văn học các dân tộc thiểu số6. Là người quan tâm đến việc giữ gìn bản sắc dân tộc trong văn học dân tộc thiểu số bởi đó là đặc trưng sống còn của một bộ phận đặc thù, Nông Quốc Chấn cho rằng, “Muốn bảo tồn tiếng nói của mỗi dân tộc, nhà thơ, nhà văn của dân tộc cần có ý thức học và viết bằng tiếng dân tộc [...]. Mỗi dân tộc cần được khuyến khích, giúp đỡ dùng tiếng mẹ đẻ, và có điều kiện thì được giúp đỡ đặt chữ riêng, để in, dùng tiếng, chữ dân tộc thiểu số trong các lĩnh vực. Chúng tôi không coi tiếng Việt là thứ ngoại ngữ đối với các dân tộc thiểu số. Nhưng thực tế, học sinh miền núi học tiếng Kinh như học ngoại ngữ. Vậy, quan tâm cả hai ngữ...”7.

   Văn học các dân tộc thiểu số vẫn luôn có cách biểu hiện riêng, có truyền thống văn hóa riêng tuy tồn tại một thực tế là rất nhiều các nhà văn, nhà thơ dân tộc thiểu số dùng tiếng Việt làm phương tiện sáng tác. Không ít tác giả người dân tộc thiểu số thành danh đã được “chất vấn” về điều này. Một lẽ giản đơn là họ sống trong môi trường ấy, và có vẻ nghịch lý là chính môi trường ấy sẽ giúp cho sáng tác của họ vượt khỏi cái vòng địa phương, cục bộ. Dĩ nhiên lý tưởng nhất là họ viết bằng chính tiếng dân tộc mình nhưng có một câu hỏi ngược lại có thể được đặt ra: sẽ có bao nhiêu độc giả cho những sáng tác ấy? Bởi chính độc giả mới cho phép một nhà văn khẳng định sự tồn tại của mình. Đó là một giới hạn đầy nghịch lý nhưng hết sức thực tế với sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số.

   Trong suốt tiến trình phát triển gần một thế kỷ của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, hầu hết các tác giả là nhà thơ, nhà văn các dân tộc thiểu số đều đã có những sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Thời kỳ nở rộ là những năm 60 của thế kỷ XX, một loạt các tác phẩm từ thơ cho đến tiểu thuyết được ra đời. Chúng tôi tạm thống kê, chưa thật đầy đủ, các tác giả sáng tác bằng tiếng dân tộc có thể kể theo từng dân tộc như: dân tộc Tày có Hoàng Đức Hậu, Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Y Phương, Dương Thuấn, Dương Khâu Luông, Hoàng Kim Dung, Triệu Lam Châu, Hoàng Chiến Thắng...; dân tộc Thái có Lò Văn Mười, Cầm Biêu, Hoàng Nó, Vương Trung, Lò Vũ Vân, Lương Quy Nhân, Lò Văn Cậy...; dân tộc Dao có Bàn Tài Đoàn; dân tộc Chăm có Inrasara; dân tộc Mông có Hùng Đình Quý; dân tộc Mường có Đinh Sơn… Trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI, tình hình sáng tác bằng tiếng dân tộc thiểu số dường như bị chững lại. Tuy vậy, vẫn có những tác giả kiên trì với sáng tác song ngữ và đặc biệt là sự xuất hiện những tác giả trẻ. Điều đó có nhiều nguyên nhân mà theo nhạc sĩ Nông Quốc Bình, tuy đây là vấn đề “không mới nhưng cần phải nhắc lại như một sự thôi thúc từ trong tâm khảm của những người hoạt động văn học, nghệ thuật là con em các dân tộc thiểu số”8. Nhà thơ Nông Viết Toại, người chuyên tâm cả một hành trình sáng tác bằng tiếng Tày, cho rằng không thể “khoán trắng” cho các tổ chức mà cần sự ý thức riết róng của chính các tác giả người dân tộc thiểu số. Thêm vào đó, những giải pháp tâm huyết ông đưa ra để tăng cường việc xuất bản bằng tiếng dân tộc thiểu số cũng rất đáng chú ý: “Ở địa phương cũng từng có ý kiến gợi rằng, tiếng dân tộc nên có thêm tỷ lệ nhuận bút. Tôi nghĩ rằng, đấy cũng chỉ là biện pháp tình thế. Tiền bạc là quý nhưng trong sáng tạo nên tránh và cố tránh, gây thêm động cơ vì tiền”9. Những sáng tác bằng tiếng dân tộc là một phần quan trọng thể hiện sự tự ý thức về nét độc đáo của dân tộc mình, về sự giàu có của nền văn học, văn hóa. Chẳng hạn, cách họ nói về tiếng dân tộc đầy tự hào: “Tôi sinh ra/ Mẹ ru tôi bằng câu hát tiếng Tày/ Câu đầu tiên tôi biết gọi: Á ơi/ Giờ tôi ru con bằng ngôn ngữ khác/ Câu đầu tiên con không gọi như tôi/ Ngày bé tôi học tiếng phổ thông để đến với mọi người/ Giờ con tôi học tiếng Tày để tìm về nguồn cội” (Tiếng Tày - Dương Khâu Luông).

