Phân tâm của Freud đã đưa ra khái niệm về học thuyết này qua cấu trúc tâm thần bộ. Đây là cấu trúc quan trọng, làm nền tảng cho việc nghiên cứu những vấn đề về ẩn ức và các mối quan hệ giữa “vô thức” đối với tâm tính, nhận thức của con người. Tâm thần bộ được Freud xem là quá trình đấu tranh không ngừng giữa “cái đó” – cái khát dục, mang bản chất của “vô thức” bị chi phối bởi những khoái lạc không thể trì hoãn và “cái tôi” – bộ phận có tổ chức nhân cách của con người để đạt đến “cái siêu tôi” – ý thức về đạo đức và luận lý xã hội. Như vậy, nói một cách đơn giản rằng, Freud đã khái lược tâm tính con người khi đứng trước một tình huống hay một vấn đề cần giải quyết là sự đấu tranh không ngừng nghỉ giữa những khát dục tầm thường để hướng đến cái đạo lý cao thượng, trong đó, mỗi con người sẽ tùy theo tâm tính của mình (“cái tôi”) để xử lý và lựa chọn.
Áp dụng lý thuyết này để soi chiếu vào trường hợp thơ nữ Việt Nam sau năm 2000 từ góc độ giọng điệu thơ, chúng ta thấy được chính những người nữ cũng đang có sự diễn tiến hằng ngày trong tư duy nghệ thuật về việc phải hoàn thiện chính mình và hoàn thiện cuộc sống của mình trong thế kỷ mới. Bởi lẽ, trong sáng tạo văn chương, giọng điệu là một yếu tố quan trọng để thể hiện “cái tôi” của tác giả. Nghiên cứu về giọng điệu thơ cũng là nghiên cứu về cấu trúc tâm thần bộ đang hiện hữu nơi người sáng tác. Giọng điệu là một phương tiện biểu hiện quan trọng của tác giả. Điểm nổi bật của giọng điệu là thông qua nó, tác giả tạo nên được thái độ, tư tưởng, tình cảm của chính mình: “Giọng điệu là sự thể hiện thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hình tượng được miêu tả, thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm”1. Giọng điệu là một trong những phạm trù thẩm mĩ căn bản của văn học, là yếu tố giúp phân biệt rõ rệt phong cách sáng tác của nhà thơ này với nhà thơ khác. Mỗi nhà thơ trong hành trình sáng tạo nên đứa con tinh thần của chính mình sẽ có một giọng riêng không thể lẫn với bất kỳ ai. Càng có ý thức sáng tác mang đậm cái tôi cá nhân thì giọng điệu càng trở nên đặc sắc và riêng biệt. Tuy nhiên, trong góc nhìn của phân tâm học, Philippe Claret cho rằng “kể cả tính cách riêng biệt nhất của mỗi cá nhân cũng không thể nằm ngoài tính cách dân tộc”2. Dù mỗi nhà thơ đều có giọng thơ riêng như một phong cách thì những phong cách đó, xét từ cội nguồn cổ mẫu, đều khởi phát đi từ giọng điệu của thời đại mà nhà thơ đó sinh sống. Vấn đề này được M. Bakhtin nêu vấn đề “loại hình hoá giọng điệu, đặt giọng điệu trong bối cảnh văn hoá”3. Căn cứ theo các quan điểm đó, chúng ta thấy, chỉ nghiên cứu giọng điệu của mỗi nhà văn không là chưa đầy đủ, hay nói cách khác, trong quá trình nghiên cứu giọng điệu của từng nhà văn, chúng ta phải có một góc nhìn bao quát khi nhìn nhận giọng điệu đó từ sự tác động chung của thời đại. Ở bài viết này, chúng tôi không nghiên cứu riêng rẽ từng giọng thơ của các tác giả nữ Việt Nam mà chúng tôi nghiên cứu giọng điệu chung của họ trong bối cảnh sau năm 2000 dưới góc nhìn phân tâm học.
