PHỤ NỮ VÀ KINH TẾ TRONG TẦM NHÌN QUỐC GIA DÂN TỘC CỦA ĐÀO TRINH NHẤT*

Thông qua phân tích vấn đề phụ nữ và kinh tế trong tiểu thuyết lịch sử Cô Tư Hồng của nhà văn Đào Trinh Nhất, bài viết cho rằng nhà văn đã trình hiện một chủ thể phụ nữ Việt Nam vừa khéo léo dùng kinh tế làm đường tiến thân lại vừa nỗ lực để củng cố cho căn cước dân tộc của mình trong quá trình cộng sinh, cạnh tranh sinh tồn với các thế lực thống soát.

   Tiểu thuyết lịch sử Cô Tư Hồng (ban đầu được đăng dài kỳ trên Trung Bắc tân văn chủ nhật năm 1940, về sau được Trung Bắc thư xuất bản năm 1941), được Đào Trinh Nhất viết dựa trên những giai thoại về cuộc đời bà Tư Hồng, một me Tây giàu có, nữ doanh nhân nổi tiếng khắp xứ Bắc kỳ giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Chủ đề độc đáo này đã khiến tác phẩm tạo được sức hút lớn đối với công chúng đương thời. Các nghiên cứu từ trước đến nay về tác phẩm chủ yếu tập trung vào nghệ thuật tự sự1, nội dung tác phẩm2, tư duy nghệ thuật tiểu thuyết3 cũng như phân tích diễn ngôn4. Điểm chung của các hướng tiếp cận này là đều chỉ ra được bước tiến lớn của Đào Trinh Nhất so với các nhà Nho cuối thế kỷ XIX trong cái nhìn cởi mở và độ lượng hơn đối với một người phụ nữ lệch chuẩn, sống bên ngoài những khuôn phép xã hội, từ đó chỉ ra đóng góp lớn của tác phẩm trong việc “nhận diện sự chuyển đổi hệ hình văn hóa, hệ hình tư tưởng giai đoạn giao thời, giao tranh cũ-mới, Á-Âu”5. Tuy nhiên, vì chú trọng vào cái nhìn và cách khắc họa của tác giả về hình tượng trung tâm trong tác phẩm, các bài viết đều bỏ qua các thông tin phong phú, nhiều mặt của đời sống xã hội những năm cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chẳng hạn: sự vận hành của nền kinh tế cổ truyền và kinh tế thời kỳ thuộc địa, sự nổi lên của người phụ nữ trong nền kinh tế, quyền lực chính trị, kinh tế và văn hóa, đạo đức của các nhóm xã hội… Tất cả những khía cạnh này được dày công chắp bút bởi một nhà khảo cứu lịch sử giàu kinh nghiệm, đã tạo nên một bức tranh mang sử tính về đời sống của quốc gia dân tộc. Trong nghiên cứu này, người viết cho rằng, bằng việc kể chuyện cuộc đời một me Tây khuynh đảo Hà thành hồi đầu thế kỷ XX, tác giả Đào Trinh Nhất đã thể hiện một viễn kiến mang tinh thần quốc gia dân tộc khi nhìn nhận người phụ nữ như một lực lượng quan trọng của nền kinh tế trong giai đoạn chuyển mình từ phương thức cổ truyền sang kinh tế thuộc địa. Phụ nữ đã dùng kinh tế như một chìa khóa lợi hại để đạt được quyền tự chủ trong xã hội gia trưởng đang trên đà rạn nứt, tiến tới hiện đại hóa. Mặt khác, kinh tế trở thành một ẩn dụ cho vấn đề dân tộc khi nhà văn hình dung nó như một chiến trường cạnh tranh giữa một bên là các thế lực ngoại bang có sức mạnh thống soát với một bên là doanh nhân người Việt manh mún. Với ý hướng đó, bài viết lập luận rằng bằng cách đưa ra vấn đề phụ nữ và kinh tế trong bối cảnh thuộc địa, Đào Trinh Nhất đã trình hiện một chủ thể phụ nữ Việt vừa khéo léo dùng kinh tế làm đường tiến thân lại vừa nỗ lực để củng cố cho căn cước dân tộc của mình trong quá trình cộng sinh, cạnh tranh sinh tồn với các thế lực thống soát. Bài viết kết nối với các tác phẩm mang tính sử chí khác của Đào Trinh Nhất để nhìn ra viễn kiến chính trị của tác giả thông qua việc đề cập đến vấn đề phụ nữ tự chủ và quyền kiểm soát kinh tế tại Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ XX.