   Đến thế hệ trẻ, việc ý thức và nỗ lực giữ gìn tiếng nói, chữ viết dân tộc cũng được thể hiện trực tiếp trong nhiều sáng tác. Phùng Hải Yến (dân tộc Dao) tái hiện hình ảnh những người già như một “thư viện sống” truyền dạy cho con cháu. Điều đáng trân trọng ấy cũng đi liền với những tiếc nuối “khi lớp trẻ như chúng tôi không còn mấy người học và biết tiếng dân tộc mình, để đi đến, để ghi chép lại, để lưu giữ những hạt ngọc từng lung linh trong đời sống tinh thần cha ông mình” (tản văn Quê tôi vùng Tây Bắc - Phùng Hải Yến). Trong những năm qua, quyết sách của Nhà nước trong việc tôn trọng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, khuyến khích các nhà văn, nhà thơ đã góp phần không nhỏ trong việc “kiến tạo bản sắc” đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số ở các vùng trên đất nước. Đồng thời, khẳng định việc bảo tồn và phát triển sự nghiệp văn hóa các dân tộc bằng tiếng và chữ dân tộc là một trong những việc cấp thiết, đòi hỏi sự nhận thức đúng, định hướng có tầm chiến lược và cách làm linh hoạt sáng tạo thì mới đạt được kết quả như mong muốn... TS. Lò Giàng Páo đưa ra những đề xuất cụ thể: “Cần có bộ sách giáo khoa dành riêng cho học sinh vùng dân tộc và bộ sách hướng dẫn dành riêng cho giáo viên vùng dân tộc. Sách này được biên soạn mang đặc điểm sách hướng dẫn dạy song ngữ”10. Nhà thơ Triệu Lam Châu cho rằng cần lập ra Ban Văn hóa Văn nghệ trực thuộc Ủy ban Dân tộc và Miền núi của Chính phủ; lập ra một số tờ báo viết bằng các thứ tiếng dân tộc thiểu số... Đây là những thiết chế chính danh xác nhận vai trò của các tác giả văn học dân tộc thiểu số và hỗ trợ họ phát triển nghề nghiệp trong sáng tác bằng chính ngôn ngữ của họ. Bên cạnh đó, các hội đồng nghệ thuật chuyên sâu đóng vai trò của những độc giả tinh hoa thẩm định và trao giải thưởng hàng năm cho các tác phẩm có chất lượng viết bằng tiếng dân tộc thiểu số11... Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Viện Văn học và các đơn vị có liên quan phối hợp tổ chức những hội thảo chuyên đề về văn học Tày, Nùng, Thái, Chăm, Khmer... Sự đa dạng trong thống nhất quốc gia là chủ trương lớn, trong đó việc bảo tồn tiếng nói và chữ viết các dân tộc là định hướng quan trọng để xác lập được giá trị văn hóa và ý thức hệ ở chiều sâu.

