THỜI GIAN TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT TÌNH BÁO, PHẢN GIÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-2000

Bài viết phân tích cách tổ chức thời gian trong tiểu thuyết tình báo, phản gián giai đoạn 1975-2000. Từ đó, khẳng định việc vận dụng linh hoạt các kiểu thời gian tuyến tính, đảo thuật, rút gọn và thủ pháp 'ngưng' đã góp phần tăng chiều sâu tâm lý, nhịp điệu tự sự và giá trị nghệ thuật cho tiểu thuyết tình báo, phản gián Việt Nam.

   Thời gian là một khái niệm quen thuộc trong nghiên cứu văn học, là phương diện hình thức quan trọng của một tác phẩm văn học. Các tiểu thuyết tình báo, phản gián Việt Nam giai đoạn 1975-2000 là những đại tự sự. Các đại tự sự này chứa đựng trong nó một xã hội rộng lớn về cuộc sống con người và các phong tục tập quán, văn hóa, lịch sử. Để tái hiện bức tranh đại tự sự nói trên gây được sự chú ý và hiệu quả thẩm mĩ cao nhất đối với người đọc, tác giả phải cấu trúc lại tất cả. Việc tổ chức sắp xếp lại sẽ làm cho thời gian trong truyện kể bị đảo lộn. Các nhà lý luận gọi thời gian được kể lại là thời gian trần thuật (thời gian truyện kể). Thời gian trần thuật còn được gọi là thời gian của cái biểu đạt, thời gian của cái kể lại, thời gian của “truyện” bao gồm trật tự kể, độ dài thời gian và tần số lặp lại. Thời gian trần thuật giữ vai trò trung tâm trong cấu trúc của văn bản tự sự. Nó không chỉ là sự sắp xếp các sự kiện theo trình tự thời gian mà còn là cách người kể chuyện trình bày, sắp xếp và liên kết các sự kiện đó để tạo ra hiệu ứng nghệ thuật, làm rõ chủ đề và ý nghĩa của tác phẩm. Tìm hiểu thời gian trần thuật trong tác phẩm văn học giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc hơn về bối cảnh xã hội, nhân vật, sự kiện, văn hóa, lịch sử, chính trị được đề cập trong tác phẩm. Qua đó, hiểu sâu hơn về chủ đề, dụng ý nghệ thuật của tác giả.

   Tiểu thuyết tình báo, phản gián Việt Nam giai đoạn 1975-2000 được giới nghiên cứu đánh giá cao, nhiều tác phẩm trở thành hình mẫu của thể loại. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu về nó còn rất khiêm tốn. Dù vậy, trên một số giáo trình và tạp chí chuyên ngành vẫn có những bài viết có đề cập, cụ thể: Trong giáo trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX, khi bàn đến tiểu thuyết phiêu lưu, Phan Cự Đệ có đề cập tiểu thuyết tình báo, phản gián và tác phẩm Ông Cố vấn của Hữu Mai1; tác giả Trần Thanh Hà trong Nhận diện tiểu thuyết trinh thám Việt Nam cũng điểm qua và có đánh giá sơ bộ về tiểu thuyết tình báo - phản gián mang đậm tính sử thi, mang cảm hứng ngợi ca2; tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến trong Bộ tiểu thuyết tình báo Ông cố vấn của Hữu Mai từ góc nhìn thể loại cũng có sơ lược về tiểu thuyết tình báo, còn lại tập trung nghiên cứu thể loại. Ngoài ra, có một số bài báo có đề cập vấn đề liên quan, như: “Từ văn học ngoại biên đến văn học trung tâm: Nhìn từ Ván bài lật ngửa” của tác giả Hà Thanh Vân. Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu khác nhau nên chưa có công trình nghiên cứu yếu tố thời gian trần thuật trong tiểu loại này.