Cũng từ góc nhìn của phân tâm học, giọng điệu chính trong tác phẩm thơ trữ tình cũng là một cách để đánh giá quá trình hướng đến “cái siêu tôi” của mỗi nhà văn. Thông qua tác phẩm trữ tình, hành trình hướng đến điều cao thượng đó được lan tỏa cho mọi người đọc và cũng vì thế tác động đến sự nhận thức của độc giả. Giọng điệu trong tác phẩm văn học được tạo nên từ cảm hứng chủ đạo của sáng tác. Nguyễn Văn Long cho rằng: “Cảm hứng là trạng thái hưng phấn cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả. Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt nguồn từ lý tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại”4. Cảm hứng chủ đạo của một tác phẩm “trước hết là niềm say mê khẳng định chân lý, lý tưởng, phủ định sự giả dối mà mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực, là thái độ ngợi ca, đồng tình với nhân vật chính diện, là sự phê phán, tố cáo các thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường”5. Theo đó, cảm hứng chủ đạo sẽ chi phối giọng điệu của tác giả trong tác phẩm, việc tìm hiểu giọng điệu trong một tác phẩm cụ thể nào đó phải luôn được xem xét trong mối quan hệ với cảm hứng chủ đạo, vì cảm hứng chủ đạo là căn cốt, nguồn cội, còn giọng điệu là hình thái biểu hiện xúc cảm, thái độ của cảm hứng chủ đạo. Nói đến giọng điệu là phải nói đến yếu tố nghệ thuật gắn liền với cấu trúc của toàn bộ văn bản. Nghĩa là một tác phẩm nghệ thuật muốn có giọng điệu trước hết nó phải được xây dựng từ chất liệu ngôn từ, một công trình kiến trúc, một bức tranh, một tác phẩm nghệ thuật không có giọng vì nó không có ngôn từ. Do đó, ngôn từ là đặc tính quan trọng của giọng điệu và cảm hứng nghệ thuật là điều kiện tiên quyết của giọng điệu. Xét từ góc độ tác phẩm văn học, chúng tôi sử dụng nó như một quan điểm lý thuyết để trong quá trình phân tích và cảm nhận thơ nữ Việt Nam sẽ lý giải các giọng điệu thơ mang đặc trưng của cấu trúc tâm thần bộ.
1. Giọng điệu suy ngẫm để chiêm nghiệm và hướng thiện
Từ đầu thế kỷ XXI, với sự biến đổi nhiều của các nền khoa học công nghệ, thế giới con người là một sự vô tận trong các kết nối mạng internet. Trong thế giới đa chiều thông tin ấy, con người tiếp cận được gần hơn với các trường hợp, hoàn cảnh trong cuộc sống, do đó, cảm hứng “đời tư thế sự” càng trở thành một nguồn cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của các nhà thơ, tự nhiên nó trở thành yếu tố cổ mẫu bất ngờ cho giọng điệu sáng tác. Với những đa đoan của cuộc đời, giọng điệu của thơ nữ là một sự suy ngẫm để chiêm nghiệm nhiều vấn đề từ tình yêu đến cuộc sống.
Giọng điệu suy ngẫm trước hết được thể hiện qua âm hưởng thơ nhỏ nhẹ, từ tốn và chậm rãi. Cõi lòng của người con gái khi được cất lên từ sự chậm rãi, nhỏ nhẹ cũng tạo nên thiên tính nữ là đằm thắm và đoan trang: “Tình yêu lại về như trời của mùa xuân/ bắt đầu hoa bắt đầu ngọn gió/ tim lặng lẽ như trái vàng trong cỏ/ rụng xuống rồi, một sớm lại hồi sinh” (Độc thoại mùa thu - Tuyết Nga). Nhịp thơ dài, chậm và đều trong lớp ngôn từ giàu hình ảnh, nó như để suy tư về bản chất của tình yêu. Tình yêu có thể làm hồi sinh và sống lại những mảnh tâm hồn đã dần cạn khô. Khi người ta yêu, họ sẽ ngập trong sắc màu mùa xuân, nhìn đâu cũng đầy những “trái vàng” rực rỡ. Tình yêu làm sống dậy những “hồi sinh” trong con người: “Ngồi bên anh/ Im lặng/ Trong kỳ diệu ánh mắt/ Nhìn rất xa/ rất xa/ Biếc xanh dấu lá thiên đường” (Ngồi bên anh - Bình Nguyên Trang). Âm hưởng thơ vang lên trong sự bình yên và nhỏ nhẹ, giọng thơ chìm vào cõi tâm với một sự suy tư thể hiện cái “cái tôi” hướng thiện. Ngồi cạnh bên người mình yêu thương là một sự lắng đọng, chỉ có tình yêu chân thành thì sự lắng đọng ấy mới trở nên “kỳ diệu” như thế. Suy ngẫm về một tình yêu chân chính, Nguyễn Nhật Ánh trong cuốn Mắt biếc cũng từng viết: “Vũ trụ này thật kỳ khi làm nảy sinh tình yêu của con người. Tình yêu biến nước mắt thành mật ngọt, biến hạnh phúc thành thiên đường”6. Chiêm nghiệm về tình yêu là sự chiêm nghiệm đầy chất “lắng” trong tâm khảm người phụ nữ, bởi yêu là khát khao cũng là một thiên tính: “Em ngồi đan chiếc áo len xanh/ Hẹn