   Văn học, nghệ thuật là một trong những điều kiện tồn tại và phát triển của ngôn ngữ dân tộc. Điều đó đặt ra những suy tư về công cuộc gìn giữ, lưu truyền bản sắc văn hóa khi ngôn ngữ dân tộc thiểu số ngày càng mai một đi nhiều. “Vấn đề sử dụng và phát huy tiếng nói các dân tộc thiểu số trong sáng tác vẫn luôn là nỗi niềm canh cánh của những người cầm bút là con em các dân tộc. Bằng những sáng tác của mình, một số tác giả người dân tộc thiểu số đang góp phần trả lời câu hỏi về tiếng nói và chữ viết trong đời sống văn nghệ”12. Khi phân tích về bản sắc và tự sự quốc gia, PGS. TS. Phạm Xuân Thạch đã điểm qua một số khuynh hướng nghiên cứu để đưa ra một số đề xuất “mang tính trung dung” như: Thứ nhất, sẽ không thể nói về bảo tồn và phát huy bản sắc Việt Nam nếu thiếu đi những nghiên cứu về bản sắc, nói cách khác, không xác định được bản sắc. Thứ hai, cần có sự cân bằng giữa khuynh hướng mang tính bản chất luận với tính kiến tạo luận về bản sắc. Một mặt, bản sắc là khuynh hướng có tính kết tụ, ổn định về giá trị của một cộng đồng người. Nhưng mặt khác, cũng không thể bỏ qua thực tế là bản sắc luôn bị tác động bởi phương thức sản xuất, bối cảnh văn hóa, xã hội, ý thức hệ, quyền lực chính trị, những yếu tố lịch sử: “Giống như ý thức hệ, bản sắc không phải là một định mệnh mà con người phải thủ đắc mà là một yếu tố mà con người chủ động kiến tạo để biện chính cũng như làm điểm tựa cho tồn tại của mình. Chính ở điểm này, chúng tôi muốn đề xuất khái niệm “tự sự quốc gia”… “Tự sự quốc gia” là cách thức một cộng đồng xác định tự sự về cộng đồng mình, lịch sử của mình, những huyền thoại của mình, lý giải những nguyên nhân tồn tại và vận động của cộng đồng mình, hay một cách đơn giản hóa là lịch sử của mình”13. Nếu hiểu khái niệm “tự sự quốc gia” như cách một cộng đồng kể về mình và cho chính mình thì cũng có thể nói về những tự sự dân tộc mà các nhà văn thuộc cộng đồng thiểu số thực hiện trong các sáng tác. Những tiếng nói “có vẻ” ngoại biên này thực ra lại có năng lực chất vấn trung tâm, mở rộng biên độ văn học quốc gia. Ở đây, ngôn ngữ đóng vai trò đặc biệt. Không ít nhà văn dân tộc thiểu số chọn song ngữ như một chiến lược thẩm mĩ: vừa bảo tồn tiếng mẹ đẻ, vừa dùng ngôn ngữ quốc gia để tham dự vào dòng chảy chung. Bên cạnh đó, nhan đề tác phẩm là một minh chứng của dấu ấn không gian bản địa đồng thời là “tuyên ngôn bản sắc” về cội nguồn.

   2.2. Nhan đề tác phẩm như một tuyên ngôn về cội nguồn

   Nhan đề tác phẩm thường mang chức năng đặc biệt, không chỉ là một “chỉ báo” về nội dung mà còn đưa đến những thông điệp ngầm ẩn. Ở đây chúng tôi khảo sát những sáng tác (tên gọi của tập thơ, tập truyện, tiểu thuyết) của các tác giả trên cơ sở lựa chọn nhằm bảo đảm tính khoa học và tính đại diện. Danh sách khảo sát tập trung vào những nhà văn đã khẳng định được vị trí trong đời sống văn học Việt Nam hiện đại: những tác giả đã thành danh với các tác phẩm được công chúng và giới phê bình thừa nhận; có quá trình sáng tác xuyên suốt, bền bỉ trong nhiều giai đoạn phát triển của văn học dân tộc thiểu số; là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam hoặc đồng thời là hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, bảo đảm tính chính danh và sự gắn kết với thiết chế văn học chính thống. Cùng với đó, việc lựa chọn cũng chú trọng đến thành tựu nghệ thuật thể hiện qua số lượng tác phẩm xuất bản, giải thưởng văn học, mức độ ảnh hưởng trong cộng đồng tiếp nhận. Một tiêu chí quan trọng khác chúng tôi cũng dành sự quan tâm lớn là tính đa dạng vùng miền và thành phần dân tộc, nhằm phản ánh được sự phong phú của không gian văn hóa – ngôn ngữ trong sáng tác. Với những tiêu chí này, đối tượng khảo sát vừa mang tính chọn lọc vừa phản ánh được sự đa thanh, đa diện của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam trong dòng chảy chung của văn học dân tộc.