   Trên tinh thần tiếp thu kết quả nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi sẽ nghiên cứu một số hình thức thời gian trần thuật trong tiểu thuyết tình báo, phản gián Việt Nam giai đoạn 1975-2000 nhằm phát hiện thêm những giá trị mới của tác phẩm, giúp độc giả có cái nhìn sâu sắc hơn về sự kiện, nhân vật và hiện thực đương thời.

   1. Thời gian tuyến tính

   Thời gian tuyến tính là thời gian trôi đi một cách tự nhiên, theo trật tự, một chiều từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Mọi sự việc trong thời gian này cũng diễn ra theo trật tự trước sau, khách quan. Dựa vào thời gian tuyến tính, người kể chuyện sẽ trình bày câu chuyện như nó từng diễn ra, sự việc nào diễn ra trước thì kể trước, sự việc nào diễn ra sau thì kể sau. Dĩ nhiên, tác giả sẽ lựa chọn những sự kiện tiêu biểu, tình tiết tiêu biểu gắn liền nhân vật, địa danh theo ý đồ nghệ thuật của mình. Đây là cách kể có tính phổ biến đối với tác phẩm có dung lượng lớn, các đại tự sự. Nó giúp người kể chuyện giữ cho cốt truyện diễn ra một cách tuần tự, mạch lạc. Đồng thời, giúp người đọc nắm được diễn biến câu chuyện một cách logic và dễ hiểu. Trong tiểu thuyết tình báo, phản gián Việt Nam giai đoạn 1975-2000, thời gian tuyến tính được tổ chức theo trật tự một chiều, đi từ quá khứ đến hiện tại và tương lai; thời gian này gắn liền với không gian, sự kiện và nhân vật. Trong X.30 phá lưới, người kể chuyện đã kể lại toàn bộ quá trình hoạt động tình báo của nhân vật Phan Thúc Định. Quá trình đó gắn liền với những sự kiện, biến cố lịch sử có thật, địa danh có thật. Đó là sự kiện quân đội ta chiến thắng thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ ngày 7.5.1954; sự kiện hiệp định đình chiến được ký kết, hai bên quân ta và quân Pháp thỏa thuận 300 ngày để Pháp trở về từ Hải Phòng; sự kiện Ngô Đình Diệm trở về nước, tổ chức trưng cầu dân ý, thành lập chính phủ mới; sự kiện các tôn giáo phản ứng việc chính quyền cấm treo cờ Phật giáo trong ngày lễ Phật Đản năm 1963; sự kiện tự thiêu của nhà sư Thích Quảng Đức… Toàn bộ các sự kiện nói trên được tổ chức, sắp xếp thành câu chuyện gắn liền với nhân vật Phan Thúc Định và được kể theo trật tự tuyến tính. Phương thức trần thuật này giúp người đọc định hình các mốc lịch sử, hình dung được bức tranh đời sống chính trị - xã hội đương thời; cảm nhận được những thời khắc lịch sử mà nhân vật nếm trải. Từ đó, có quan điểm, thái độ đúng đắn đối với xã hội đương thời, đối với các sự kiện lịch sử và đối với nhân vật. Tuy nhiên, tùy vào diễn biến trong câu chuyện mà nhịp độ thời gian được kể diễn ra nhanh hay chậm. Trong Ông cố vấn, nhịp độ thời gian được kể có lúc diễn ra rất nhanh, thậm