gió thu về gởi tặng anh/ Rồi bỏ đó em vào thiên cổ/ Anh một đời ngóng áo thiên thanh” (Đan áo - Phạm Thiên Thư). Nhà thơ Phạm Thiên Thư từ trước những năm 1975 cũng đã có sự chậm rãi như thế. Dường như nó đã thành đặc trưng cho thơ nữ. Sự chậm đều trong giọng điệu không những đến từ nhịp thơ mà còn đến từ hình ảnh ngôn từ. Bởi chúng tôi nhận định rằng, ngôn ngữ có chất giọng là như thế. Giọng dịu dàng, chậm rãi thoát thai từ dáng ngồi đan áo của người con gái. Vừa đan áo tặng người yêu vừa ngẫm nghĩ chuyện tình mình. Áo vẫn còn đó như minh chứng cho cuộc tình, nhưng ngày sau, người đi thì liệu “áo len” có thành “áo thiên thanh”. Trong thế giới của tình yêu, mọi sự đi hay ở, được hay mất đều là khó phai, khó quên. Giọng thơ trầm lắng một sự suy tư vô định. Có những lúc giọng thơ suy tư còn là sự giãi bày, tâm sự: “Nếu khi ở gần anh/ Em bảo rằng: nhớ lắm/ Thì anh nhé đừng tin/ Đó là lời đường mật/ Cầm tay anh xiết chặt/ Em thương anh nhất đời!/ Những lời đó anh ơi/ Cũng là lời hoa lá/ Chỉ lúc này anh ạ/ Lúc ta thương nhau rồi/ Lúc đợi chín mười giờ/ Lúc tằm xanh lên kén/ Lúc củi than đã bén/ Lúc thuận nghĩa vợ chồng/ Dù em nói rằng không/ Anh cứ tin là có!” (Nói với anh - Đoàn Thị Lam Luyến). Giọng thơ thiết tha như lời tâm tình, mang theo những suy tư về tình yêu. Tình yêu lúc ban đầu chỉ mang hơi hướng của sự ảo huyền, lời nói mật ngọt tán tỉnh nhau sẽ chẳng còn ý nghĩa cho đến khi thành vợ thành chồng. Tiếng vợ chồng vang lên sâu hơn là ngọt, nó đủ đầy tin yêu hơn là tiếng người yêu. Giọng thơ lắng với mức độ chiêm nghiệm tạo nên một bài thơ trong cảm hứng chủ đạo về sự tin tưởng lẫn nhau của tình yêu bền chặt. Trong ngôn từ, tự thân nó đã có giọng, đó là sự thật.
Thứ đến, trong giọng thơ của sự chiêm nghiệm là một giọng hoài niệm về những nỗi niềm đã xưa. Hoài niệm là căn cơ để chiêm nghiệm, trong sự hoài niệm bản thân đã có những điều mà chỉ khi thời gian qua đi, ta ngoảnh mặt lại mới thấy hết sự thật: “Những gì đã qua chưa hẳn đã qua, nó còn mãi trong ký ức để con người tự trải nghiệm lại nhiều lần cảm giác đã qua đó”7. Thế nên, một trong điều quan trọng để chiêm nghiệm chính là giọng thơ hoài niệm. Giọng điệu này xuất phát từ cảm hứng chủ đạo gắn với những miền sâu của “ý thức”, trong học thuyết phân tâm, “khi ta có ý thức nghĩ về những gì đã qua thì nó nằm ngoài vùng kiểm soát của “vô thức”8. Nhớ về quá khứ và kỷ niệm của tháng ngày có nhau sẽ khiến cho giọng điệu của thơ nhuốm màu sắc của thời gian: “Ngày anh bỏ đi/ Tôi ngồi yên như thế/ Trong phòng anh/ Với những đồ vật tồi tàn/ Ghế với bàn/ Những chiếc tách uống nước sứt mẻ, cũ kỹ/ Với tôi những đồ vật thân thuộc ấy/ Còn nhân từ hơn anh/ Chúng sẵn lòng kể cho tôi bao chuyện về anh/ Làm tôi yên lòng trở lại/ Và tôi cũng kể cho chúng biết rằng/ Tôi yêu anh biết mấy” (Nếu anh bỏ đi - Nguyễn Thị Giáng Vân). Lấy quá khứ làm nền cho câu chuyện ở hiện tại, người con trai rời đi, người con gái ngồi đó gặm nhấm nỗi đau cùng với kỷ niệm gắn liền với những kỷ vật xa xưa, đâu đâu trong những đồ vật ấy cũng chứa đầy kỷ niệm. Có lẽ vết thương trong trái tim tình yêu quá sâu nên khi nhớ về, có gì đó hờn giận và đau khổ nên giọng thơ thoát một sự hoài niệm trong bao nỗi niềm đau. Dù là bị tổn thương nhưng cái kết vẫn là sự sắc son trước sau của tình cảm: “Tôi yêu anh biết mấy” kết lại một giọng điệu buồn. Trong cuốn Bí ẩn nữ tính, Betty Friedan cho rằng: “Sự kỳ lạ của tâm hồn người con gái là càng đau đớn trong biển tình thì càng trở nên mạnh mẽ”9. Cảm thức về ngày xưa luôn tạo nên giọng thơ đặc sắc với đầy vẻ đẹp của sự so sánh giữa hai vùng thời gian đã qua: “Thơ ngày xưa như sông/ Êm đềm trôi mải miết/ Thơ ngày xưa như lòng/ Trong veo tình tha thiết// Ai cứ đòi hơn, thiệt…/ Cho cây đành héo khô/ Ai rẻ rúng mùi hoa/ Tung đầy trời hương giả” (Nỗi niềm thơ - Lệ Thu). Thơ là tiếng lòng của người sáng tác, thời gian qua đi, thơ thay đổi do lòng yêu đã đổi thay. Ngày xưa khi mới yêu thì nhiệt thành tha thiết, càng yêu nhiều sao càng lắm đau thương. Giọng thơ ở đây đầy sự so sánh trong nỗi ưu hoài tiếc nuối, trong sự vấn vương, dằn vặt của hiện tại.