   1. Phụ nữ trong sự chuyển mình của lịch sử: kinh tế và sự trỗi dậy của ý thức tự chủ

   Là một nhà khảo cứu lịch sử, Đào Trinh Nhất rất quan tâm đến việc tạo dựng bối cảnh xã hội bằng các chi tiết thuộc về sử chí trong tác phẩm của mình. Tiểu thuyết lịch sử Cô Tư Hồng đã gợi lại sinh động bối cảnh kinh tế, xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thời điểm đánh dấu những chuyển mình quan trọng của xã hội Việt Nam, như khi Đào Trinh Nhất giới thiệu “lúc ấy Nam Kỳ đã trở nên lãnh thổ nước Pháp, còn xứ Bắc thì đang bị giặc cờ Đen, Cờ Vàng quấy nhiễu và bắt đầu đa sự”6. Đó là bối cảnh nước Nam vào khoảng những năm 1860. Trong tình thế “đa sự” ấy, đời sống của những người dân thường ở Bắc Bộ, như gia cảnh của ông phó cựu, thân phụ cô Tư Hồng, rơi vào túng quẫn. Sinh kế chủ yếu của ông trông chờ vào “vài ba sào ruộng”, nhưng vì đông con nên “thường khi cót thóc trong buồng không dính một hột”, “ăn muối cũng chưa đủ”, phải xoay ra “làm mướn làm thuê”, thậm chí phải “đánh liều đi cầu sống tha phương”. Những phác họa trên hé lộ một bức tranh kinh tế vô cùng ảm đạm của nông thôn Việt Nam vào khoảng những thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX, khi nền sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, lạc hậu, người dân bị bần cùng hóa đến mức người có chức sắc như bác phó cựu trong câu chuyện cũng khó lòng nuôi sống gia đình, cuối cùng phải tha phương cầu thực, nay đây mai đó kiếm sống qua ngày. Trong khi đó, cũng theo câu chuyện của Đào Trinh Nhất, công cuộc chỉnh trang và kiến thiết của chính phủ bảo hộ bắt đầu được thiết lập: “Bảo hộ […] cứ việc ra tay mở mang, sắp đặt, ban bố học thuật mới và bắt đầu xây dựng các cơ sở văn minh thân thời cho dân” (tr. 63). Nhờ đó, các đô thị theo lối mới, như Hà Nội, Hải Phòng bắt đầu xuất hiện, đem đến những sắc màu mới cho xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX.

   Đặt nhân vật Tư Hồng trong bối cảnh đầy biến động đó, nhà văn đã tạo dựng một mẫu hình phụ nữ mới mẻ của thời đại, một người phụ nữ chủ động, thực tế, luôn dùng lý trí để soi xét tình thế của mình, nắm bắt cơ hội để vươn lên tự chủ, xây dựng một cuộc đời đáng sống. Trong đó, kinh tế là yếu tố then chốt giúp hoán cải số phận nhân vật.

   Như giới thiệu của nhà văn, cô vốn tên thật là Trần Thị Lan, sinh ra trong một gia đình nghèo khó, từ nhỏ đã theo cha tha phương cầu thực kiếm ăn qua ngày. Đến tuổi trưởng thành, trong khi bác phó cựu chỉ nhăm nhăm kiếm chồng cho con gái để đỡ một miệng ăn thì nhờ trí sáng, Lan lại hướng đến một cơ hội kiếm sống khác: “thầy cứ để con theo đòi chị em đi buôn thúng bán mủng, để kiếm thêm đồng cà đồng muối đỡ đần cho thầy với dì con” (tr. 33). Sinh kế trở thành lối thoát chứ không phải cuộc hôn nhân gán ghép chỉ nhằm cứu đói. Nhờ ghé vai đảm trách gánh nặng mưu sinh cho gia đình, cô đã vụt trở thành người có địa vị lớn “đứng làm trụ cọc cho sự sống” của gia đình. Ở phương diện xã hội, mưu sinh kiếm sống giúp Lan bước ra khỏi phạm vi gia đình để tham gia vào mạng lưới của nền thương mại cổ truyền, đánh dấu sự trưởng thành của cô trong tư cách một chủ thể xã hội. Cũng nhờ sinh kế, Lan mở rộng được các mối quan hệ, hiểu được những cạm bẫy khó lường, nhưng cũng nhờ đó, được mở mang tầm mắt về thế giới bên ngoài, nhất là nhờ những câu chuyện của chị em bạn gái, cô lần đầu tiên biết đến những cách ứng xử mới lạ, trái ngược với những gì cô được răn dạy, chẳng hạn: quyền tự quyết, quyền tự do hôn nhân và những cơ hội đổi đời nơi đô thị. Những ý tưởng mới mẻ đó như móng vuốt ghim sâu vào óc Lan, nhờ thế, khi bị cha ép gả cho tên bá hộ giàu có nhưng già nua trong vùng, cô đã can đảm lên tiếng phản đối cuộc hôn nhân sắp đặt, thậm chí, khi không thể lay chuyển được lòng tham giàu của cha, cô đã dám liều mình bỏ trốn ra Hải Phòng để sống cuộc đời tự chủ. Hành động phản kháng quyết liệt này cho thấy sự trưởng thành của Lan khi cô phải tự đập vỡ dần những giáo điều cũ đã kiến thiết nên bản thân từ khi còn nhỏ để tìm ra nhân cách mới cho mình. Cùng với hành trình đau đớn ấy, Lan vỡ lẽ được mưu cầu được sống tự do, tự chủ, trân trọng phẩm giá bản thân để có động lực vươn tới một cuộc đời đáng sống. Tất cả những điều này có được do Lan đã mạnh dạn lấy mưu sinh làm cứu cánh cho cảnh khó của gia đình và lấy đó làm lối thoát cho chính bản thân cô.