chí nó được tính bằng ngày, bằng giờ, bằng phút. Người đọc có cảm giác thời gian truyện kể diễn ra như thời gian sự kiện. Khi diễn tả những ngày cuối cùng của chế độ Ngô Đình Diệm, người kể chuyện kể như sau: “Sáng ngày 1 tháng Mười một năm 1963. […]. Cổng vào Bộ Tổng tham mưu đã được canh phòng nghiêm ngặt… 12 giờ trưa, Đôn gọi điện thoại cho Diệm… 13 giờ, Trần Văn Đôn mời tất cả những người chỉ huy để lại tùy tùng và vũ khí bên ngoài, tới phòng họp riêng của mình. […]. Đại úy Nhung và ba nhân viên an ninh lập tức tiến lại áp sát Tung, Nhung nói: Theo lệnh Hội đồng, mời đại tá đi theo tôi!... 13 giờ 30, những binh sĩ… tiến ra chiếm sở chỉ huy”3. Nhịp độ thời gian đi nhanh cho thấy tính chất của các sự kiện là hết sức quan trọng, nó được tổ chức bí mật, diễn biến mau lẹ, chặt chẽ, quyết liệt. Các tướng lãnh phản đối đều bị bắt, cuộc đảo chính diễn ra nhanh và kết quả là chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Với lối kể trên, người kể chuyện cho người đọc thấy được tất cả sự kiện đang diễn ra đúng như nó vốn có, các hành động liên tục và quyết liệt khiến cho người đọc bị cuốn hút theo mạch truyện, rất hấp dẫn. Trong Ván bài lật ngửa, phương thức tự sự này được người kể chuyện sử dụng. Câu chuyện bắt đầu từ trận đánh đồn Biện Tạ của tiểu đoàn 420. Trong trận đánh này, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thành Luân đã anh dũng và mưu trí luồn sâu vào sát lô cốt địch và chính anh là người quyết định số phận đồn Biện Tạ. Nhiệm vụ tiêu diệt 16 đồn địch nằm giữa Phụng Hiệp và Cái Răng của tiểu đoàn 420 liên tiếp giành được nhiều thắng lợi. Quân Pháp phải lùi về co cụm ở các thành phố lớn hoặc tiếp ứng cho Bắc Bộ, ta có khả năng giải phóng một vùng rộng lớn. Đang trong trạng thái hân hoan thì Luân nhận được điện báo phải đến Trung ương cục. Tại Trung ương cục, Luân được cấp trên giao nhiệm vụ mới. Ngay sau sự kiện Điện Biên Phủ và trước sức ép của hai ông chủ Mĩ và Pháp, Bảo Đại chấp nhận phục hồi và tấn phong Ngô Đình Diệm lên Thủ tướng. Từ đây, Ngô Đình Diệm chính thức xuất hiện trên chính trường miền Nam Việt Nam. Sau 1954, quân ta tập kết ra Bắc theo Hiệp định đình chiến. Cấp trên chỉ thị cho tiểu đoàn 420 xuống tàu sớm nhất. Luân đưa đơn vị ra tàu Ark Angels đậu ngoài khơi vịnh Thái Lan. Chia tay 600 con người đã từng sống chết với anh, Luân kìm lắm mới khỏi rơi nước mắt. Quyến và Sa được Luân lựa chọn ở lại cùng anh. Cứ thế, toàn bộ câu chuyện về Nguyễn Thành Luân được kể theo dòng thời gian tuyến tính. Toàn bộ câu chuyện gắn liền nhân vật, sự kiện, địa điểm cụ thể. Lối tự sự bám sát các sự kiện, thời gian, địa danh và nhân vật tạo nên tính chân thật, khách quan của câu chuyện.

