Tư tưởng nghệ thuật, ý thức sáng tạo của chủ thể giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng quá trình tiếp cận đời sống, quá trình hình thành tác phẩm và xác lập tầm vóc của anh ta trong đời sống nghệ thuật: “Những tư tưởng lớn cổ vũ người nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, soi sáng con đường của anh ta dẫn tới những đỉnh cao của nghệ thuật. Và mặc dầu những tư tưởng lớn tự chúng không tạo ra tài năng, nhưng tài năng nếu có được những tư tưởng ấy thì sẽ tạo ra những giá trị nghệ thuật lớn”1. Vì thế, trong nghiên cứu văn học, để giải mã một tác phẩm, nhận định một sự nghiệp; và ở quy mô lớn hơn, đánh giá một khuynh hướng, một trào lưu hay một nền văn học, thì xem xét những quan niệm, những lý tưởng thẩm mĩ..., hay nói cách khác, tìm hiểu ý thức sáng tạo của người cầm bút, đặc biệt là những quan niệm được tuyên ngôn trực tiếp bằng văn bản, chính là một trong những phương hướng tiếp cận hữu ích.
Sau năm 1975, khi chiến tranh kết thúc, đất nước bước sang thời kỳ hoà bình và thống nhất, văn học cũng như mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trở về với quy luật vận động và phát triển bình thường của nó. Đặc biệt, từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986, trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, những vấn đề cốt lõi của quá trình sáng tạo nghệ thuật đã được nhận thức, bàn luận trở lại, và tìm tòi, sáng tạo – nhiệm vụ trung tâm mang tính bản chất của nghệ thuật và nghệ sĩ – đã được ý thức lại một cách ngày càng sâu sắc, rộng rãi. Nhiều nhà văn, nhà thơ, đặc biệt là những tên tuổi lớn, đã chủ động bày tỏ quan điểm, tư tưởng nghệ thuật của mình và hiện thực hóa những tư tưởng đó vào trong thực tế sáng tác. Không tuyệt đối hóa tài năng bẩm sinh, cũng không minh họa cho những định đề, tư tưởng sẵn có mà xây dựng cho mình một hệ thống quan điểm, tư tưởng riêng, điều đó chưa phải là tất cả, nhưng đã cho thấy người cầm bút trong văn học đương đại có ý thức sáng tạo sâu sắc, có trách nhiệm nghề nghiệp và sự chuyên nghiệp trong hoạt động sáng tác, được tạo điều kiện để phát huy những nhân tố đó trên con đường xây dựng sự nghiệp của người nghệ sĩ ngôn từ. Những phát ngôn của các nhà văn đã tạo nên một diễn đàn sôi động về ý thức nghề nghiệp, ý thức dân chủ hoá văn học, nghệ thuật.
Bài viết tìm hiểu sự thể hiện tư tưởng nghệ thuật của đại diện các thế hệ người cầm bút trong thời kỳ Đổi mới, được bày tỏ trực tiếp trong các tiểu luận, các cuốn sách, các bài trả lời phỏng vấn được tập hợp và xuất bản, như một vấn đề bản chất của văn học, nghệ thuật; đồng thời như một hiện tượng tiêu biểu cho quá trình dân chủ hóa văn học dân tộc. Trong sự đa dạng về nội dung của những phát biểu, trao đổi từ các nhà văn, có thể nhận thấy ba khía cạnh nổi bật trong ý thức nghề nghiệp được thể hiện, đó là: ý thức luyện nghề, vượt lên trên quan niệm về tài năng thiên bẩm; ý thức về vai trò của độc giả gắn với kinh tế thị trường và ý thức về các tiêu chí thẩm mĩ trong bối cảnh mới của thời đại.
1. Ý thức luyện nghề trong lĩnh vực của sáng tạo, vượt thoát khỏi sự phụ thuộc vào tài năng thiên bẩm
Văn học trước hết là một loại hình nghệ thuật, vì thế sáng tạo là một yêu cầu sống còn của nó. Trong bối cảnh hoà bình, thống nhất và trình độ thẩm mĩ của công chúng ngày càng được nâng cao thì nhà văn cần coi sáng tạo là lẽ sống, là yêu cầu thiết yếu, hàng đầu trong quá trình sáng tác. Sáng tạo theo Xuân Thiều là bản chất, là thuộc tính gắn liền với văn học, nghệ thuật nên nó cũng là một quá trình tự thân và liên tục đối với các nhà văn chân chính: “Nhà văn có bản lĩnh vững vàng không chờ Đảng kêu gọi đổi mới. Bản thân họ, với đầy đủ ý thức trách nhiệm trước người đọc, luôn luôn là người tìm tòi sáng tạo đổi mới. Đổi mới không phải là hiện tượng đột biến mà là quá trình liên tục. Nhiều cái mới hôm nay, ngày mai ngày kia đã trở nên cũ rồi, không còn phù hợp nữa rồi. Cái mới không thể dừng lại, luôn luôn ở phía trước […]. Đối với nhà văn, cái mới bao giờ cũng manh nha, cũng lấp ló trong tác phẩm. Về một mặt nào đó, họ làm công việc dự báo cho xã hội”2. Công cuộc Đổi mới do Đảng khởi xướng tại Đại hội VI, vì thế, theo ông, là sự khích lệ, là sự cổ vũ cho tài năng và tính trung thực của nghệ sĩ có điều kiện phát huy, còn bản thân hoạt động sáng tác của nhà văn, từ trong bản chất, đã luôn luôn phải là một quá trình sáng tạo, không ngừng đổi mới, và nhà văn có bản lĩnh phải luôn luôn giữ được tinh thần sáng tạo đó trong mọi hoàn cảnh.