   Khi đặt chân tới Hải Phòng và sau này là Hà Nội, kinh tế tiếp tục là chìa khóa để Lan kiến thiết một cuộc sống vững chắc, là bước đệm để cô vươn tới cuộc đời tự chủ. Trong lần đầu tiến đặt chân đến Hải Phòng, khi trong tay không một cắc bạc, không người thân thích, Lan vô tình lọt vào mắt xanh của thím Tài, được thím chăm bẵm, dắt mối, cuối cùng trở thành vợ của chú Hồng, nghiễm nhiên thành bà chủ hiệu Bình An. Sự kiện làm vợ chú Hồng mở ra một chương mới trong cuộc đời nhân vật, từ đây, cô đổi tên theo chồng (thím Hồng) và sống cuộc đời sung túc “trăm bạc nghìn đi qua mười đầu ngón tay là sự thường” (tr. 97). Nhưng quan trọng hơn, nhờ cuộc hôn nhân với người chồng Khách trú có tài buôn bán, Lan được mở mắt, mở trí về những công cuộc giao thương lớn đang diễn ra tại các thành phố. Với một cô gái nông thôn chỉ quen với đồng ruộng và buôn bán lặt vặt sau lũy tre làng, cuộc hôn nhân này chính là một bước ngoặt lớn, tạo ra cơ hội cho cô được học hỏi về cách thức kinh doanh, được rèn luyện về tư duy kinh tế, do đó “có ảnh hưởng quan hệ đến thân thế tương lai của Thị Lan một cách đặc biệt”: “Chú Khách này chẳng những cho nàng một cái tên mà sau này vua biết mặt, đời biết danh, cha được mở mày, em được nhờ của… trong mươi năm nữa, nàng trở nên một người giỏi buôn giỏi bán, làm giàu làm có, là nhờ Khách Hồng khai quang điểm nhỡn cho từ hôm nay vậy” (tr. 97). Đây chính là quá trình tích lũy kiến thức và kinh nghiệm kinh doanh để sau này, khi có cơ hội, Lan sẽ không chỉ là một hậu phương vững chắc, là người trợ lực cho đức ông chồng mà bước lên địa vị làm chủ, trở thành lực lượng trực tiếp của nền kinh tế.

   Cuộc hôn nhân thứ hai đến với Lan là một vị quan Tư người Pháp, đưa đến cho cô danh xưng mới: cô Tư Hồng (do ghép tên của người chồng Khách và cấp bậc của người chồng Tây). Nếu như người chồng Tàu có tác động khai quang điểm nhãn những mánh khóe kinh doanh, trao cơ hội thực hành buôn bán lớn, do đó hình thành tư duy kinh tế trong đầu óc sắc bén của người con gái quê thì người chồng Tây, với địa vị và uy tín sẵn có trong chính quyền thuộc địa đã thổi bùng khao khát làm giàu và làm chủ của cô Tư Hồng. Cô đã tận dụng thời cơ và vị thế của chồng để tạo ra sự nghiệp kinh tế của riêng mình.

   Khao khát làm giàu gặp thời cơ lớn, khi Hà Nội được quy hoạch, kiến thiết thành thủ phủ của Đông Dương, mở ra cơ hội kiếm tiền lớn hơn nhiều so với Hải Phòng: “công cuộc cải tạo kiến thiết phải ngổn ngang đầy rẫy, tha hồ cho người ta làm. Hạ một nhát cuốc, chăng một sợi dây cũng đủ kiếm ra tiền nghìn bạc vạn”, “miễn là người ta có chí làm giàu, chẳng thiếu gì cơ hội và công việc lớn” (tr. 137). Lan ước ao: “Hà Nội là trường hoạt động to rộng hơn, thêm gặp gỡ nhờ vả được ông chồng có địa vị là thế, phen này chẳng lợi dụng mà lên bà phú hộ thì còn bao giờ nữa?”. Giấc mơ của cô lúc này không chỉ là món tài sản do tích cóp được nhờ bổng lộc của người chồng mà là một sự nghiệp kinh tế do chính cô tạo lập và hơn thế, một địa vị: “bà phú hộ”.