   2. Thời gian đảo thuật

   Thời gian đảo thuật là thời gian được kể theo ý đồ người kể chuyện. Người kể chuyện sẽ thông qua hồi ức của nhân vật để “kể lại những gì đã xảy ra trước đó”. Vì vậy, thời gian sẽ đảo chiều, đang ở thời điểm hiện tại sẽ quay về quá khứ. Các nhà lý luận gọi thời gian này là thời gian đảo thuật. Thông qua hình thức hồi tưởng, câu chuyện xảy ra trong quá khứ của nhân vật được tái hiện. Những câu chuyện này có mối liên hệ với hiện tại, đôi khi nó là nguyên nhân, chất xúc tác đối với nhân vật. Khám phá thời gian đảo thuật sẽ giúp người đọc thấy được chiều sâu tâm lý, tình cảm của nhân vật. Đồng thời, thấy được sự tinh tế của tác giả khi đi sâu khám phá thế giới nội tâm của con người. Thời gian đảo thuật được sử dụng nhiều trong các tiểu thuyết phản gián Việt Nam giai đoạn 1975-2000. Nó biểu hiện rõ trong hồi ức của các nhân vật khi bất ngờ bị tác động tâm lý, nhất là các nhân vật tình báo. Trong Ván bài lật ngửa, thời gian đảo thuật thường xuất hiện trong hồi ức của nhân vật Nguyễn Thành Luân. Sau khi đã “trở về” với chính phủ quốc gia, Luân thường nghĩ về thời gian đánh trận với nhiều kỷ niệm đẹp. Đây cũng là thời điểm người kể chuyện chọn điểm nhìn thời gian để bắt đầu kể về người chiến sĩ tình báo Nguyễn Thành Luân. Trong Ông tướng tình báo và hai bà vợ, những hồi tưởng về quê hương, về vợ con và những người đồng đội cũng thường xuất hiện trong nhân vật Hai Lâm. Trong X.30 phá lưới, thời gian đảo thuật xuất hiện trong những hồi tưởng, ký ức các nhân vật Phan Thúc Định, Mai Lan, ông Thọ. Trong X.30 phá lưới, người kể chuyện kể về cuộc gặp giữa Phan Thúc Định và Vân Anh trên chuyến bay ra Huế. Cuộc gặp bất ngờ đã làm sống lại hồi ức trong anh: “Hai năm trước, trong một buổi chiều bước vào mùa đông, trời Pari đầy hoa tuyết đầu mùa. […]. Đăng nuôi Vân Anh ăn học và cho sang Pháp học ở Trường Đại học Sooc-bon-nơ”4. Thời gian đảo thuật vừa giúp người đọc biết rõ quá khứ nhân vật, các mối quan hệ của nhân vật, vừa có tác dụng làm giảm lại tốc độ phát triển của hành động nhân vật trong câu chuyện, giảm sự căng thẳng đối với người đọc.

   Trong tiểu thuyết Sao đen, người kể chuyện sử dụng thời gian đảo thuật ngay những trang đầu tác phẩm. Nhân vật Phan Quang Nghĩa cũng chính là nhân vật “tôi” kể câu chuyện khi anh rời đơn vị để nhận công tác mới thì được gặp cậu Đức (em họ của mẹ). Cậu Đức đã hỏi Nghĩa về người anh cùng cha khác mẹ là Phan Quang Ân. Khi biết Nghĩa đã bặt tin tức anh mình từ năm 1948, cậu Đức mới báo cho Nghĩa biết tin về Phan Quang Ân. Ngay sau đó, Phan Quang Nghĩa đã nhận ngay ra anh mình khi lướt nhanh qua vài trang báo. Ký ức về gia đình, ký ức về người anh trai cùng cha khác mẹ bất ngờ hiện lên nguyên vẹn trong nhân vật tôi: “Cha tôi có hai vợ. Bà cả chỉ sinh được một người con trai. Đó là anh Phan Quang Ân của tôi. […]. Giống cha tôi thuở xưa, anh rất chăm chỉ, cần cù và năm 1943 anh đỗ cử nhân”5. Câu chuyện cứ thế được kể theo dòng hồi tưởng của nhân vật tôi: Anh Phan Quang Ân sau đó lấy vợ; vợ anh là con gái ông Cự Phách – ông chủ hãng vận tải Phúc Lợi; Cách mạng Tháng Tám 1945, anh tôi hòa vào dòng người biểu tình hô vang Độc lập - Tự do - Dân chủ nhưng cái lừ mắt của bố vợ đã làm anh phải tách ra khỏi hơi thở dân tộc; chị em tôi được chuyển lên Hà Nội học nhưng quân Tưởng tràn vào Hà Nội nên chúng tôi đành phải chuyển về quê; kháng chiến toàn quốc bùng nổ năm 1946 không thấy anh tôi trở về. Hôm nay, nhân vật tôi gặp cậu Đức khi vừa trở về từ Điện Biên Phủ. Thông qua hồi tưởng, người kể chuyện cho người đọc thấy được những tình cảm sâu kín của nhân vật, hiểu rõ hơn nội dung câu chuyện, các mối quan hệ của nhân vật trong tác phẩm.