Sau cùng, biểu hiện của giọng thơ chiêm nghiệm còn là ngậm ngùi, xót xa. Càng trải qua những khổ đau cuộc đời, thì có lẽ, con người càng nhận ra được những điều xót xa của cuộc sống này. Thơ nữ sau năm 2000 thể hiện nhiều sự chiêm nghiệm để suy tư: “Mấy khi được mẻ no đòn/ Đã dăm cú đấm lại còn bạt tai/ Má căng như một trái xoài/ Mắt mời nào thấy bóng người nữa đâu/…/ Lạ kỳ lại chẳng thấy đau/ Chỉ nghe buốt một vùng sâu tâm hồn” (No đòn - Đoàn Thị Lam Luyến). Cái chua xót trong từng câu chữ khi bị đánh đập, hành hạ trên thân thể, nó làm giọng thơ như có độ lắng của sự ngậm ngùi. Nhưng càng bị hành hạ, người ta như càng chiêm nghiệm rằng những nỗi đau xác thịt sao so sánh được với nỗi đau trong tâm hồn. Người thương đánh mình như ngàn nỗi đau ghim vào tim, bởi thế nếu có hết yêu xin đừng làm tổn thương nhau: “Cuối mùa mưa/ con dốc để lại những vết xói mòn/ anh có thấy người đàn bà khóc thờ ơ trên mối tình đổ nát/ em đi qua những rui mè kèo cột/ thể giữ mãi dửng dưng/ như mùa thu vẫn đẹp trên những xác lá vàng/ cỏ xanh kia vẫn vươn lên từ vỉa hè loang lổ/ hãy để yên những nỗi xót xa” (Liên đêm - Phạm Thị Ngọc Liên). Dòng thơ dài ra, giãn ra với giọng điệu trầm lắng, xót xa cho tháng ngày đã qua giờ chỉ là những giọt nước mắt. Sau tất cả, người con gái ngồi ôm những nỗi đau mà ngậm ngùi nhìn cảnh vật loang đi trong nhạt nhòa. Giọng thơ nhẹ nhưng trĩu một khúc bi sầu. Những từ ngữ như những con sóng xô vội vào nhau, hết cảnh vật này xô vào cảnh vật khác, tất cả đều tươi đẹp nhưng chỉ có cuộc tình em đã héo úa và tàn lụi theo thời gian. Cái trắc trở của người con gái được hiện lên bằng những từ ngữ toàn những thanh trắc, đó là sự mệt mỏi của giọng nói từ tâm hồn. Nỗi đau từ câu chuyện tình cũng trở thành một cảm hứng nâng cánh tâm hồn của những nữ thi sĩ, dù muốn hay không thì trong tình yêu, người đau nhất vẫn là người con gái. Thơ tình của Lý Thụy Ý cũng có một sắc giọng trầm buồn như thế: “Lời thơ cuối viết cho Anh/ Và bằng tất cả chân thành trong Em/ Ngoài kia nắng nhẹ nghiêng thềm/ Em ôm nhung nhớ khóc niềm môi xinh/ Lời thơ cuối cho cuộc tình/ Là xin quên chuyện chúng mình đi Anh?” (Cho người tình xa - Lý Thụy Ý). Lời khẩn cầu xin quên đi cuộc tình của cuối đoạn thơ làm cho âm điệu bài thơ chìm xuống trong nỗi xót xa, trầm lắng. Chẳng ai lại yêu cầu người mình thương quên đi chính mình, nói ra được câu đó, trong lòng bà chắc chỉ toàn là giông bão. “Sau lớp ngôn từ luôn là một âm sắc của giọng điệu, ý từ và còn có cả cõi lòng”10, vậy sau những chữ được viết in hoa “Anh, Em” một cách trang trọng đó phải chăng là sự tử tế trong tình yêu của bà. Do chữ in hoa không có giọng nhưng chắc hẳn nó phải mang được một âm sắc cho lòng người đọc khi hướng về những điều trân quý trong tình yêu này. Là một nhà thơ xuất hiện trên văn đàn từ trước những năm 1975, đến nay, thơ Lý Thụy Ý dường như đã để lại trong lòng người đọc một sự tử tế, chuẩn mực của tính cách con người, sự nhẹ nhàng, trầm tư trong chất thơ của bà khiến cho chúng ta thêm phần ngậm ngùi.