Nhà văn đương đại hướng tới một chân trời rộng lớn của sự sáng tạo, song bên cạnh đó họ cũng có ý thức và đặt ra để thảo luận về những yêu cầu mà nghề nghiệp đặt ra với chính họ, về những phẩm chất họ cần đạt được để có thể sáng tạo ra được những tác phẩm vươn tới tầm vóc thời đại. Một số tác giả đặt ra vấn đề mối quan hệ giữa bản năng và ý thức, tài năng thiên phú và ý thức nghề nghiệp, tri thức lý luận trong thế giới tinh thần của nhà văn. Quá trình sáng tác từ bản năng đến ý thức được ví như giai đoạn người con gái trở thành người đàn bà: dù tài hoa, thông minh đến mấy, chỉ khi trở thành người đàn bà, cô gái mới ý thức được một cách đầy đủ, trọn vẹn về cuộc đời mình. Cũng như thế, dù tài năng, sắc sảo đến đâu, chỉ khi sáng tác với một ý thức cao về nghề cầm bút, với sự trang bị những kiến thức lý luận cần thiết, nhà văn mới phát huy tối đa năng lực của mình một cách đúng hướng và trở thành một nghệ sĩ thực thụ, chín muồi, trưởng thành. Nguyễn Huy Thiệp phê phán thái độ khinh bạc với lý luận, phê bình văn học và niềm tin không giới hạn vào trực giác của một số nhà văn, ông coi đó là “khoảng trống ai lấp được trong tư tưởng nhà văn”. Ông quan niệm “Một nhà văn, một người sáng tác phải coi lý luận phê bình như sự tự ý thức của anh ta. Tính chất khoa học trong công việc của nhà văn là ở chỗ này. Chỉ có những “nhà văn – nhà khoa học – nhà bác học” mới hòng xây dựng được những tác phẩm thiên tài”3. Nhà văn phải viết trên cơ sở một hệ thống lý luận, một quan niệm nhất định, do đó, mỗi nhà văn phải là một nhà tư tưởng. Hay nói cách khác, mỗi nhà văn phải luôn luôn kết hợp được trong mình nhà triết học và nhà tâm lý, nhà tư tưởng và nhà nghệ sĩ. Muốn thế, nhà văn phải luôn luôn có ý thức học tập từ trong kho tàng tri thức của dân tộc và nhân loại. Dương Tường “tin rằng người làm văn học cần có cái culture general, tức là cái nền văn hóa chung. Không có cái nền văn hóa như thế thì anh chỉ viết một thời gian rồi hết vốn liếng, không đi xa được”4, nền văn hóa chung đó chính là một thứ phông nền tri thức tổng hợp, rộng lớn và bao quát về cuộc sống theo cả hai chiều đồng đại và lịch đại, và dường như là bất tận cho sự học hỏi, bồi đắp của mỗi người.
Một phương diện đáng chú ý trong ý thức nghề nghiệp của nhà văn thời kỳ Đổi mới, đó là: không tuyệt đối hóa vai trò của tài năng thiên bẩm, một số tác giả nhấn mạnh sự cần thiết của những trải nghiệm và khổ luyện trong sự nghiệp sáng tác. Quá trình luyện nghề để trở thành nhà văn cũng là quá trình người viết luyện rèn lối sống của bản thân gắn với những đòi hỏi thiết yếu của nghề viết. Rèn luyện khả năng quan sát, suy nghĩ và tưởng tượng phải là ý thức thường thường trực, phải là công việc hàng ngày của người cầm bút. Vốn sống, sự hiểu biết sâu sắc và rộng lớn về con người và cuộc sống phải được nhà văn bồi đắp hàng ngày để kết hợp với óc phán đoán, suy xét, tưởng tượng để nhào nặn thành tác phẩm. Và tri thức, hiểu biết, kinh nghiệm, trải nghiệm ấy phải được bao phủ bằng một tấm lòng, bằng đạo đức nghề nghiệp trong sáng nhất, cao cả nhất: “Cái phút cầm bút ngồi trước trang giấy bao giờ cũng là cái phút con người nhà văn trở nên tốt đẹp nhất, chân thật, trong sạch và công bằng nhất […]. Đó là cái giây phút sống lại tất cả mọi cái gì nhà văn có, của cả đời mình”5. Nhà văn phải “sống ráo riết” trong từng câu chữ, đồng thời đặt ra yêu cầu về tính “chính xác” của tác phẩm văn chương: “Tôi nghĩ rằng phải hết sức chú ý yếu tố chính xác trong các giá trị thẩm mĩ văn chương. Chính xác ở ngôn từ thể hiện. Chính xác ở bản thân sự kiện. Chính xác ở tư tưởng. Thậm chí chính xác ở thể loại. Chính xác ở chức năng văn học”6. Từ “chính xác” mà tác giả nhấn mạnh ở đây có thể hiểu là tính chân thực, điển hình, chuẩn mực của các giá trị mà tác giả đề cập tới. Trần Nhã Thụy đề cao tính chân thực: “Tính chân thực trong tác phẩm, trước hết thể hiện ở chỗ: anh phải trung thực với chính mình, đây là câu chuyện của anh, giọng điệu, tình cảm, tư tưởng của anh chứ không phải của một ai khác […]. Như vậy là anh phải lao động, “vắt tim, nặn óc” để hoàn thành tác phẩm”7, đó là cá tính riêng, tư tưởng riêng, tình cảm riêng mà mỗi nhà văn phải tập trung kiến tạo cho riêng mình để mỗi tác phẩm trở thành “thương hiệu riêng” không trộn lẫn với ai, với một tên tuổi nào khác. Phan Triều Hải đưa ra quan điểm về những nhân tố hình thành nên một nhà văn mang tính tổng hợp và thể hiện xu thế của thời đại: “Ngoài kinh nghiệm, thì sự trung thực, tài năng, học thức, văn hóa, văn minh, môi trường sống, kể cả một cái mặt sáng sủa của người viết… tất cả đều có vai trò trong việc hình thành nên tư chất nhà văn, tác phẩm cũng như số phận của anh ta”8.