   Trong Hoa Hồng trắng, thời gian đảo thuật được người kể chuyện thường xuyên được sử dụng thông qua những ký ức, hồi tưởng của các nhân vật. Trong đó, nhân vật Bảo Trung được diễn tả khá phong phú. Đó là những hồi tưởng về kỷ niệm tuổi thơ ở Hà Nội, nỗi buồn đau khi mẹ qua đời, những ngày sống với cha ở Sài Gòn, ở Pháp, những ngày vui cùng cha trở lại Tổ quốc, nỗi buồn khi người cha không còn, niềm tự hào được tham gia chiến đấu, được kết nạp vào Đảng và trở thành chiến sĩ tình báo, những kỷ niệm sâu sắc trong quá trình hoạt động với các nhân vật khác như già Thuận, Tuyết Trinh, Lê Trâm, Trần Giang, Giát-manh, ông bà Ứng Lại, Ngọc Mùi, Sa-ku-ra, Thanh Lan… Những dòng hồi tưởng của Bảo Trung xuất hiện khi anh gặp một kỷ niệm hay một sự kiện có tác động tâm lý. Sau khi xâm nhập vào hàng ngũ địch, được Cục trưởng Toàn Cơ đưa về Hà Nội. Trở lại nơi mình từng sống lúc nhỏ đã làm “anh vụt nhớ lại những kỷ niệm của đời mình. Gia đình anh sống ở Hà Nội từ khi anh ra đời cho đến năm mười tuổi…”6. Dòng hồi tưởng cứ vậy trôi nhanh gắn liền các sự kiện đi từ quá khứ đến với hiện tại. Thời gian đảo thuật dẫn dắt người đọc đi vào sâu hơn lịch sử cuộc đời nhân vật, các mối quan hệ của nhân vật, thế giới nội tâm phong phú và phẩm chất của nhân vật. Nhờ đó, người đọc có cái nhìn tổng quát và hiểu sâu hơn nội dung tác phẩm.

   Trong Ông cố vấn, thời gian đảo thuật cũng được sử dụng thông qua hồi ức của chính nhân vật, trong đó nhân vật Hai Long được biểu hiện nhiều nhất. Cuộc gặp tình cờ giữa anh và Tú Uyên tại Đà Lạt đã tác động mạnh trong tình cảm Hai Long. Kỷ niệm mười tám năm trước hiện ra với câu chuyện tình đẹp và trong sáng: “Trước Cách mạng Tháng Tám, Hai Long học những năm cuối cùng để chuẩn bị thi tú tài. Anh ở trọ tại gia đình một người quen ở cuối phố Đuy-vi-nhô… có một gia đình muốn nhờ anh dạy buổi tối cho cô con gái đang chuẩn bị thi vào trung học… Cô gái đó là Tú Uyên”7. Những hồi tưởng giúp người đọc cảm nhận về thời trai trẻ và một mối tình đầu tươi đẹp của chàng trai mới bước vào ngưỡng cửa cuộc đời. Những tình cảm sau 18 năm gặp nhau làm anh xao xuyến, bởi nó đánh thức kỷ niệm đẹp khi anh còn rất trẻ. Trải qua năm tháng, người chiến sĩ tình báo vẫn giữ nguyên tình cảm ban đầu. Thời gian đảo thuật giúp người đọc nắm bắt câu chuyện rõ ràng và đầy đủ hơn. Đồng thời, nó cũng làm cho tình tiết câu chuyện hấp dẫn hơn, thành phần truyện mở rộng hơn.