Trong quá trình nghiên cứu về giọng thơ nữ, chúng tôi phát hiện ra rất nhiều tập thơ buồn mang cùng chất giọng ngôn từ này: Ngô Thị Hạnh có 02 tập thơ là Vang vọng (2004) và Rơi ngược (2005) với tổng số 105 bài thì trong số đó, giọng điệu buồn chiếm 48/105 (tỉ lệ: 45,57%); Lý Thụy Ý có tập Kinh tình yêu (2003) với tổng số bài là 50, trong đó, số bài có giọng điệu buồn là 27/50 (tỉ lệ: 54,0%); Vũ Thị Khương có Hoa trắng không tên (2006) và Giọt thời gian (2009) với tổng số bài là 98, trong đó, số bài có giọng điệu buồn là 39/98 (tỉ lệ: 39,77%)… Có thể thấy, trong tâm thức của người con gái là sự dễ tổn thương, đó là thiên tính nữ cho sự yếu đuối. Thiên tính này đi dọc suốt cuộc đời người phụ nữ và trở thành giọng điệu quen thuộc trong thơ ca từ xưa cho đến ngày nay.
Như vậy, dưới góc nhìn của phân tâm học, thời đại và dòng chảy của thiên tính nữ từ bao đời đã trở thành cảm hứng sáng tác cho các nhà thơ nữ, từ đó họ định hình một giọng điệu suy ngẫm để trầm tư và lo lắng cho cuộc đời, cho tình yêu của chính họ và sau đó cho tha nhân. Chất giọng này phân biệt rất rõ với nam giới trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại là táo bạo, mạnh mẽ và cương trực. Nét nữ tính phát lên từ giọng thơ suy ngẫm cũng tạo nên tính triết mĩ cho thơ ca nữ Việt Nam sau năm 2000.
2. Giọng điệu hoài nghi để tự vấn và cải thiện
Trong mô hình cấu trúc tâm thần bộ của con người, có một lằn ranh giữa “cái đó” và “cái tôi”, lằn ranh ấy chính là sự tự vấn của mỗi người. Ông bà ta thường hay dạy rằng: “Đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại” (Tục ngữ) là vì quan trọng đối với sự hối lỗi và nhìn nhận lại lỗi lầm của chính mình: “Hạnh phúc được gieo trồng trong mỗi con người là khi biết đặt câu hỏi cho chính hành động của chính mình”11. Việc hoài nghi và việc đặt câu hỏi tự vấn thực chất là một sự hối tâm của con người, nó có thể hướng con người ta đến sự cải thiện và nghiệm suy những triết lý ở cõi đời.
Khi đi vào trong thơ ca, giọng điệu hoài nghi, tự vấn sẽ được thể hiện qua các câu hỏi tu từ, việc sử dụng các câu hỏi tu từ sẽ tạo nên một âm vang của giọng thơ tự vấn: “Câu hỏi tu từ là câu hỏi được đặt ra nhưng không nhằm mục đích tìm kiếm câu trả lời hoặc câu trả lời nằm ngay trong câu hỏi. Loại câu này được sử dụng nhiều trong các văn bản nghệ thuật, có tác dụng làm lời văn trở nên sinh động, đem lại cho người đọc những tưởng tượng lý thú và có thể hiểu theo cách của mình”12. Trong thơ nữ Việt Nam sau năm 2000, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng câu hỏi tu từ để tạo ra giọng thơ hoài nghi, tự vấn về tình yêu, về những triết lý nhân sinh xuất hiện rất nhiều và đa dạng, nó biểu hiện cho một dạng thức của phân tâm học trong hành trình đi tìm “cái tôi” và hướng đến “cái siêu tôi” cao cả.