   Từ danh sách khảo sát đã được xác lập theo những tiêu chí trên, có thể nhận thấy nhan đề tác phẩm của các nhà văn dân tộc thiểu số không chỉ đa dạng về hình thức mà còn mang tính quy luật nhất định. Nếu tiếp cận từ phương diện cấu trúc và trường liên tưởng, có thể thấy các nhan đề thường gắn bó mật thiết với không gian sinh tồn, với đời sống cộng đồng và với ký ức văn hóa của mỗi dân tộc. Trong đó, nổi bật lên hai nhóm nhan đề chính: thứ nhất, những nhan đề gắn với thiên nhiên núi rừng, thể hiện sự cộng sinh giữa con người và môi trường sống bản địa; thứ hai, những nhan đề phản ánh cuộc sống vùng cao, tái hiện phong tục, sinh hoạt, tín ngưỡng của cộng đồng. Chính từ sự phân loại này, việc quan sát cụ thể từng nhóm sẽ cho thấy rõ hơn vai trò của nhan đề như một “cửa ngõ” dẫn vào thế giới nghệ thuật của các nhà văn dân tộc thiểu số.

   Những nhan đề tác phẩm gắn với thiên nhiên (núi, rừng, suối, sông, cây, hoa… được nhấn mạnh như trung tâm thẩm mĩ) có thể kể đến: Bàn Tài Đoàn: Xuân về trên núi (1963), Rừng xanh (1973), Tìm bạn rừng (1990); Bùi Thị Như Lan: Bồng bềnh sương núi (2009), Mùa hoa Bjooc phạ (2013); Bùi Thị Tuyết Mai: Mường trong (2005); Cao Duy Sơn: Ngôi nhà xưa bên suối (2009); Dương Khâu Luông: Bản mùa cốm (2005), Khỉ con đi hái quả (2013), Núi chơi bóng (2013), Lặng lẽ mùa hoa mạ (2017); Dương Thuấn: Đi tìm bóng núi (1993), Trăng Mã Pí Lèng (2002); Hà Thị Cẩm Anh: Bài xường ru từ núi (2004), Lão thần rừng bé nhỏ (2007); Inrasara: Tháp nắng (1996), Sinh nhật cây xương rồng (1997); Kim Nhất: Động rừng (1999), Hồn ma núi (2002), Luật của rừng (2008); Lò Cao Nhum: Rượu núi (1996), Soi gương núi (1997), Sàn trăng (2000); Lò Ngân Sủn: Chiều biên giới (1989), Những người con của núi (1990), Lều nương (1996), Người trên đá (2000); Ma Trường Nguyên: Mát xanh rừng cọ (1986), Tiếng lá rừng gọi đôi (1996); Mai Liễu: Suối làng (1994), Mây vẫn bay về núi (1995), Giấc mơ của núi (2001), Đầu nguồn mây trắng (2004), Núi vẫn còn mưa (2012); Pờ Sảo Mìn: Mắt rừng xanh (2005), Đôi cánh chim rừng (2014), Tiếng chim cao nguyên (2015); Sa Phong Ba: Những bông hoa ban tím (1982), Chuyện ở chân núi Hồng Ngài (2000), Người rừng ở Pá Lống (2017); Triệu Kim Văn: Hoa núi (1989), Mùa sa nhân (1994), Con của núi (2002); Triệu Lam Châu: Ngọn lửa rừng (1999); Vương Anh: Hồn chiêng gánh núi (2008); Y Phương: Đàn then (1996), Tháng giêng tháng giêng, một vòng dao quắm (2009); Hồ Chư: Hoa trên đá (1999); Lương Định: Núi và hòn đá lẻ (1995); Cao Sơn Hải: Lặng lẽ suối xa (1994), Hoa bông trăng (1999), Trên cánh nương xa (2005); Hơ Vê: Đoá hoa rừng (1990), Con chim Ta lố (2003); Vi Hồng: Núi cỏ yêu thương (1984), Thung lũng đá rơi (1985), Mùa hoa bióoc lỏong (2006); Mã A Lềnh: Rừng xanh (1997), Bên suối Nậm Mơ (1995); Đoàn Lư: Trăng rừng (1996), Cỏ lồng vực (2009); Đoàn Ngọc Minh: Núi Bó Phạ trở về (2003); Hà Trung Nghĩa: Lửa trong rừng sa mu (1996); Hoàng Hữu Sang: Người đánh gấu trên núi Suối Mây (1997), Trồng rừng (1999), Cửa rừng (2000).