   3. Thời gian rút gọn và thủ pháp “ngưng”

   Thời gian rút gọn là một dạng thức trần thuật được người kể chuyện sử dụng nhằm loại bớt những thành phần không cần thiết, tập trung vào những sự kiện quan trọng nhằm hướng tới trọng tâm, mục tiêu đề ra. Vì vậy, với thời gian được rút gọn có khi chuyện ba năm chỉ kể trong một giờ. Trong các tiểu thuyết phản gián Việt Nam giai đoạn 1975-2000, thời gian rút gọn được sử dụng khá nhiều. Những từ ngữ rút gọn thường được sử dụng như: “một thời gian sau”, “sau một thời gian”, “hồi đấy”, “đã 5 năm”... Trong tiểu thuyết Ông cố vấn, khi nói về sự tham dự Hội nghị Mít-uây, tác giả sử dụng thời gian rút gọn để kể chuyến công du của Nguyễn Văn Thiệu: “Thiệu chỉ ở Mít-uây có vài ngày. Khi trở về, nét mặt hớn hở. Y đưa ra những vật kỷ niệm đem từ hòn đảo này về tặng cha Nhuận và Hai Long”8. Trong tiểu thuyết Sao đen, sau hai năm Phan Quang Nghĩa đi học ở Mĩ trở về, người kể chuyện chỉ kể một vài câu chuyện liên quan nhân vật, sau đó khái quát quãng thời gian ấy. Thời gian hai năm với bao sự kiện nhưng được rút gọn chỉ trong một câu. Trong X.30 phá lưới, thời gian rút gọn cũng được kể thông qua hình thức hồi tưởng của nhân vật. Khi chứng kiến từng đoàn xe nhà binh Pháp chạy về hướng An Cựu, Phan Thúc Định bất giác nhớ về những năm trước: “Phan Thúc Định nhớ đến thời kỳ bọn thực dân Pháp mới trở lại năm 1946 mà anh đã được chứng kiến. Lúc ấy, cũng trên những chiếc xe nhà binh này còn nguyên màu sơn mới. […]. Tám năm qua, bao nhiêu những chiếc xe ấy đã biến thành thép rỉ, những chiếc còn lại bạc màu, lấm lem, ì ạch. […]. Bây giờ đến lượt người Mĩ”9. Thời gian rút gọn giúp câu chuyện trở nên cô đọng, liền mạch, giữ được nhịp độ cần thiết mà không làm người đọc cảm thấy nhàm chán.

   Thủ pháp “ngưng” là cách người kể chuyện làm cho tốc độ câu chuyện chậm lại, cảm giác thời gian như đứng yên. Lúc này, người kể chuyện tạm thời ngưng mạch câu chuyện đang kể, chuyển sang các yếu tố khác như miêu tả, bình luận hoặc một chi tiết nào đó liên quan. Điều này có tác dụng nhấn mạnh một khoảnh khắc, một hành động, một cảm xúc đang diễn ra rất quan trọng có tính bước ngoặt. Ngoài ra, nó cũng là thủ pháp nghệ thuật giúp người đọc có thời gian suy ngẫm, liên tưởng. Để thực hiện hình thức này, người kể chuyện đã lồng ghép vào câu chuyện những yếu tố phụ như miêu tả cảnh vật, kể về tiểu sử nhân vật, lịch sử vùng đất, phong tục tập quán và văn hóa vùng quê, mượn hình thức báo chí, hình thức viết thư, kết hợp kể, tả và bình… Trong tiểu thuyết Ông cố vấn, thủ pháp “ngưng” được sử dụng thông qua hình thức miêu tả thiên nhiên, đời sống sinh hoạt, văn hóa. Khi Hai Long ra khỏi Củ Chi, khung cảnh thiên nhiên, làng mạc trong chiến tranh được miêu tả hiện lên rất đau thương: “Cánh đồng lỗ chỗ đạn pháo cày. Cây cối bị đạn đại bác chém gục nằm ngổn ngang, lá cây khô quắt như bị thiêu cháy tạo nên những vết thương chưa được băng bó giữa rừng cây xanh tốt quanh năm. Nhiều thôn ấp gần đường quốc lộ bị bom đạn hủy diệt, chỉ còn những đống đổ nát10. Những cánh đồng xanh phì nhiêu và những thôn ấp trù phú của Củ Chi đã biến dạng bởi đạn pháo chiến tranh. Cảnh tượng đó phơi bày trước mắt Hai Long như một chứng tích, gợi cho anh nỗi buồn sâu thẳm. Cách thức lồng ghép miêu tả cảnh vật vừa giúp người đọc thấy được sự hủy diệt của chiến tranh thật khủng khiếp vừa làm cho câu chuyện được nối dài, mở rộng và giảm bớt độ căng của hành động truyện.