Như đã nói ở trên, đặt câu hỏi không phải để hỏi mà là để tự vấn chính bản thân mình, nhà thơ Phạm Thị Ngọc Liên đã có nhiều câu hỏi như thế: “Sài Gòn bây giờ anh đã quên chưa?/ Lá xanh vẫn rủ nhau xuống phố/ trăng chưa mọc nên trăng chưa hề vỡ/ như hồn em sáng rỡ một thu nào?” (Thu khúc - Phạm Thị Ngọc Liên). Tâm hồn của nữ sĩ được hiểu qua câu hỏi tu từ đầy ẩn ý như trên. Cũng chẳng phải hỏi để cầu mong “anh” trả lời, hỏi để tự vấn chính mình rằng tình yêu này có lẽ chỉ còn mình em trong nỗi khổ vì khó nguôi ngoai. Giọng thơ là một sự bỏ lửng, hỏi cũng chẳng để làm gì khi không thể biết được câu trả lời trong tình yêu của anh. Dường như câu hỏi lửng về tình yêu đã trở thành một sự ám ảnh trong giọng thơ của bà: “Xin lỗi hạnh phúc thừa/ làm sao có thể gọi ngươi là hạnh phúc?/ ngươi nhỏ vào đời ta những giọt cường toan/ yêu chết điếng/ và rồi nhưng dửng dưng đi” (Hạnh phúc thừa - Phạm Thị Ngọc Liên). Hiểu được bản thân chỉ là người đến sau, hiểu bản thân mình nếu có được cũng là một sự thừa đi của người khác nên bà tự vấn chính mình với câu hỏi đầy trăn trở: Liệu hạnh phúc thừa có thể gọi là hạnh phúc? Câu hỏi này khiến chính chúng tôi trong quá trình nghiên cứu cũng trăn trở trong bao nỗi suy tư, trong thế giới của tình yêu, người đến sau hay đến trước hoặc tình đầu hay tình cuối mới không có khái niệm hạnh phúc thừa mà tác giả đề cập? Yêu nhau thế nào, cư xử với nhau như thế nào để hạnh phúc chẳng bao giờ thừa dù là đối với ai, để ai cũng được hạnh phúc trong tình yêu. Đó cũng là một câu hỏi đầy tính triết mĩ. Năm 2004, bà cho ra đời bài thơ Ngồi lặng im trong bóng tối với hình thức thơ dòng chữ đặc trưng, bà đã khiến độc giả của mình ấn tượng khi diễn ngôn thơ trữ tình như một đoạn văn tự sự của truyện ngắn: “Có bao giờ anh ngồi một mình trong bóng tối không làm gì chỉ để suy nghĩ và hình dung. Bóng tối lẫn chứa những bí mật điều thác sinh ký gửi ân hận và không ân hận. Bóng tối khuôn mặt thứ hai khuôn mặt thật đôi khi rất ngỡ ngàng nhận ra mình. Bóng tối phản kháng một định mệnh sắp đặt?” (Ngồi lặng im trong bóng tối - Phạm Thị Ngọc Liên). Cả khổ thơ là một dòng thơ, cũng là một câu hỏi đầy sự khơi gợi, khi đối mặt với bóng đêm, khi đối mặt với chính mình trong đêm có bao giờ “anh” nhận ra nhiều điều trong đó có nhân cách thứ hai của chính mình? Câu hỏi này đặt ra vấn đề về sự tự nghi vấn và tự soi mình như ngày xưa Nguyễn Trãi viết Bảo kính cảnh giới (Gương báu răn mình) vậy. Không dùng gương như thi nhân xưa, Ngọc Liên dùng bóng tối để chất vấn chính mình, ở đây chúng tôi không đề cập đến không gian hay thời gian mà đề cập đến giọng điệu của câu hỏi tu từ. Nó vừa như là lời hàm trách vừa là lời khuyên bảo, cũng có thể hiểu là sự bày tỏ hết những điều bà biết về việc làm đằng sau của người mình yêu thương. Từ những câu hỏi tu từ mang giọng điệu tự vấn ấy, nữ sĩ như chìm sâu hơn trong cuộc tình đến nỗi chẳng thể còn nhận ra mình. Cả một điệp khúc câu hỏi tu từ như thế vang lên trong tập thơ Thức đến sáng và mơ (2004). Tập thơ gồm 96 bài thì có đến 41 bài (tỉ lệ: 42,7%) có giọng điệu hoài nghi, tự vấn thông qua hình thức này. Đây là một minh chứng cho sự kết luận rằng: Phải chăng nữ sĩ Phạm Thị Ngọc Liên là một hiện tượng để thể hiện cái tôi trữ tình đầy tự vấn?