   Với vốn kinh nghiệm kinh doanh đã tích lũy được cùng sự bén nhạy tinh tường, cô Tư Hồng đã chủ động “níu chặt lấy cơ hội” (tr. 136), dành hết tâm sức chuẩn bị kinh doanh: “Cô Tư […] lo vun đắp xã giao, gây dùng thực lực để nó làm chìa khóa mở cửa doanh lợi cho mình. Không có một cuộc bao thầu buôn bán nào mà cô ta không chú ý, xem xét, mặc dầu mối lợi to hay nhỏ, sức mình làm được hay không” (tr. 136). Nghe ngóng cơ hội kinh doanh thực sự choán lấy tâm trí cô Tư Hồng đến mức ngay cả khi ông chồng được lệnh bổ lên cung chức ở miền thượng du, cô Tư “xin được cho mình ở lại Hà Nội buôn bán”. Đây là chi tiết quan trọng cho thấy cô đã từ chối đi theo lối mòn trong ứng xử của người phụ nữ truyền thống: “Lên non thiếp cũng lên theo/ Tay vịn, chân trèo, hái trái nuôi nhau”, hay “Đi đâu cho thiếp đi cùng/ Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam” để sống như một người có hoài bão riêng, khi cô đã thực sự coi mình là trụ cột và là chỗ dựa cho chính mình.

   Bám sát kế hoạch nhà nước bỏ thầu phá thành Hà Nội làm đất bằng năm 1894, cô Tư Hồng chớp thời cơ lợi dụng vị thế của chồng để tham gia đấu thầu. Cuối cùng, cô trúng thầu trong sự ngỡ ngàng của giới thầu khoán xứ Bắc: “Trong giới thầu khoán xứ Bắc, người ta cạnh tranh nhau dữ vì là làm một việc to, chắc có lợi nhiều. Nhưng rồi họ phải nhăn nhó, ngơ ngác, nhảy dựng cả lên như đã ngồi phải ổ kiến lửa, không ngờ cái việc khó khăn mà chắc chắn phát tài ấy lại lọt vào tay một người đàn bà thầu được” (tr. 137). Việc trúng thầu phá thành Hà Nội đã đem lại lợi ích to lớn cho cô Tư Hồng. Trước hết, đó là một “mối lợi khá to” (tr. 147) về kinh tế: “Cô Tư vừa dọn thành vừa xây nhà mình”. Ngoài ra, từ số đá đào sâu dưới móng tường, cô bán cho những người thợ khảm, đem lại vô số tiền bạc (tr. 151). Thứ hai, sự kiện phá thành đem đến cho cô danh vọng và địa vị, như một “bậc thang cho cô Tư Hồng bước lên trên đài danh lợi” (tr. 146). Nhất là nhờ đó, “sở địa ốc của thành phố Hà Nội đã biên tên Trần Thị Lan là một nghiệp chủ” (tr. 147) đưa cô Tư Hồng chính thức trở thành doanh nhân nữ đầu tiên trong lịch sử. Từ đây, cô kinh doanh đủ thứ: “buôn bán lớn về thóc gạo, bắp ngô”, tiếp đó, thầu xây dựng, tàu thủy… tạo dựng sự nghiệp kinh doanh lớn và đóng “địa vị một nhà doanh nghiệp có số ở Hà thành” (tr. 154). Lúc này, “tài lợi như chạy sấn sổ vào nhà”, cô Tư Hồng đã nghiễm nhiên có được danh giá, gia nhập vào giới thượng lưu của xứ Bắc, kết bạn và giao lưu với những doanh nhân cự phách “kháng hàng Tây có, Tàu có, Annam có”.

   Như vậy, từ việc coi người chồng là nguồn lợi kinh tế, qua hai cuộc hôn nhân, cô Tư Hồng đã tiến một bước dài trong việc kiến thiết nên sự nghiệp kinh doanh tự chủ, tạo dựng địa vị xã hội vững chắc cho mình. Dấn thân vào con đường làm ăn kinh tế, cô Tư Hồng từ chỗ là người học trò làm theo các chỉ dạy của chồng, đến chỗ từng bước khẳng định mình như một nữ doanh nhân số một trên thương trường. Trên con đường dấn thân đó, ý thức về giới luôn là một trong những động lực ngầm ẩn giúp cô đạt được những thành tựu vượt trội, cho thấy khả năng to lớn của phụ nữ trong việc kiến thiết sự nghiệp kinh tế. Thông qua trường hợp cô Tư Hồng, nhà văn cho thấy kinh tế không chỉ giúp khai phóng tiềm năng to lớn ở người phụ nữ, nó còn là khí cụ đắc lực, mang tính dân chủ hóa để tạo cơ hội cho phụ nữ đổi đời. Nắm được khí cụ đó, người phụ nữ, bằng tài năng và bản lĩnh của mình, có thể làm một cuộc cải biến ngoạn mục, như cách của cô Tư Hồng, từ một cô gái quê nghèo khó chạy ăn từng bữa trở thành một chủ doanh nghiệp, gia nhập vào tầng lớp tư sản đang hình thành, vươn lên sống cuộc đời danh vọng trong bối cảnh đất nước chuyển mình những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Với việc xây dựng một hình tượng nữ giới làm giàu và xây dựng sự nghiệp dựa trên nền tảng kinh tế, nhà văn Đào Trinh Nhất đã góp thêm tiếng nói dân chủ hóa đời sống xã hội, khuyến khích, cổ động phụ nữ xây dựng sự nghiệp riêng, làm giàu cho bản thân và vươn lên tự chủ.