   Thủ pháp “ngưng” bằng miêu tả chân dung ngoại hình, giới thiệu tiểu sử nhân vật và miêu tả thế giới nội tâm nhân vật. Trong X.30 phá lưới, người kể chuyện sử dụng thủ pháp ngưng bằng cách miêu tả chân dung ngoại hình các nhân vật như: Ngô Đình Cẩn, Phạm Xuân Phòng, Vân Anh, Tố Loan và nhiều nhân vật khác. Ngoài ra, thủ pháp “ngưng” được thể hiện bằng giới thiệu lai lịch của các nhân vật như: Ngô Đình Diệm, Phan Thúc Ngân, Phạm Xuân Phòng, Vân Anh, Mai Lan, Tố Loan... Khi kể về Phạm Xuân Phòng, người kể chuyện đã quay về lịch sử của gã như sau: “Cha hắn là Phạm Xuân Đề, trong những năm Âu châu đại chiến lần thứ nhất, đi lính khố đỏ sang Pháp. Được giải ngũ năm 1920, với cái lon cai. Đề chạy chọt được vào làm đội lệ dưới trướng tên Nguyễn Khoa K…”11. Việc miêu tả ngoại hình nhân vật tạo ra ấn tượng ban đầu đối với người đọc, việc kể về lịch sử của nhân vật giúp người đọc hiểu rõ hơn nguồn gốc, bản chất nhân vật. Ngoài ra, thủ pháp “ngưng” cũng được sử dụng thông qua miêu tả thế giới nội tâm nhân vật. Trong X.30 phá lưới, khi Phan Thúc Định vừa mới ở hiệu sách ra thì bất ngờ gặp Vân Anh. Cuộc gặp bất ngờ làm Phan Thúc Định sững người vì trong tay anh đang có tài liệu mật. Trong hoàn cảnh như vậy, Vân Anh lại như cố tình níu kéo để nói chuyện. Từ chối không được, Phan Thúc Định đành phải đi với Vân Anh. Độc giả đọc đến đây rất hồi hộp, liệu Vân Anh sẽ làm điều gì với Phan Thúc Định? Đến đây, thủ pháp “ngưng” được người kể chuyện sử dụng thông qua miêu tả thế giới nội tâm nhân vật: “Bao giờ gặp cô ả này cũng gây cho mình những suy nghĩ. Không hiểu những điều cô ta nói thực, hư ra sao? Cô ta vẫn theo dõi mình? Những điều cô ta nói hàm ý gì? Cô ta theo dõi mình để làm gì? Phải công nhận rằng cô ta đẹp và thông minh. […]. Nếu để người khác hiểu rõ về mình thì là một điều sai lầm nghiêm trọng”12. Nhờ thủ pháp “ngưng”, người đọc thấy được thế giới nội tâm của nhân vật phong phú, tinh tế.