Như vậy, trong các phát ngôn được phân tích về vị trí, vai trò và những phẩm chất cần thiết của nhà văn, ta có thể nhận thấy: các nhà văn đương đại – từ những nhà văn bước ra từ giai đoạn kháng chiến, đến những nhà văn trẻ mới xuất hiện trong thời kỳ Đổi mới, có ý thức sâu sắc về trách nhiệm với xã hội, với nghề nghiệp của mình. Vẫn đề cao tài năng, tâm huyết, kinh nghiệm thực tiễn như những nhân tố then chốt làm nên một nghệ sĩ nhưng điểm mới trong quan niệm của các tác giả đương đại là sự ý thức cao về vai trò của tri thức lý luận, của phông văn hóa – của học thức nói chung đối với người cầm bút. Điều đó thể hiện trách nhiệm và cái tâm của người cầm bút trong một xã hội đang vận động ngày càng đa dạng, phức tạp.
2. Ý thức về vai trò của độc giả gắn với kinh tế thị trường
Lukács György cho rằng: “Trong nghệ thuật, quá trình phát triển của nhân loại đã trực tiếp được làm cho liên quan đến từng con người, bởi vì sự gợi nhớ nghệ thuật trước hết cố gắng để cho người tiếp nhận sống cái hình ảnh của cái thế giới khách quan như là sống cuộc sống riêng của mình, để người tiếp nhận tìm lại chính mình – quá khứ hay hiện tại – và bằng cách đó, nó thức tỉnh rằng chính nó đã làm nên phần phát triển của nhân loại”9. Vai trò của độc giả, mối quan hệ giữa tác giả – tác phẩm – người đọc là những vấn đề then chốt ngàn đời của văn chương. Tuy nhiên, quan niệm và ứng xử xung quanh mối quan hệ đó cũng có sự biến đổi trong từng giai đoạn.
Trong văn học trung đại, văn chương được quan niệm là một hoạt động tinh thần mang tính bác học, chỉ dành cho tầng lớp trên trong xã hội, đồng thời sáng tác văn chương đa phần chỉ hướng đến một số rất ít những người có đủ chữ nghĩa, đủ am tường tri thức và đủ đồng cảm để thù tạc tri âm. Bước sang thời hiện đại, văn học – với tư cách một nghề nghiệp, gắn liền với báo chí và xuất bản, đã dần trở thành một hoạt động mang tính xã hội rộng lớn, có tác động đến một phạm vi công chúng ngày càng lớn và vai trò của người đọc càng ngày càng được người sáng tác ý thức rõ ràng hơn. Ngay từ những năm 40 của thế kỷ XX, nhóm Xuân Thu nhã tập từng quan niệm: “Thi sĩ làm xong bài thơ có thể nói: Bản đẹp chưa thành. Vì nó còn chờ tác giả thứ hai: người đọc. Cảm xúc chuyển từ người thơ sang độc giả, hòa hợp hai lẽ siêu hình, con sông thơ lộng một trời mới. Người đọc phải là “thi nhân”, tái tạo vũ trụ bài thơ ra”10. Văn học thời kỳ kháng chiến coi tính đại chúng là một trong những phẩm chất quan trọng nhất. Song có thể khẳng định rằng: chưa bao giờ người đọc được quan niệm một cách đầy đủ, với sự tôn vinh và đề cao như trong văn học đương đại. Thời kỳ Đổi mới, với sự phát triển của xã hội, văn hoá, tri thức, công nghệ, người đọc đến với văn chương không chỉ có tấm lòng, sự đồng cảm, họ còn là những người có tri thức phong phú, có vốn hiểu biết đa dạng về lịch sử, xã hội, có điều kiện để tiếp cận với nhiều thành tựu về văn học, văn hóa, văn minh trên toàn thế giới, có trình độ thẩm mĩ ngày càng cao, vì thế nhà văn muốn tiếp cận được với người đọc phải có được những tác phẩm mới mẻ, độc đáo, sâu sắc. Không chỉ là người tiếp nhận và lựa chọn để bảo lưu những giá trị văn học đích thực, người đọc, với trình độ, thị hiếu thẩm mĩ của mình, có thể là người đưa ra những đánh giá, những cảm nhận, bình luận của mình và đó là những phản hồi quý báu có thể giúp nhà văn định hướng những bước đi tiếp theo trên con đường sáng tác. Dương Tường đặc biệt đề cao yếu tố đó khi nói về con đường thơ của mình: “Trong sáng tác văn học, cái feedback của độc giả và nhà phê bình là rất quan trọng”11, và ông nhấn mạnh tính “kịp thời” của những feedback đó: nếu nó xuất hiện kịp thời, đúng lúc, khi mà nguồn mạch sáng tác của tác giả còn đang tuôn trào, nó có thể giúp con đường của một tác giả đi theo hướng này hoặc rẽ theo hướng khác. Như vậy, sự phản hồi của công chúng đối với tác phẩm, nhìn từ một góc độ nhất định, chính là sự định hướng cho nhà văn. Trong thời đương đại, với sự phát triển mạnh và cởi mở của xuất bản, báo chí và truyền thông, điều kiện để có được phản hồi của độc giả là hết sức thuận lợi, đó chính là cơ hội để nhà văn lắng nghe và tiếp cận công chúng ngày càng gần gũi hơn.