   2. Phụ nữ và ý thức dân tộc về kinh tế

   Trong tác phẩm Cô Tư Hồng, ngoài việc nhìn ra cơ hội giải phóng phụ nữ trong tiến trình phát triển, chuyển mình của đất nước, nhà văn Đào Trinh Nhất còn thể hiện ý thức dân tộc trong khi đề cập đến vấn đề phụ nữ và kinh tế giai đoạn đầu thế kỷ XX.

   Trong tác phẩm này, Đào Trinh Nhất khắc họa nên một cán cân bất cân xứng giữa các lực lượng tham gia điều phối và kiểm soát nền kinh tế. Trong khi tư bản ngoại quốc người Pháp và người Hoa chiếm lĩnh thế thượng phong, nắm gần như toàn bộ huyết mạch của nền kinh tế thuộc địa, thì người Việt bản xứ, chẳng hạn hình bóng người cha của cô Tư Hồng thuở hàn vi, hiện lên như một thành phần thứ yếu, nhỏ lẻ, gần như nằm bên lề sự phát triển kinh tế theo lối mới. Trong câu chuyện, nhà văn nhiều lần đề cập đến sự bành trướng của lái buôn người Hoa: “Từ lúc này mãi cho đến khi có Bạch Thái Bưởi nổi lên, tầu thủy chạy trên các ngả sông xứ Bắc, trừ ra mấy chiếc của Tây, còn thì người Khách chuyên lợi” (tr. 77), hoặc: “nghề buôn bán các thực phẩm Tây phương, người Phúc Kiến sở trường hơn hết, gần như độc quyền ở xứ ta” (tr. 98)… Trong buổi đầu của cuộc khai thác thuộc địa, sự bắt tay và liên kết chặt chẽ giữa người Pháp và người Hoa càng khiến cho thế độc quyền ngoại quốc mạnh mẽ: “Ban đầu, mỗi việc bao thầu lĩnh trưng gì, người Pháp giao hết cho Khách đứng ra làm trung gian, vì Annam ta chưa có ai biết việc làm và mối lợi ấy” (tr. 99). Những mô tả trên đây trong cuốn tiểu thuyết rất gần với những ghi nhận của các nhà nhân học và nghiên cứu lịch sử về thực tế lịch sử Việt Nam. Trong công trình Sự phát triển của kinh tế Đông Dương thuộc Pháp (được xuất bản tại Pháp ngay từ năm 1939), Charles Robquain ghi nhận: “Hiếm có người An Nam giàu có nào nhờ vào hoạt động thương mại quy mô lớn hoặc công nghiệp quy mô lớn, đó trước hết vẫn là hoạt động kinh doanh của người da trắng và người Trung Quốc, những người thường sở hữu các cửa hàng lớn, xưởng dệt lụa, công ty thêu thùa, đồ cao cấp,…”7. Còn Nguyễn Thế Anh, trong công trình Kinh tế Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn nhấn mạnh lợi quyền của người Hoa: “Nhân số Hoa kiều tuy ít, nhưng đã chiếm được các thương nghiệp lớn lao”, “Chính nhờ các thương gia Hoa kiều mà các sự mậu dịch quốc tế khá hoạt động”8. Trong khi Nguyễn Công Bình lại khẳng định: “Đế quốc Pháp đã nắm hết mạch máu kinh tế Việt Nam”9. Các nhận định trên đều cho thấy sự vắng bóng của tầng lớp trung lưu bản địa, trong khi tư bản Pháp và Hoa kiều thâu tóm lợi quyền, chi phối huyết mạch nền kinh tế Việt Nam.