   Những nhan đề tác phẩm phản ánh cuộc sống vùng cao (tập trung khắc họa đời sống, bản làng, lễ hội, con người, sinh hoạt cộng đồng…), tiêu biểu có: Bàn Tài Đoàn: Gửi đồng bào Dao (1979); Bùi Thị Như Lan: Tiếng chim kỷ giàng (2003), Mùa hoa mắc mật (2005), Lời sli bay cao (2008), Cọn nước đôi (2012), Tiếng kèn Pí lè (2015), Chuyện tình Phja Bjooc (2017); Bùi Thị Tuyết Mai: Nơi cất rượu (2003), Binh Boong (2008); Cầm Biêu: Cầu vào bản (1982), Ánh hồng Điện Biên (1984), Bản Mường nhớ ơn (1993); Cao Duy Sơn: Những chuyện ở lũng Cô Sầu (1999), Những đám mây hình người (2002), Hoa bay cuối trời (2008); Dương Khâu Luông: Gọi bò về chuồng (2003), Dám kha cần ngám điếp (2005), Co nghịu hưa cần (2008), Lửa ấm Bản Hon (2012), Phác noọng dú tin phạ quây (2016); Dương Thuấn: Cưỡi ngựa đi săn (1991), Hát với sông Năng (2001); Hà Thị Cẩm Anh: Người con gái Mường Biện (2002), Nước mắt của đá (2005); Inrasara: Chân dung cát (2006); Lò Ngân Sủn: Đường dốc (1993), Chợ tình (1995); Lò Vũ Vân: Vòng xòe và sao sa (1980), Đi từ miền gió hoang (2005); Ma Trường Nguyên: Tình xứ mây (1993), Rễ người dài (1996); Mai Liễu: Bếp lửa nhà sàn (2005), Vẫn còn mùa thổ cẩm (2002); Nông Quốc Chấn: Việt Bắc tức slấc – Việt Bắc đánh giặc (1948), Tiếng ca người Việt Bắc (1959), Đèo gió (1968), Dòng thác (1977); Triều Ân: Tiếng hát rừng xa (1969), Tiếng khèn A Pá (1980), Đường qua đèo mây (1988), Nắng vàng bản Dao (1992), Nơi ấy biên thuỳ (1994), Xứ sương mù (2000); Vương Anh: Sao chóp núi (1968), Trăng mắc võng (1973), Tình còn (1979), Hoa Lipa yêu (1989), Rượu mặn (1993); Y Điêng: Ông già Kơ Rao (1964), Hờ Giang (1978), Drai Hling đi về phía sáng (1985); Y Phương: Người núi Hoa (1982), Kungfu người Co Xàu (2010); Lương Định: Dòng sông khao khát (2001); Chu Thùy Liên: Lửa sàn hoa (2003); Đinh Đăng Lượng: Người ở đầu nguồn (2000), Bóng cây chu đồng (2005), Hồn chiêng (2006), Cánh bông dàn mải miết (2009), Xứ hoa pôông trăăng (2017); Lâm Quý: Tình thơ Cao Lan (1997), Cái lều nương (2006); Vi Thị Kim Bình: Đường qua mùa hoa đào (1978); Cầm Hùng: Những người con của bản; Hà Lâm Kỳ: Chim ri núi (1992), Gió Mù Căng (1995), Con trai bà chúa nả (1998), Quả nhạc xoè của mẹ (2006); Bùi Nhị Lê: Truyện thung Pưa Run (1999), Sự tích màu lông cọp (1995), Hát quanh bếp lửa (2009); Đoàn Lư: Vực xanh (2004); Hà Lý: Ngọt đắng vị Mường (2002); Linh Nga Niê Kđăm: Đi tìm hồn chiêng (2003), Trăng Xí Thoại (2004), Pơ Thi mênh mang mùa gió (2009); Niê Thanh Mai: Suối của rừng (2005), Về bên kia núi (2007); La Quán Miên: Bản quê yêu dấu (1996), Hai người trở về bản (1996), Vùng đất hoa Cờ Mạ (1997), Con đường Bản Đôn (1999), Bản nhỏ tuổi thơ (2000); Hoàng Hữu Sang: Chuyện lạ ở bản Coóc (1999), Vực thuồng luồng (2006); Hữu Tiến: Đèo không lặng gió (2001), Cô gái nhặt bông gạo (2004), Sông hát (2006)...