Tuy nhiên, công chúng bao giờ cũng đông đảo và phức tạp, với những mối quan tâm khác nhau. Trên thực tế, nhu cầu của độc giả đối với các sáng tác văn học là hết sức đa dạng, và người sáng tác không thể là cây bút biến hóa muôn hình vạn trạng để chiều theo tất cả các độc giả, vì vậy, với ý thức về mục đích sáng tác cũng như thiên hướng riêng của mình, nhiều nhà văn đã lựa chọn cho mình một nhóm đối tượng độc giả phù hợp để hướng tới và kết nối. Hơn nữa, với sự phát triển của công nghệ thông tin, của báo chí, truyền hình và các loại hình nghệ thuật khác, văn học và văn hóa đọc nói chung đang bị cạnh tranh gay gắt. Thời gian của công chúng đương đại dành cho việc đọc dường như ngày càng ít đi, vì thế, việc nghiên cứu tâm lý, nhu cầu, thị hiếu của bạn đọc cũng trở thành một yêu cầu quan trọng đối với người sáng tác. Trong chia sẻ của Đỗ Bích Thúy, có thể thấy quan điểm của chị về độc giả: “Có rất ít nhà văn chiếm được cảm tình của tất cả các độc giả, rất rất ít. Tôi quan niệm rằng, mỗi nhà văn chỉ có được một nhóm độc giả mà thôi”12. Với Nguyễn Vĩnh Nguyên, việc lựa chọn độc giả được thực hiện ngay từ khi nhà văn bắt đầu viết và bản thân trang viết đã bao hàm một sự chọn lựa: “Dù muốn dù không thì người viết cũng đã ngầm chọn lựa độc giả thông qua cách xử lý trang viết và thái độ của anh ta đối với những vấn đề đang đề cập”, và với anh, chưa chắc số đông đã là đích đến, sự lựa chọn có thể là một thiểu số nếu thiểu số đó trở thành động lực kích thích nhà văn sáng tạo, đổi mới. “Thậm chí nếu đủ sức để làm nên giá trị mới, tôi nghĩ nhiều nghệ sĩ tiền phong sẽ sẵn sàng viết cho một lớp độc giả tiềm năng hoặc mở ra một lối khai phá mà anh ta chỉ là viên đá lót đường không được lịch sử nhắc tới”13. Độc giả là động cơ và đích đến của nhà văn, nhưng nhà văn luôn ý thức về “độc giả của mình”, hướng tới một lớp độc giả cụ thể - với những đặc điểm tâm lý, trình độ thẩm mĩ, học vấn… cụ thể, chứ không phải là một khái niệm chung chung, mơ hồ, trừu tượng về người đọc. Và quan trọng hơn, sự lựa chọn độc giả của mỗi nhà văn suy cho cùng phải giúp nhà văn phát huy cao nhất sở trường, tài năng để có được “chữ ký”, có được lối đi riêng, những thành tựu riêng của mình. Nắm bắt được độc giả của mình, theo chúng tôi, là một phương diện cho thấy nhà văn hiểu rõ chính mình, biết rõ mình cần gì. Điều này vừa là sự kế thừa và tiếp nối quan niệm văn học giai đoạn trước, vừa phản ánh những đặc điểm, điều kiện mang tính đặc trưng của thời đương đại. Trong văn học kháng chiến, câu hỏi “Viết cho ai?” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra luôn được các nhà văn quan tâm hàng đầu và việc trả lời câu hỏi đó như thế nào sẽ quyết định hàng loạt những yếu tố khác làm nên tác phẩm – đó là ý thức trách nhiệm của những người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, văn học muốn phát huy cao nhất tác động của văn học đối với những đối tượng tiếp nhận cụ thể. Còn trong quan điểm về độc giả của các nhà văn đương đại, bên cạnh những nội dung trên, đó còn là sự chọn lựa mang tính tự thân, xuất phát từ ý thức về cái tôi của tác giả và là sự chọn lựa cái thích hợp trong sự đa dạng, phong phú của một “thế giới phẳng” của thời đại mở cửa.
Cùng với sự phát triển và ảnh hưởng ngày càng sâu rộng vào mọi mặt đời sống của cơ chế thị trường, người đọc văn học đương đại được hiểu là một dạng “khách hàng” đặc biệt: những người tiêu thụ sản phẩm hàng hóa tinh thần: “Khi in cuốn sách ra, tôi nghĩ rằng nó là một thứ hàng hóa, sản phẩm đặc biệt. Và tôi rạch ròi chọn lựa, ký thác cho mình cách viết ngay lúc đầu cũng có nghĩa là đã ngầm chọn cho mình một đối tượng khách hàng nào đó hợp lý”14. Và vì là khách hàng, theo Phong Điệp, “Độc giả có quyền lựa chọn của mình vì thứ nhất: họ là người bỏ tiền ra mua tác phẩm của nhà văn. Thứ hai, họ mua tác phẩm về để phục vụ nhu cầu (hiểu biết? giải trí? trang trí?...) của mình. Nếu tác phẩm không đáp ứng được nhu cầu ấy họ có quyền quẳng đi”15. Chính vì độc giả là khách hàng, là người bỏ tiền ra mua và có quyền lựa chọn tác phẩm phục vụ nhu cầu của mình, nên bên cạnh việc nâng cao chất lượng sáng tác, nhà văn cũng cần phải có “chiêu thức” tiếp thị, quảng cáo cho tác phẩm của mình. Bày tỏ quan điểm về việc có nên tiếp thị sách như một thứ hàng hóa hay không, về việc có nhà thơ tự rao bán sách của mình, Đỗ Bích Thúy cho rằng đó là một điều nên làm: “Nếu anh không nói cho mọi người hay rằng: Tôi đang có một cuốn sách, nó rất đáng đọc, thì sẽ chẳng mấy ai biết rằng có một cuốn sách như vậy đang nằm trên giá ở quầy sách”16 trong điều kiện có rất nhiều cuốn sách ra đời, người đọc thì có quá nhiều thứ cần quan tâm, nhiều cách để giải trí và thưởng thức nghệ thuật. Cao hơn nữa, “Nhà văn bắt buộc phải trở thành một nhà văn hóa, một nhà nghiên cứu. Anh ta buộc phải giỏi máy tính, giỏi ngoại ngữ, anh ta phải “tự tổ chức” viết lách và bán hàng. Anh ta phải trở nên chuyên nghiệp […]. Không có gì hết nếu anh không viết được hay, không bán được tác phẩm của anh cho người đọc”17.