   Trên cái nền bối cảnh bất cân xứng giữa các lực lượng tham gia nền kinh tế, Đào Trinh Nhất khắc họa cô Tư Hồng như một người phụ nữ người Việt bản xứ đầu tiên cộng tác với tư bản phương Tây: “có chỗ đáng kể là ở vào thời đại cô, cái thời đại mới khởi cuộc Tây Nam cộng tác, tân cựu giao thời, có lẽ cô là người đàn bà Việt Nam thứ nhất đã mạnh dạn giao thiệp buôn bán với các hãng Tây. Mà buôn bán to chứ không tầm thường” (tr. 161). Chẳng những là “người đàn bà Việt Nam thứ nhất đã mạnh dạn giao thiệp buôn bán với các hãng Tây”, cô Tư Hồng còn nhận được sự tín nhiệm lớn từ các đối tác: “cô được tiếng buôn bán đứng đắn, vả lại trường lưng vốn cho nên bạn hàng Tây, Tàu họ tín nhiệm lắm. Các hãng Tây ở Hà Nội hay Hải Phòng mỗi khi cần cân một số gạo bắp để bán về bên Tây hay chở ra thị trường ngoại quốc, thường trong mười lần thì đến bảy, tám, họ bảo nhau giao thiệp và ủy thác cho Madame cô Tư” (tr. 161). Sự “tin cẩn, vị nể” mà các hãng buôn Tây dành cho cô Tư cho thấy cô đã tạo được uy tín và vị thế trong thương trường. Điều này không chỉ giúp cô có được nhiều hợp đồng, nhiều tiền bạc mà còn khiến cô nổi lên như một tác nhân, một thế lực kinh tế mới mẻ ở thời kỳ đầu của nền kinh tế thuộc địa, khi giai cấp tư sản bản xứ vẫn chưa được hình thành. Sự hiện diện của cô trong thương trường và cung cách kinh doanh táo bạo, uy tín của cô có ý nghĩa đánh dấu sự hiện diện của người Việt Nam trong chuỗi cung ứng rộng lớn thời kỳ sơ khởi của công cuộc khai thác thuộc địa.

   Tuy nhiên, tiểu thuyết của Đào Trinh Nhất không tô hồng mối quan hệ giữa tư bản ngoại quốc với lực lượng doanh nhân trong nước khi ông mô tả đoạn kết cuộc đời cô Tư Hồng. Theo cách xây dựng của Đào Trinh Nhất, mối quan hệ giữa cô và tư bản ngoại quốc bị đổ vỡ sau khi cô Tư Hồng cả gan lấy một người chồng là cố đạo người Pháp, người đã phá giới, bỏ áo nhà tu để đến sống với cô như vợ chồng. Người Pháp không phán xét khi cô yêu đương hay chơi trò tình ái, nhưng việc cô phá rào để lấy một cha đạo đã khiến nhất loạt quan khách Tây - Nam trong giới thượng lưu Hà Nội, Hải Phòng xa lánh cô. Ngay từ bữa tiệc cưới, “kê tên vừa đúng 120 quan khách nhưng đến buổi tiệc vẻn vẹn chỉ có 26 người đến dự”, “tuyệt không có tay nào đại biểu Hà thành hoa lệ hay phiệt duyệt như đám tiệc nhà cô ngày trước” và nhất là “chẳng có lấy một ông Tây bà Đầm nào đến”. Điều này rất khác so với trước đây “mỗi khi Madame cô Tư thết tiệc thì quan khách Âu Tây chiếu cố rất đông”. Sự vắng mặt của quan khách trong bữa tiệc chính là sự kết án mạnh mẽ và công nhiên cho việc cô Tư Hồng lấy người chồng phá giới: “hình như có một lẽ gì thiêng liêng, chắc nó là nhân tâm, thiên lý - tự nhiên mỗi người đều nghĩ đến mà tránh mặt bữa tiệc ấy chứ không cần ước hẹn gì với nhau”. Từ sau đám cưới, cô cảm nhận rõ “vẻ lạt lẽo” mà người đời dành cho mình: “Chẳng những họ đã không niềm nở vui mừng giùm cô lấy chồng, lại còn tỏ vẻ chê bai khinh rẻ cô ngay ở chỗ đó” (tr. 207). Từ chỗ chê bai, họ tuyệt giao, không tiếp xúc với cô, đến mức cô có cảm giác “hình như cửa nhà cô có vi trùng ôn dịch khiến họ phải ghê sợ, kiêng cữ không đến. Nhất là hạng Âu Tây thì vắng biệt tăm bóng. Có thể nói theo tiếng thông tục là người ta từ cửa cô, không chơi với cô nữa” (tr. 208). Sự im lặng tuyệt đối, thái độ tuyệt giao thẳng băng, dứt khoát, lạnh lùng của giới thượng lưu Pháp như một thứ quyền lực vô hình bao phủ không khí, len lỏi vào từng mối quan hệ và không ngừng “kết án” cô. Có thể nói, vận hội kinh tế tư bản đã đưa cô Tư Hồng lên địa vị cao trong xã hội, kéo cô tới gần giới thượng lưu theo chuẩn mực văn hóa phương Tây thì chính những quy chuẩn đạo đức của cộng đồng đó, như một thứ quyền lực ngầm ẩn, thứ quyền lực luân lý và đạo đức đã làm sụp đổ danh dự, lòng tự trọng của cô và hơn thế, kết án cô.