   Qua những nhan đề tác phẩm kể trên, dù chưa thể đầy đủ, có thể thấy hai nhóm tên gọi lớn với những đặc trưng: Thứ nhất, những nhan đề lấy trực tiếp hình ảnh từ cảnh quan, núi rừng, bản làng, tín hiệu thuộc về môi trường sống gắn bó của đồng bào. Thứ hai, những nhan đề gợi nhắc đến nếp sống, sinh hoạt, phong tục, lễ hội đặc thù. Cả hai nhóm đều cho thấy việc đặt tên tác phẩm trở thành hành động gắn liền với việc lưu giữ và khẳng định bản sắc cộng đồng. Nhan đề như một “ký hiệu văn hóa”, trong đó hàm chứa lớp nghĩa biểu tượng về môi trường sống, truyền thống và bản sắc. Nhan đề là “tín hiệu thẩm mĩ” đầu tiên định hướng cách đọc, khơi gợi cho độc giả trường liên tưởng. Trong văn học dân tộc thiểu số, tín hiệu này thường mang dấu vết của núi rừng, phong tục, sản vật, như một cách “gán mã” văn hóa lên tác phẩm. Điều đó cũng phù hợp với quan niệm cho rằng tác phẩm là sản phẩm của một môi trường xã hội – văn hóa cụ thể và ngay trong nhan đề đã xuất hiện sự quy chiếu về không gian sinh tồn của cộng đồng.

   Nhà văn là người có khả năng kiến tạo lại hiện thực thông qua ngôn ngữ nghệ thuật. Do chịu sự chi phối của bối cảnh xã hội, nhà văn không chỉ kể lại câu chuyện cá nhân mà còn tham dự vào diễn ngôn rộng lớn về xã hội, dân tộc. Điều này đưa đến việc xem xét “nhà văn” hiện đại đóng vai trò chức năng xã hội như cách tiếp cận của xã hội học văn học hiện đại đối với sự sinh thành của nhà văn. Đó là người sáng tạo thế giới biểu tượng, tái hiện hiện thực bằng hư cấu nghệ thuật, đồng thời là tác nhân trong “trường văn học” – nơi các quyền lực ngôn ngữ, thị hiếu và thẩm mĩ quyết định ai được viết, viết cái gì và được tiếp nhận ra sao. Câu hỏi “Nhà văn là ai?” hay “Thế nào là nhà văn?” luôn được đặt lại trong nhiều khung lý thuyết. J. P. Sartre từng xác lập nhà văn như một thực thể xã hội từ góc nhìn hiện sinh. Michel Foucault với tiểu luận Thế nào là một tác giả cho thấy khái niệm “nhà văn” không bất biến mà được kiến tạo bởi bối cảnh xã hội, pháp lý, văn hóa. Nhà văn được hiểu là những người sáng tác văn chương, không chỉ viết ra văn bản mà còn là một chủ thể sáng tạo được công nhận trong một hệ hình xã hội cụ thể. Như vậy, “nhà văn” là khái niệm lịch sử – xã hội chứ không phải danh xưng có sẵn cho bất kỳ ai cầm bút. Đó là kết quả của một tiến trình hình thành và được thừa nhận, mà tiêu đề tác phẩm là một trong những chỉ dấu đầu tiên cho quan hệ giữa người viết với cộng đồng. Xét trên bình diện lịch đại, đã có kết quả tương tự của sự chuyển hóa từ “người viết” đến “nhà văn chuyên nghiệp”. Sự chuyển hóa này gắn liền với sự phát triển của các cộng đồng văn chương như là các thiết chế văn học: nhà xuất bản, hội nghề nghiệp, phê bình, công chúng.

   Việc nhấn mạnh cội nguồn qua nhan đề tác phẩm còn là hành vi khẳng định bản sắc, chống lại nguy cơ xóa mờ các nét đặc sắc văn hóa. Trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện đại, văn học bằng tiếng Việt tạo ra một ảnh hưởng mạnh mẽ và trở thành trung tâm, việc tác giả dân tộc thiểu số chủ động gọi tên tác phẩm bằng dấu hiệu của núi rừng, phong tục, sản vật chính là một hành động “tái định vị” tiếng nói của cộng đồng mình. Nhan đề tác phẩm đã trở thành một hình thức cất tiếng, khẳng định sự hiện diện khác biệt. Điều này cho thấy văn học dân tộc thiểu số không chỉ góp phần mở rộng bức tranh văn học quốc gia mà còn tham gia vào diễn ngôn rộng lớn hơn của sự tự khẳng định và đa dạng văn hóa.

   Từ cái nhìn của tiếp nhận văn học, nhan đề tác phẩm luôn là “cửa ngõ” đầu tiên dẫn dắt độc giả, định hình những kỳ vọng và khung tri nhận trước khi đi sâu vào nội dung. Với sáng tác của nhà văn dân tộc thiểu số, nhan đề lại càng mang ý nghĩa đặc biệt: nó không chỉ là tuyên ngôn bản sắc của tác giả, mà còn định hướng cách độc giả – phần đông thuộc cộng đồng đa số và có khoảng cách văn hóa nhất định – tiếp cận và diễn giải văn bản. Một nhan đề gắn với hình ảnh núi rừng, phong tục, lễ hội, sản vật hay những từ ngữ mang âm hưởng tiếng mẹ đẻ (ví dụ Trăng Mã Pí Lèng của Dương Thuấn, Đàn then của Y Phương, Tháp nắng của Inrasara) ngay lập tức khơi gợi trường liên tưởng về không gian ngoại biên, đồng thời tạo tâm thế “đọc khác” cho độc giả. Nói cách khác, nhan đề đóng vai trò như một “ký hiệu văn hóa” vừa mời gọi vừa thử thách: nó mời gọi bằng sự lạ hóa, gợi mở một thế giới giàu màu sắc riêng; đồng thời thử thách bởi độc giả phải giải mã lớp ngôn ngữ, biểu tượng xa lạ để thấu hiểu tinh thần dân tộc trong văn bản. Chính ở đây, độc giả không chỉ là người tiếp nhận thụ động mà trở thành đồng tái tạo ý nghĩa cùng tác giả, qua đó làm nổi bật năng lực “chất vấn trung tâm” của văn học dân tộc thiểu số. Như vậy, nhan đề tác phẩm không đơn thuần là điểm tựa cho bản sắc mà còn là điểm gặp gỡ của sự “thương lượng” văn hóa giữa nhà văn và độc giả trong không gian văn học quốc gia.

   3. Kết luận

   Trong bối cảnh văn học đương đại Việt Nam, những tác giả văn học dân tộc thiểu số vừa có sáng tác song ngữ vừa viết bằng tiếng Việt thể hiện nỗ lực kết nối, hòa nhập mà vẫn giữ gìn bản sắc. Bên cạnh những sáng tác song ngữ cho phép nhà văn gìn giữ ngôn ngữ mẹ đẻ, mở rộng biên độ tiếp nhận, việc viết bằng tiếng Việt được nhiều tác giả dân tộc thiểu số lựa chọn như một cách khẳng định sự hiện diện trong dòng chảy văn học quốc gia. Trong khi tiếng dân tộc gắn liền với ký ức và bản sắc thì tiếng Việt đóng vai trò là “ngôn ngữ trung gian” để cộng đồng dân tộc thiểu số định vị mình trong bản đồ văn học quốc gia và quốc tế. Chính từ đây, tác phẩm dân tộc thiểu số có thể tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa văn học, được dịch ra các ngôn ngữ khác, qua đó nối kết với độc giả ngoài biên giới14. Sự tham dự này góp phần vào sự xuất hiện của nhà văn dân tộc thiểu số một cách chính danh và đích đáng. Sự xuất hiện và tồn tại của định danh “nhà văn dân tộc thiểu số” không đơn giản là kết quả từ chính sách mà từ nhu cầu của chính tộc người.