Giọng điệu thơ tự vấn cũng xuất hiện trong tập thơ Trong giấc mơ (2016) của Chu Thu Hằng. Nữ sĩ vừa là một nhà thơ vừa là một nhà biên kịch cho phim điện ảnh, hồn thơ của Chu Thu Hằng cũng thấm đầy những đa đoan trong xúc cảm với tình yêu và với cuộc đời: “Nếu hôm đó hoa sữa thôi không nở/ Anh chẳng cuống cuồng với quá khứ ngày xưa/ Không nhìn mắt em thấy nỗi nhớ dư thừa/ Thấy mùa thu điệu đàng qua dáng em ngày cũ/ Thấy yêu thương vẫn được em gìn giữ/ Bấy nhiêu năm chẳng chút mờ phai/…/ Lãng đãng hương hoa mặt hồ gợn sóng/ Thu mong manh khiến lòng anh xao động/ Chẳng phải vì em đâu nhỉ?/ Chắc là tại mùa thu” (Tại mùa thu - Chu Thu Hằng). Cái duyên nhất của bài thơ nằm ở giọng tự vấn qua câu hỏi tu từ như hờn như trách ở cuối bài thơ. Em biết em chẳng phải tình đầu của anh nên khi cơn gió thu kỷ niệm ùa về trong ký ức, dù tình đã qua, ngày đã cũ nhưng trong anh vẫn mãi nguyên vẹn mối tình đầu. Em đau chứ, em ganh tị chứ nhưng lời tự vấn em hỏi chính mình, có phải lỗi em không? Câu hỏi ấy vừa như một sự hờn trách vừa là cái ghen rất thường tình của người con gái khi yêu. Tình yêu của người con gái mang sắc màu của sự vị kỷ, yêu là muốn chiếm hữu, muốn đoạt lấy từng khoảng không gian của người mình yêu. Thế nên, dù biết rằng tình kia đã cũ, em bây giờ mới là mối tình mới của anh nhưng mà cho phép em được ghen với chính suy nghĩ của mình. Tình yêu thật phức tạp như thế. Trong cảm giác lần đầu yêu cũng thế, cũng liên tục tự vấn chính mình vì phút giây loạn nhịp: “Trời có nắng đâu?/ Mà em say nắng/ Anh không phải mặt trời chói chang gắt nóng/ Sao chưa nhìn đã say/ Cuống quýt đôi chân/ Cuống quýt đôi bàn tay/ Em tan vào anh/ Mùa hè bật khóc” (Say nắng - Chu Thu Hằng). Câu hỏi tu từ thật ngây ngô, khi gặp anh, em như ngất ngây giữa trời nắng, rõ ràng là không phải do mặt trời, do sự tỏa sáng của anh. Câu hỏi không thể có câu trả lời nhưng cũng là câu trả lời đặc biệt nhất, trái tim yêu cuồng nhiệt của người con gái đã thể hiện bản lĩnh dám yêu, dám đi tìm hạnh phúc của chính mình. Như Thanh Trúc nhận định: “Đừng nghĩ phụ nữ là phái yếu, họ cũng chủ động trong tình yêu”13. Sự chủ động ấy thể hiện khát khao được hạnh phúc, được làm cô dâu, làm vợ, làm mẹ, đó cũng là bản năng thiên tính nữ: “Tháng Năm rồi anh có cưới em không?/ Em cứ nhắc câu hỏi ngàn năm cũ/ Dù biết chắc câu trả lời anh vẫn thế/ Đợi mùa thu hãy tính chuyện xa gần/ Tháng Năm trôi/ Thu đến mong manh/ Cốm dịu thơm trên đôi vai mẹ gánh/ Hoa sữa say nồng tiết trời se lạnh/ Em lại nhắc anh câu hỏi hôm nào” (Câu hỏi cũ - Chu Thu Hằng). Cả bài thơ đi trong cảm hứng chủ đạo là sự khát khao được có mái ấm gia đình. Nữ sĩ chẳng ngần ngại hiện thực hóa ước mơ ấy bằng câu hỏi táo bạo, câu hỏi ấy khiến cho giọng điệu cả bài thơ là một sự trách móc, trăn trở trước lời hứa hẹn mong manh của người con trai. Sao số phận con gái lại khổ như thế? Chỉ là khát khao hạnh phúc thôi cũng khó lòng đạt được như vậy sao? Âm hưởng của bài thơ vừa khiến chúng ta bất ngờ vừa khiến chúng ta ngậm ngùi chua chát. Chúng tôi cũng thực hiện khảo sát tập thơ Trong giấc mơ (2016) của Chu Thu Hằng, với 54 bài thơ, có đến 21 bài (tỉ lệ: 38%) là giọng điệu thơ tự vấn. Theo đánh giá của chúng tôi, Chu Thu Hằng và Phạm Thị Ngọc Liên thể hiện rõ giọng thơ đầy sự tự vấn.
Trong hành trình đi tìm những câu hỏi khác cho cuộc sống, những nhà thơ nữ cũng mang giọng tự vấn đầy tính triết lý: “Sao chẳng theo mùa trở lại/ Hỡi anh và chúng bạn thân/ Lẽ đâu “mất” là kết thúc?/ Tan trong bóng tối vĩnh hằng/ Lẽ đâu “đi” là biến mất/ Thay vai, khác cả cảnh đời/ Xóa hết những gì thương nhớ/ Quên người bạn diễn buồn vui” (Bên mồ những người thân - Bùi Thị Đào Nguyên). Khi đứng trước sự chia ly và sinh tử của cuộc đời, nhà thơ bắt đầu cảm khái về sự sống và cái chết, tồn tại hay mất đi, nhà thơ chạm đến vấn đề tâm linh trong mỗi tôn giáo khi tự vấn rằng: “Lẽ đâu “mất” là kết thúc?”