Đặt công việc của nhà văn vào giữa thị trường, tìm hiểu độc giả với tư cách khách hàng trong thị trường ấy, đó là những biểu hiện rất cao của ý thức chuyên nghiệp hóa quá trình sáng tác, và thường được biểu hiện ở các nhà văn trẻ, các nhà văn thế hệ 7X, 8X. Điều đó cũng cho thấy các nhà văn hiểu được những khó khăn, thách thức của nghề viết văn trong xã hội hiện nay, từ đó có những cách thức đối mặt và vượt qua những thách thức ấy để an tâm với ngòi bút của mình. Bởi lẽ, ở họ, điểm sáng nhất, bền bỉ nhất trong quan niệm về nghề nghiệp vẫn là niềm tin bất diệt vào những giá trị cao đẹp của văn chương. Niềm tin ấy không phải là một xác tín mang tính võ đoán và mù quáng, mà nó được thiết lập dựa trên tri thức, trên sự hiểu biết sâu rộng: “Có một điều tôi tin chắc rằng, dù thế nào đi nữa thì sách văn học sẽ vẫn có chỗ đứng rất cao quý của nó. Ở nhiều nước trên thế giới, nền kinh tế của họ đi trước chúng ta hàng thế kỷ, nửa thế kỷ, internet trở thành không khí của họ nhưng rốt cục thì internet vẫn không xóa sổ được văn chương, và nhiều người đọc thì phát điên lên để gần như cướp được một cuốn sách hay khi nó vừa xuất bản”18. Đó chính là một động lực để các tác phẩm nối tiếp nhau ra đời và các nhà văn vẫn không ngừng sáng tác với khát vọng mãnh liệt chinh phục những đỉnh cao. Và đương nhiên, niềm tin không thể là căn cứ duy nhất, do đó, để chinh phục những thách thức thì sự vận động trong tư tưởng nghệ thuật, việc coi người đọc là “khách hàng”, là trung tâm hướng tới của quá trình sáng tạo, cũng là đích đến của một chu trình kiến tạo sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm ấy trong thị trường văn hoá, giải trí, đó là một bước tiến quan trọng trong nhận thức của nhà văn trong cơ chế thị trường.
3. Ý thức về sự vận động của các tiêu chí thẩm mĩ trong bối cảnh mới của thời đại
Trong thời đại đổi mới và đề cao sự sáng tạo, cách tân mạnh mẽ, các nhà văn đã ý thức sâu sắc về việc xác lập những giá trị thẩm mĩ mới cho văn chương nghệ thuật, đồng thời cũng đề xuất một cách đọc, cách tiếp nhận của công chúng. Nhiều nhà văn chú trọng thể hiện cá tính sáng tạo, cái tôi độc đáo của tác giả trong sáng tác. Nghệ sĩ Dương Tường khi nói về quá trình sáng tác thơ của mình đã bày tỏ quan điểm: “Từ lúc bắt đầu làm thơ là tôi đã có một tâm niệm là tôi phải viết khác những người khác. Nếu viết không khác người ta thì đừng viết ra. Vì mỗi người có một tính cách khác nhau nên thơ nếu là của anh thì nó phải phát lộ cái personality (nhân cách) của anh”. Cũng trên tinh thần đó, nhà văn Thuận, hơn một lần trong các phát biểu của mình, đã chia sẻ rằng khi viết ra một câu, một chữ, luôn phải đặt ra câu hỏi: Liệu câu đó, chữ đó đã được ai viết ra chưa, bởi với chị, sứ mệnh quan trọng nhất của nhà văn là phải kiến tạo được cái mới, là sáng tạo. Thậm chí, sáng tạo được nhà văn quan niệm là bản chất của văn học – không chỉ ở khâu sáng tác mà cả ở khâu tiếp nhận, không chỉ là yêu cầu sống còn với tác giả mà còn là yêu cầu đối với người đọc. “Tôi quan niệm nhà văn không phải là nhà sư phạm, không phải là nhà triết học, nhà xã hội học hay nhà chính trị học. Đó là lý do của sự khác nhau giữa việc đọc văn học và những thứ còn lại. Sáng tạo là điều cơ bản trong văn học, không chỉ với tác giả, mà cả với độc giả”. Với Thuận, “Khác là điều cơ bản của sáng tạo”, chị đề nghị ở độc giả một lối đọc không thụ động, ở tác giả một cách viết luôn luôn quên đi cái bóng của những người đi trước, đồng thời viết cuốn sau quên đi những cuốn trước của mình, để luôn tạo ra bất ngờ cho độc giả, và cho chính mình: “Nhà văn không thể khiến độc giả bất ngờ trong khi bản thân anh ta thì trơ khấc”19. Thị hiếu của độc giả thì không cùng và không dễ nắm bắt, nhưng sáng tạo, làm mới phải là một động lực tự thân, hàng ngày của quá trình sáng tác. Nói như Uông Triều, “Nghề nào cũng đòi hỏi sự sáng tạo, vì nếu không có sáng tạo chúng ta sẽ lặp lại mình và những người xung quanh. Với nghề viết sự đòi hỏi càng mãnh liệt và thách thức. [...]