 

 

 

Chú thích:
* Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số 602.04-2024.09.
1 Xem thêm: Nghị định 05/2011/NĐ-CP và Nghị định 127/2024/NĐ-CP về công tác dân tộc, nguồn: https://thuvienphapluat.vn.
2 Theo Thông cáo báo chí kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, toàn quốc có 82.085.729 người dân tộc Kinh, chiếm 85,3% và 14.123.255 người dân tộc khác, chiếm 14,7% tổng dân số của cả nước.
3 Triều Ân (2008, Nghiên cứu - sưu tầm - biên dịch), Văn học Hán Nôm dân tộc Tày, NXB. Văn hóa dân tộc, tr. 8.
4 Phan Đăng Nhật (1979): “Từ thơ dân gian đến thơ thành văn Ngần Văn Hoan (Thái), Hoàng Đức Hậu (Tày)”, Tạp chí Văn học, số 1, tr. 80-81.
5, 8, 12 Nông Quốc Bình (2022): “Tiếng nói và chữ viết dân tộc thiểu số trong sinh hoạt và đời sống văn nghệ”, in trong Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương (2022), Văn học, nghệ thuật với những vấn đề quan trọng, cấp thiết của đất nước, NXB. Chính trị quốc gia - Sự thật, tr. 98, 96, 100-101.
6 Xem thêm: Tô Hoài (2009), Về tác giả và tác phẩm, NXB. Giáo dục.
7 Nông Quốc Chấn (1997): “Một nền văn học nhiều tiếng nói”, in trong Việt Nam – nửa thế kỷ văn học, Kỷ yếu hội thảo ngày 26.9.1995, NXB. Hội Nhà văn, tr. 91.
9 Nông Viết Toại (2007): “Tiếng mẹ đẻ với sáng tác thơ, văn”, in trong Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số thời kỳ đổi mới, NXB. Văn hóa dân tộc, tr.72-73.
10 Lò Giàng Páo (2007): “Vai trò tiếng nói và chữ viết các dân tộc thiểu số”, in trong Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số thời kỳ đổi mới, NXB. Văn hóa dân tộc, tr. 79.
11 Triệu Lam Châu (2007): “Sáng tác văn học bằng tiếng mẹ đẻ”, in trong Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số thời kỳ đổi mới, NXB. Văn hóa dân tộc, tr. 113-114.
13 Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương (2022), Văn học, nghệ thuật với những vấn đề quan trọng, cấp thiết của đất nước, NXB. Chính trị quốc gia - Sự thật, tr. 556-558.
14 Về phương diện này, chúng tôi sẽ dành ở một nghiên cứu khác. Tiêu biểu có thể kể đến trường hợp Triệu Lam Châu. Không chỉ là nhà thơ dân tộc Tày kiên trì với việc sáng tác song ngữ, ông còn được biết đến còn với tư cách là một dịch giả có nhiều thành tựu. Ông đã dịch nhiều tác phẩm thơ từ tiếng Nga sang tiếng Tày (tập Đêm trắng), dịch Nhật ký trong tù ra tiếng Tày... Triệu Lam Châu đã đoạt nhiều giải thưởng thơ và dịch thuật như: Giải nhất Cuộc thi dịch văn học Hội Nhà văn Việt Nam (1994), Giải nhất thơ Phú Yên (1991), Giải Nhì (không có giải Nhất) về thơ năm 2001 của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Giải 25 năm thơ Phú Yên (1975-2000), Giải thưởng về thơ năm 2004, 2007 của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Giải nhất Cuộc thi thơ về tình hữu nghị Việt - Nga năm 2000 của Trung ương Hội hữu nghị Việt Nam - Liên bang Nga, Giải Ba về âm nhạc của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2007…

Bình luận

    Chưa có bình luận