. Câu hỏi tự vấn ấy cũng chính là câu hỏi mà bấy lâu nay mỗi người đều tự hỏi. Trong quan niệm của Phật giáo về cái chết: “Phật giáo khẳng định chết không phải là hết mà sẽ tiếp tục tái sinh dưới các quy luật nhất định để đi sang kiếp sống mới”14, nhà thơ đã nêu lên đúng vấn đề tâm linh mà mọi người đều mong ngóng, câu hỏi cũng là giọng điệu của cõi người đang tự vấn chính mình. Hiểu thêm về nhân sinh quan sau khi chết cũng là một cách để điều chỉnh hành vi con người cho thiện lương vì kiếp sau về nơi đâu, bắt đầu ở đâu sẽ phụ thuộc vào cách hành xử của kiếp này. Câu hỏi đó, giọng điệu đó và cảm hứng chủ đạo đó đã làm nên lằn ranh giữa “cái đó” và “cái tôi” hay “cái siêu tôi” đầy cao cả. Là nhà thơ gắn mình với nhân sinh quan của Phật giáo, Bùi Thị Đào Nguyên cũng có nhiều cảm khái trước cửa từ bi: “Vào chùa hỏi đâu cõi Phật/ Cách chi dọn dẹp lòng mình?/ Mới hay người nơi cửa Phật/ Cũng thầm giấu lệ trong kinh” (Bốn câu - Bùi Thị Đào Nguyên). Bốn câu thơ thật sự là sự tinh tươm, sạch sẽ của cõi lòng, bà tự vấn “Cách chi dọn dẹp lòng mình?” là câu hỏi rất hay, rất ý thức về sự sám hối và thực hành những điều thiện cho đời. Giữa cõi nhân gian đầy cám dỗ thì đâu đâu cũng là giây phút khiến cho lòng mình dễ bị sa ngã vào những hành động trái với lương tâm, do đó, cần lắm những phút giây dọn dẹp lại tất cả để đón chào một nhân cách sống mới. Bài thơ này với giọng điệu đầy sự suy tư hướng về điều tử tế, nó xứng đáng có mặt trong tủ thơ của mỗi gia đình, của mỗi người cha mẹ khi dạy con để con mình luôn là người sống tốt đẹp. Thật sự, hỏi để tự vấn chính là một trong những đặc điểm rất hay của cấu trúc tâm thần bộ. Không có điều gì hoàn hảo hơn sự tự vấn chính bản thân mình để hướng về “cái siêu tôi” đầy cao cả. Giọng điệu thơ tự vấn cũng là một đặc trưng cho những điều đạo đức luân lý của nghệ thuật.
Như vậy, bằng giọng điệu suy ngẫm và hoài nghi, thơ nữ Việt Nam sau năm 2000 cơ bản đã hướng về sự hoàn thiện “cái tôi” để đến với “cái siêu tôi” cao đẹp của cuộc đời. Với lối viết lấy giọng ngôn từ và hình thức biểu hiện của ngôn từ làm giọng điệu cho thơ, những người phụ nữ của thế kỷ mới đã từng ngày làm nên những điều kỳ diệu cho chính tâm hồn của mình. Dù là trong tình yêu hay trong cuộc sống, người phụ nữ thế kỷ XXI cũng đều trăn trở về trách nhiệm của mình, yêu sao, sống sao cho không lỗi đạo với lương tâm, với đạo đức. Tiếng thơ như tiếng lòng, mượn thơ để trải nỗi lòng của mình cùng nhân thế. Họ đã sống và đã đẹp trọn vẹn trong từng phương thức biểu hiện của ngôn ngữ nghệ thuật. Đó cũng là nét đẹp mà thông qua học thuyết phân tâm, chúng ta nhìn thấy được.
Chú thích:
1 Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề về thơ 1975 - 2000, NXB. Hội Nhà văn, tr. 134.
2 Đỗ Lai Thúy (2018), Phân tâm học và tính cách dân tộc, NXB. Tri thức, tr. 19.
3 M. Bakhtin (1979), Mỹ học sáng tác ngôn từ (Phạm Vĩnh Cư dịch), tr. 338.
4, 5 Nguyễn Văn Long (2022), Văn học Việt Nam hiện đại, NXB. Đại học Sư phạm, tr. 141, 39.
6 Nguyễn Nhật Ánh (2003), Mắt biếc, NXB. Trẻ, tr. 58.
7 Trần Văn Toàn (2005), Hành trình vào triết học, NXB. Tri thức, tr. 123. 8 Đỗ Lai Thúy (2012), Thơ như là mỹ học của cái Khác, NXB. Hội Nhà văn, tr. 111.
9 B. Friedan (2015), Bí ẩn nữ tính (Nguyễn Hà Vân dịch), NXB. Hồng Đức, tr. 21.
10 Trần Thị Trâm (2014), Ẩn sau con chữ, NXB. Văn học, tr. 25.
11 Thích Nhất Hạnh (2015), Hạnh phúc cầm tay, NXB. Lao động, tr. 77.
12 Lê Thị Thu Hoài (2012): “Cơ chế hình thành các mệnh đề ngầm ẩn trong câu hỏi tu từ”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 11, nguồn: http://www. cantholib.org.vn:84/Ebook.aspx?p=87B92A 75553766A6174627B93B65654746C6B65637B 91B857557, tr. 55.
13 Thanh Trúc (2023): “Đừng nghĩ phụ nữ là phái yếu, họ cũng nên chủ động trong tình yêu”, Laodong.vn, ngày 26.04.
14 Minh An (2020): “Quan niệm của Phật giáo về cái chết và sự tái sinh”, Phatgiao.org.vn, ngày 12.8.