   Thủ pháp “ngưng” biểu hiện qua hình thức viết thư. Đó là bức thư tuyệt mệnh của Vân Anh trong X.30 phá lưới; bức thư Cẩm Nhung viết cho Hai Lâm trong Ông tướng tình báo và hai bà vợ; bức thư của Nguyễn Thành Luân viết cho giám mục Ngô Đình Thục trong Ván bài lật ngửa; bức thư của Phương Dung, Bạch Kim viết cho Phan Quang Nghĩa trong Sao đen… Trong tiểu thuyết Ông tướng tình báo và hai bà vợ, bức thư của Cẩm Nhung từ Pháp gửi cho Hai Lâm có đoạn: “Anh thương yêu! Năm 1956 này em đã là cô gái 24 tuổi nên em đã hiểu thế nào là quê hương, đất nước. Em nhớ Việt Nam da diết, nhớ từng hàng cau, dãy dừa, lũy tre xanh đến bữa bún ốc […]. Không hiểu sao mỗi lần nghĩ đến Việt Nam, em lại nhớ tới anh”13. Thủ pháp “ngưng” bằng hình thức báo chí cũng được sử dụng khá nhiều. Trong Ván bài lật ngửa, từ sự kiện không được treo cờ Phật trong ngày lễ Phật Đản đã dẫn tới cuộc biểu tình của Phật giáo và sau đó dẫn tới sự kiện tự thiêu của hòa thượng Thích Quảng Đức. Sự kiện trên được báo chí đưa tin với những cách nhìn và thái độ khác nhau. Trong Ông cố vấn, thủ pháp “ngưng” bằng hình thức báo chí được sử dụng khá nhiều, nhất là trong vụ án xét xử Huỳnh Văn Trọng. Hình thức báo chí giúp độc giả có cái nhìn đa chiều về một sự kiện. Ngoài ra, thủ pháp “ngưng” cũng biểu hiện qua sự kết hợp trong việc kể, tả và bình. Như vậy, ngoài thời gian tuyến tính, thời gian đảo lộn hồi cố, thời gian rút gọn, thủ pháp “ngưng” được sử dụng nhằm làm mở rộng, sáng rõ nội dung được đề cập. Điều này giúp người đọc hiểu rõ hơn bản chất vấn đề. Đặc biệt, đối với cốt truyện hành động, thủ pháp “ngưng” giúp làm giảm nhịp độ, giảm sự căng thẳng đối với người theo dõi.

   4. Kết luận

   Thời gian trần thuật trong tiểu thuyết tình báo, phản gián Việt Nam giai đoạn 1975-2000 được người kể chuyện tổ chức sắp xếp đa dạng, độc đáo. Có những sự kiện, hành động được kể theo trật tự thời gian tuyến tính, có nguyên nhân, có kết quả. Ngược lại, có những câu chuyện được kể theo thời gian đảo thuật thông qua hồi ức nhân vật hoặc những liên tưởng của người kể chuyện. Có những tình tiết, sự kiện được kể tóm lược, lướt nhanh; có những tình tiết, sự kiện được kể kéo dài phù hợp với từng ngữ cảnh. Thời gian trần thuật sử dụng phù hợp tạo hiệu ứng tích cực đối với người đọc. Việc tổ chức, sắp xếp các yếu tố hình thức thời gian trong tác phẩm hợp lý đã vừa tạo nên nhịp điệu của cốt truyện vừa giúp người đọc có cái nhìn đa chiều về sự kiện, nhân vật, cốt truyện. Đồng thời, nó cũng thể hiện năng lực sáng tạo, quan niệm về cuộc sống và ý đồ nghệ thuật của tác giả.

 

 

 

Chú thích:
1 Phan Cự Đệ (2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, NXB. Giáo dục, tr. 243.

2 Trần Thanh Hà (2005), Nhận diện tiểu thuyết trinh thám Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 85.
3, 7, 8, 10 Hữu Mai (1988), Ông cố vấn, NXB. Quân đội Nhân dân, tr. 362, 486, 941, 605.
4, 9, 11, 12 Đặng Thanh (1976), X.30 phá lưới, Nhật báo Sài Gòn giải phóng, tr. 28, 59, 215, 267.
5 Triệu Huấn (2001), Sao đen, NXB. Công an Nhân dân, tr. 12. 6 Nguyễn Sơn Tùng (1986), Hoa Hồng trắng, NXB. Lao động, tr. 73.
13 Nguyễn Trần Thiết (1994), Ông tướng tình báo và hai bà vợ, NXB. Quân đội Nhân dân, tr. 133.

Bình luận

    Chưa có bình luận