. Sáng tạo là thuộc tính căn bản của văn học, nó vừa là thách thức vừa là động lực hấp dẫn vô biên với những người viết”20. Nhà văn phải giữ được sự nhất quán trong phong cách, cá tính sáng tạo, nhưng đồng thời không ngừng tạo nên sự đa dạng, phong phú trong thế giới nghệ thuật và bút pháp để hấp dẫn chính mình với tư cách là người đọc đầu tiên. Dù với những cách diễn đạt khác nhau, song trong những phát ngôn của mình, các nghệ sĩ đương đại đều đề cao cái độc đáo, dấu ấn cá tính sáng tạo riêng của tác giả như một tiêu chí thẩm định giá trị của tác phẩm. Đặt trong bối cảnh văn hóa - xã hội đương đại, những quan niệm trên là phù hợp với xu thế tất yếu của thời đại, phù hợp với nhu cầu của xã hội, với mục tiêu của công cuộc Đổi mới. Ý thức về sự sáng tạo ấy vừa là một hằng số muôn đời đối với mọi người nghệ sĩ, mặt khác, sự trỗi dậy mạnh mẽ và sâu sắc của nó là nhằm đáp ứng nhu cầu thời đại, khi mà với sự phát triển của công nghệ thông tin, người đọc có vô vàn phương thức khác nhau để nhận thức về thế giới, những lối mòn trong tư duy và biểu hiện về hiện thực sẽ khó có cơ hội chạm tới được sự quan tâm của công chúng.
Khi bàn về chức năng và tác động của văn học đối với đời sống xã hội, nhiều nhà văn đã khẳng định lại về tầm quan trọng của chức năng giáo dục, khả năng định hướng lý tưởng thẩm mĩ của văn học đối với người đọc, song trong thời đại mới, nội hàm của những vấn đề trên cũng được bàn thảo với những cách nhìn phong phú. Nguyễn Huy Thiệp gắn văn học với mĩ học, văn hoá: “Công việc của nhà văn phần nào giống công việc của các bậc thánh tức là sản xuất ra những người cao thượng, những tình cảm cao thượng. Đấy là lý tưởng cao cả của người cầm bút. Văn học có giá trị là thứ văn học có khả năng sản xuất ra những người cao thượng và những tình cảm cao thượng. Tóm lại nó là văn hóa. Một mặt khác, văn học còn là thước đo trình độ trí tuệ, trình độ học vấn của giới trí thức trong thời đại đó”21. Để hướng con người tới chân - thiện - mĩ, một trong những nhiệm vụ của văn học đương đại là tiếp cận và phản ánh cái xấu, cái tiêu cực. Trong thực tế, văn chương nước ta có những giai đoạn né tránh nói đến cái xấu để say sưa xây dựng và ngợi ca cái tận thiện tận mĩ, cái cao cả, cái hoàn hảo. Đến giai đoạn này, các nghệ sĩ băn khoăn về việc đưa vào văn chương cái xấu, cái ác, cái đang vận động, chưa hoàn hảo. Nguyễn Minh Châu khẳng định tầm vóc của Đông ky sốt và AQ chính truyện – những tác phẩm đã phác thảo nên bức chân dung biếm họa vừa trào phúng, vừa xót xa, vừa tếu táo, vừa nghiêm khắc về những tật xấu cố hữu của người Tây Ban Nha và người Trung Quốc. Nguyễn Huy Thiệp cho rằng nhà văn là người nhạy cảm với cái xấu và nhà văn chỉ ra cái xấu để xã hội tránh xa chúng: “Nhà văn là gì? Chẳng là gì cả. Nó chỉ là một linh hồn nhỏ đầy lỗi lầm và luôn tìm cách sám hối vượt khỏi những lỗi lầm ấy. Nó là con vật nhạy cảm hết sức đáng thương với các thói xấu của cả bầy đoàn. Nó viết không phải vì nó, nó viết để cả bầy đoàn rút ra từ đấy một lợi ích công cộng, một lợi ích văn hóa”22. Như vậy, văn học, bằng việc chỉ ra những cái xấu, cái tiêu cực, cái hạn chế, sẽ giúp cho con người và xã hội trở nên trong sạch hơn, tốt đẹp hơn, tiến bộ hơn, góp phần “gạn đục khơi trong”, cải tạo xã hội. Xuân Thiều cũng cho rằng văn chương “cần phải vạch trần cái xấu xa tệ hại, cần phải phê phán cái sai lầm, cái ấu trĩ để nhằm xây dựng cái mới, cái đẹp”. Tuy nhiên, trong việc phản ánh cái xấu, điều quan trọng nhất là cái tâm của người viết, là tấm lòng nhà văn, bởi theo ông, “Thiện chí, chân thành khác hẳn với xỏ xiên, ác ý”. Thiện chí, chân thành sẽ giúp xây dựng xã hội tốt đẹp, còn xỏ xiên, ác ý sẽ “cổ vũ cho tội ác, cho bạo lực, đồi trụy, cổ xúy sự rối ren lộn xộn trong xã hội, làm đảo lộn mọi giá trị tinh thần đạo đức truyền thống của dân tộc”23. Chính vì vậy, ông đề nghị nhà văn phải giữ được cái tâm trong sáng, còn các nhà quản lý văn học, nghệ thuật phải xác định và củng cố được định hướng của sự phát triển văn học. Giang Nam khẳng định thiên chức của nhà văn là cao cả, nhà văn phải đồng thời là nhà nhân văn và “Người nào nhân danh văn học, nhân danh sáng tạo để tuyên truyền cái ác, cái xấu, sự thù hằn, đố kỵ, sự tha hóa nhân phẩm… thậm chí còn thích thú khi miêu tả chúng, rõ ràng đi ngược lại với mơ ước ngàn đời ngày càng mạnh mẽ của nhân loại muốn có một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc, hài hòa. Những người ấy (dù họ là nhà văn thật đấy), tác phẩm của họ sẽ bị người đọc quên đi rất nhanh”24. Có thể nói, việc phản ánh cái xấu, cái ác, cái tiêu cực là một phương diện khá phức tạp và nhạy cảm trong văn học đương đại, khiến nhiều nhà văn băn khoăn, trao đổi, bởi lẽ, vấn đề lập trường, chỗ đứng, cách nhìn đối với những hiện tượng đó sẽ quyết định hiệu quả nghệ thuật của văn học đối với công chúng về những vấn đề được biểu hiện, song lập trường, cách nhìn nhận đánh giá của mỗi nhà văn được bộc lộ một cách khác nhau: có những tác giả bày tỏ nhận định của mình ngay trên bề mặt ngôn từ, nhưng cũng có những tác giả giấu cái tôi của mình đi, để cho bản thân hình tượng tự nó bộc lộ phẩm chất và người đọc tự phán xét… Trên một phương diện khác, một hình tượng nghệ thuật được tiếp nhận, đánh giá như thế nào lại phụ thuộc rất nhiều vào cảm nhận chủ quan của người đọc, người phê bình, do đó, cái xấu, cái tầm thường, dục vọng, sự hèn nhát, toan tính của một nhân vật có thể được người này hiểu là cái đời thường đa dạng, sinh động khiến nhân vật trở nên chân thực, gần gũi hơn, nhưng lại bị người khác cho là sự bôi đen, hạ thấp, mất niềm tin ở con người. Chính vì thế, quan điểm về sự thể hiện cái xấu của mỗi tác giả sẽ có liên hệ mật thiết với những tình huống, những tác phẩm, những hình tượng cụ thể.
Trong thời kỳ Đổi mới, sự hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới giúp cho nhà văn mở rộng tầm nhìn và tư tưởng, nhiều nhà văn ý thức về việc vươn tới những giá trị đỉnh cao, vươn tới những chân trời xa rộng của văn học, nghệ thuật. Bên cạnh tính dân tộc và các giá trị truyền thống, các nhà văn thường chú trọng đến tính nhân loại của nghệ thuật, họ khát khao vươn tới tầm nhân loại phổ quát, đưa tác phẩm của mình và nền văn học, nghệ thuật của nước nhà nói chung, từ hồn cốt dân tộc, hòa nhập được vào đời sống văn hóa, văn học thế giới. Dương Tường phê phán chủ nghĩa thuần túy (purisme), chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi làm nghèo nàn, xơ cứng văn hóa dân tộc, ông đề nghị một cách quan niệm mới mẻ, cởi mở, hiện đại về tính dân tộc, gắn dân tộc với thời đại: “Gần đây, khẩu hiệu “dân tộc” đã được bổ sung thành “dân tộc – hiện đại”. Khái niệm này vừa cởi mở vừa biện chứng. Cởi mở vì nó đối lập với quan niệm bảo thủ về tính dân tộc theo kiểu khoanh tính dân tộc lại trong cái vòng tròn nhỏ hẹp nhái lại [...] những vốn cổ nhất thiết phải bảo tồn nhưng không thể chỉ dừng lại ở đó. Biện chứng bởi nó thuận với hiện tượng được gọi là tương tác (hay giao thoa) văn hóa (acculturation) thường thấy trong diễn trình lịch sử và là một trong những nhân tố góp phần vào tiến triển văn hóa”. Trong thời đại phát triển của công nghệ thông tin, thế giới dường như nhỏ hẹp lại, theo ông, tính dân tộc phải thấm vào chiều sâu, vào cái hồn bên trong khi mà ở văn hóa nghệ thuật, sự thâm nhập, vay mượn, thẩm thấu, giao lưu và tương tác để tạo nên sự đa dạng, giàu có là một xu thế tất yếu và tiến bộ. “Và thăng hoa tột cùng của tính dân tộc, theo tôi, chính là tính phổ quát – toàn thế giới vậy”25. Như vậy, tính dân tộc, hồn dân tộc phải gắn liền với tính nhân loại, văn học đạt tới tính dân tộc cao nhất là khi những giá trị của nó chạm tới những vấn đề phổ quát và được thế giới ghi nhận như là thành tựu chung phi biên giới. Để đạt được điều đó, chủ thể sáng tạo của văn học nghệ thuật phải là những tài năng lớn, những nhân cách đa văn hóa. Cũng với trăn trở ấy, Nguyễn Minh Châu cho rằng sự chăm chút cho thế hệ trẻ của Hội Nhà văn phải hướng tới chuẩn bị cho sự ra đời của những tư cách nghệ sĩ và những tài năng lớn. Những tài năng lớn phải kiến tạo được những giá trị nghệ thuật mang tầm vóc nhân loại, bởi vì “Chẳng lẽ mãi mãi thế hệ nhà văn Việt Nam chúng ta vẫn cứ yên tâm sản xuất ra toàn những sản vật không bao giờ được ngó đến trong nền văn học thế giới, chẳng lẽ Việt Nam ngày nay chỉ hưởng của thiên hạ mà không làm ra được cái gì góp vào của chung thiên hạ? Chẳng lẽ các nhà văn