   Không chỉ trừng phạt bằng cách tuyệt giao, giới thượng lưu Tây Âu còn trừng phạt cô Tư Hồng bằng kinh tế. Không ai bảo ai, tất cả các hãng buôn đã hứa ký kết giao kèo với cô trước đây đều hủy hợp đồng; những giao kèo dang dở, nếu cô không giao đúng hạn, hoặc thiếu, họ phạt cô “thẳng băng không chịu nhân nhượng”, thậm chí, là những cái “lắc đầu”, “Họ từ chối cô, xô đẩy cô”. Đòn trừng phạt bằng kinh tế chính là nỗi đau lớn nhất mà cô Tư phải trải qua, bởi nó không chỉ khiến “tài lợi lần hồi kém sút đi trông thấy” mà còn tỏ rõ cho cô thấy giới thương nhân không thể dung chứa cô trong mạng lưới quan hệ của họ nữa. Theo góc nhìn của họ, “cô đã cám dỗ một nhà tu hành phá giới về làm chồng mình”, điều đó trái với lòng mộ đạo mạnh mẽ của người phương Tây, khiến họ không thể “cho cô những mối hàng kiếm lãi bạc nghìn bạc vạn để cô cung phụng một người phá giới” (tr. 211). Với cách trừng phạt này, cả chỗ đứng, địa vị xã hội và đường sống của cô Tư đã hoàn toàn sụp đổ. Cho nên, ốm đau, bệnh tật và cái chết trong cô đơn chỉ là hệ quả cuối cùng không thể khác của đòn trừng phạt và sự kết tội mà xã hội Tây dành cho cô.

   Tuy nhiên, chính ở chỗ này, Đào Trinh Nhất đã rất tỉnh táo chỉ ra cho người đọc rằng: “Thật ra có lẽ nhà tu hành ấy cũng cám dỗ cô nhưng người ta không biết. Người ta kết án cả đôi nhưng trách móc cô nhiều hơn”. Nỗi oan ức của cô Tư Hồng nằm trong giới hạn chung của xã hội nam quyền, khi những chuẩn mực về mặt đạo đức đối với người phụ nữ bao giờ cũng khắt khe hơn đối với nam giới. Nhìn ở phương diện khác, nó cũng cho thấy sự mong manh của mối quan hệ cộng sinh, hợp tác giữa tư bản ngoại quốc và người bản xứ, nhất là trong những trường hợp nhất định, đạo đức và luân lý theo quan điểm Tây phương cũng có thể trở thành một công cụ để trấn áp, cô lập và tiêu diệt người bản xứ, loại người bản xứ khỏi vòng kiềm tỏa của họ.

   Như vậy, với Cô Tư Hồng, Đào Trinh Nhất đã đặt ra vấn đề chủ quyền kinh tế trong việc khắc họa hình ảnh một người phụ nữ Việt Nam đầu tiên làm nghiệp chủ, trong bối cảnh sự cạnh tranh không khoan nhượng của các thế lực tư bản ngoại quốc, cho thấy tinh thần tự lập tự cường toát lên trong tư tưởng của Đào Trinh Nhất.

   3. Cô Tư Hồng trong tầm nhìn quốc gia dân tộc của Đào Trinh Nhất

   Theo Nguyễn Huyền Linh, trên Tạp chí Việt Thanh (số 1 xuất bản ngày 28/5/1948 tại Hà Nội), với biệt hiệu Hồng Phong, Đào Trinh Nhất cho đăng bài viết “Tám phương thuốc cho các bạn trẻ muốn thành nhà văn chân chính”, đưa ra những đúc kết và kinh nghiệm làm báo của mình, hé lộ nỗi ưu tư về trách nhiệm của văn sĩ với các vấn đề của quốc gia dân tộc. Tác giả cho rằng, văn nghệ là chức nghiệp thiêng liêng, để “truyền đạt tiếng nói của đời người và của đại chúng” và bổn phận của nhà cầm bút là “phải đem văn chương ra phụng sự quốc gia, một cách ngay thẳng, cứng cỏi, chớ có thấy võ uy mà sợ hãi, chớ thấy phú quý mà động lòng”10. Đối với Đào Trinh Nhất, điều cốt lõi nhất là “nhà văn phải lấy chủ nghĩa cứu nước làm căn bản, làm mục đích, rèn luyện lấy cốt cách tốt đẹp, nhận biết công việc của mình làm là thiêng liêng, trách nhiệm là trọng yếu, quyền lực là to tát; có thế tác phẩm của các bạn mới có giá trị, có bổ ích, có vẻ thanh cao”11. Sự nhấn mạnh vào việc “phải đem văn chương ra phụng sự quốc gia, “nhà văn phải lấy chủ nghĩa cứu nước làm căn bản, làm mục đích” ở trên cho thấy chủ ý xuyên suốt của Đào Trinh Nhất trong quá trình thực hành ngôn ngữ, viết báo, viết văn. Quả thật, dù viết về danh nhân lịch sử, những mẩu chuyện giai thoại, một vấn đề kinh tế nổi cộm hay là tấm gương duy tân của ngoại quốc, tác giả đều soi chiếu dưới góc độ dân tộc, thể hiện không giấu giếm khao khát canh tân, tự cường, đổi mới đất nước. Với phương châm sáng tác ấy, Đào Trinh Nhất đã tận dụng khả năng lan truyền và cố kết cộng đồng dân tộc của báo chí và xuất bản để đề xuất và trình bày các vấn đề của quốc gia dân tộc. Trong đó, tự lực tự cường và duy tân đổi mới chính là những nét cốt lõi trong tư tưởng của ông. Đặt trong tổng thể ấy, có thể thấy tiểu thuyết Cô Tư Hồng mà bài viết phân tích ở trên không nằm ngoài tầm nhìn rộng lớn đó.