Việt Nam đi ra ngoài mãi mãi chỉ có một cái tên riêng là nhà văn Việt Nam. Để rồi quay trở về con hát mẹ khen hay?”26. Trong nỗi băn khoăn đầy tâm huyết của Nguyễn Minh Châu, ta có thể hiểu “cái tên riêng” là những giá trị mang tinh thần dân tộc và bó hẹp trong phạm vi dân tộc, còn “thiên hạ” là chân trời rộng lớn, đa dạng, phong phú và phổ quát của những giá trị mang tính toàn thể, nhân bản của thế giới, của thời đại. Xác lập được diện mạo riêng, bản sắc riêng, “cái tên riêng” là điều hết sức quan trọng, nhưng ông còn hi vọng vào những thành tựu đạt đến tầm nhân loại, để nền văn học Việt Nam được hòa nhập và tôn vinh trong bức tranh chung của văn học thế giới. Cực đoan hơn, Nguyễn Huy Thiệp đề nghị nhà văn phải xác lập cho mình một quyền lực đặc biệt để tạo ra “cái hài hòa” dung hòa được cả Tạo hóa khôn cùng và những ràng buộc mang tính lịch sử - xã hội: “Hình như chỗ giỏi của các nhà văn thiên tài là bằng lòng tốt và ngòi bút bất lực của mình, anh ta kéo được sức mạnh của Tạo hóa tự nhiên cùng với sức mạnh của thể chế chính trị xã hội đương thời xích lại gần nhau”27. Trong cách diễn đạt có phần cực đoan này, ta thấy nhà văn mong muốn văn học phải vượt ra khỏi những giới hạn về địa lý, lịch sử để kiến tạo được những giá trị vĩnh hằng. Đó chính là tầm vóc trong khát vọng của những nhà văn chân chính.
4. Kết luận
Trong văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới, tiếp tục những công cuộc “nhận đường” của văn học các giai đoạn trước, các nhà văn trong quá trình sáng tác đã kết hợp được tài năng thiên bẩm với tư duy lý luận, với ý thức sâu sắc về vị trí, vai trò của văn học, mối quan hệ giữa văn học và đời sống, những phẩm chất cần thiết, những yêu cầu đặt ra đối với người cầm bút trong thời đại mới cũng như vai trò của người đọc trong việc tiếp nhận văn học và đồng sáng tạo tác phẩm. Nhiều tác giả đã lên tiếng đối thoại với những quan điểm còn giản đơn, sơ lược hoặc đã lạc hậu về văn học, nghệ thuật, với mong muốn đưa nền văn học đạt tới bước phát triển mới, kiến tạo được những giá trị vừa mang tinh thần dân tộc, vừa có tính thời đại, phổ quát. Những quan điểm trên, một mặt, cho thấy sự lao động nghệ thuật nghiêm túc, có ý thức và đầy tâm huyết của các tác giả văn học đương đại, và ở một phương diện khác, đã phản ánh sự vận động theo xu hướng dân chủ hóa và đa dạng, phong phú như những đặc điểm quan trọng của văn học đương đại Việt Nam. Đặc điểm đó vừa là tiền đề, vừa là kết quả của những nỗ lực không ngừng đổi mới văn chương mà từng tác giả cụ thể đã thể hiện, không chỉ trong sáng tác – trong thế giới hình tượng sinh động của mình, mà còn qua các phát ngôn chính thức trên các cuốn sách, các bài tiểu luận, các cuộc trả lời phỏng vấn… Những tuyên ngôn nghệ thuật được khảo sát đã thể hiện quan điểm của không chỉ cá nhân tác giả mà còn là tiếng nói chung, hay nói đúng hơn, tiếng nói tiêu biểu, của một thế hệ văn nghệ sĩ là chủ nhân của nền văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới, hội nhập và kiến tạo những giá trị mới của thời đại.
Chú thích:
* Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số 602.04-2024.09.
1 M. B. Khrapchenko (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, Lê Sơn – Nguyễn Minh dịch, NXB. Tác phẩm mới, tr. 15.
2, 23 Xuân Thiều (2005), Tiếng nói cảm xúc, NXB. Phụ nữ, tr. 71-70, 75.
3, 6, 17, 21, 22, 27 Nguyễn Huy Thiệp (2005), Giăng lưới bắt chim, NXB. Hội Nhà văn, tr. 22, 37, 262, 54, 56, 29.
4, 11, 25 Dương Tường (2010), Chỉ tại con chích choè, NXB. Hội Nhà văn, tr. 117, 101, 34-37.
5, 26 Nguyễn Minh Châu (2002), Trang giấy trước đèn, NXB. Khoa học xã hội, tr. 42-83, 137.
7, 8, 12, 13, 14, 15, 16, 18, 19 Phong Điệp (2007), Mạn đàm văn chương thời @, NXB. Thanh niên, tr. 188, 10, 74, 63, 62, 95, 73, 73, 42-90.
9 Lukács György (2025), “Đặc trưng của cái thẩm mĩ”, trong sách Lí luận văn học như là siêu khoa học, Trương Đăng Dung dịch, NXB. Văn học, tr. 259.
10 Nhiều tác giả (1992), Xuân Thu nhã tập, NXB. Văn học, tr. 33.
20 Uông Triều (2020), Thế giới của sáng tạo, NXB. Hội Nhà văn, tr. 37.
24 Giang Nam (2000): “Thiên chức nhà văn”, Tạp chí Nhà văn, số 2.