   Viết về cô Tư Hồng ở thời điểm khoảng hơn hai mươi năm sau cái chết của cô, khi xã hội đã có những đổi thay chóng mặt, Đào Trinh Nhất không chỉ “chiêu tuyết”12 cho một người phụ nữ chuân chuyên, táo bạo, dám sống lệch chuẩn và đi ngược quan niệm Nho giáo mà là cách để nhà văn truyền tải viễn kiến dân tộc chủ nghĩa của mình. Cụ thể, thông qua diễn tả hành trình gia nhập vào đời sống của đô thị của nhân vật, nhà văn đã xây dựng một mẫu hình người phụ nữ mới của thời đại, người luôn chủ động, tự tin, thường trực trăn trở về thế sống của mình và không ngừng tìm kiếm đường đi cho cuộc đời. Lấy kinh tế làm phương tiện, người phụ nữ ấy đã biết chớp lấy thời cơ từ công cuộc kiến thiết của thực dân để tạo cơ hội đổi đời cho chính mình. Thông qua Tư Hồng, nhà văn không chỉ cho thấy sức mạnh và khả năng vươn lên của phụ nữ mà còn cho thấy phụ nữ chính là một lực lượng, một tác nhân tham gia rất sâu vào nền kinh tế đang trên đà hiện đại hóa. Phiên bản cô Tư Hồng mạnh mẽ và chủ động đi trước thời đại này, do thế, rất gần gũi với người thiếu nữ mới của những năm 1920 trong Sang Tây - Mười tháng ở Pháp mà Đào Trinh Nhất viết khi làm chủ bút tại Phụ nữ tân văn (năm 1929). Trong tác phẩm này, người phụ nữ được phác họa là một cô gái có học thức, có chủ kiến, tự tin đối thoại với những người bạn ngoại quốc trên hành trình viễn dương sang nước Pháp. Cô được xây dựng như một công dân có trách nhiệm đối với vận mệnh của quốc gia chứ không đơn thuần chỉ là tiếng nói của người nữ đòi lợi quyền cho giới mình. Đặt vào mạch nguồn đó, có thể thấy Cô Tư Hồng chính là sự tiếp nối của ý hướng xây dựng một hình tượng người phụ nữ mới của thời đại: người phụ nữ mạnh dạn, tháo vát, dùng lý trí sắc sảo để đạt được tự do, tự chủ và nhất là dùng óc thực tiễn và khả năng kinh tế, thực nghiệp để hoán cải số phận, đóng góp cho nền kinh tế quốc gia dân tộc. Xây dựng những hình mẫu này, Đào Trinh Nhất đã tham góp, bổ sung tiếng nói về vấn đề phụ nữ, một chủ đề rộng lớn, vốn thu hút đông đảo sự chú ý của các trí thức ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX.

   Viết về cô Tư Hồng ở thời điểm 1940, khi những câu chuyện của cô đã lùi vào dĩ vãng, nhà văn Đào Trinh Nhất còn một lần nữa cảnh báo về vấn đề chủ quyền kinh tế, sự yếu thế của lực lượng doanh nhân trong nước và nỗ lực của người bản xứ trong việc thể hiện sự hiện diện của mình trong đấu trường giữa tư bản ngoại quốc với doanh nhân trong nước. Ngay từ năm 1924, khi mới 24 tuổi, Đào Trinh Nhất đã coi kinh tế như một địa hạt không tách rời của lợi ích dân tộc, được thể hiện qua khảo cứu công phu Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ. Trong cuốn sách này, ông gọi tình thế thiên lệch giữa tư bản ngoại quốc và quyền lợi của người bản địa Việt Nam là cuộc “chiến tranh kinh tế”13. Cuốn sách vạch trần những hiểm tượng của thế lực Hoa kiều trong việc thâu tóm lợi các quyền kinh tế của nước ta: “Người Tầu - ông chủ nhân trong trường thương mại công nghệ của ta, thôi thì trên bến dưới thuyền, thượng vàng hạ cám, nhất thiết quyền lợi đều rơi vào tay họ lũng đoạn hết, ta chịu mãi cái nỗi “cường tân áp chủ” như thế”14, từ đó đề xuất di dân người Bắc và Trung Kỳ vào Nam Kỳ để khắc phục tình trạng nhân mãn ở phía Bắc, cải thiện tình trạng thiếu nhân công ở miền Nam, đồng thời làm suy yếu thế độc quyền của ngoại nhân đối với nền kinh tế của nước ta. Như vậy, mối quan tâm đến kinh tế từ phương diện lợi quyền dân tộc đã được nhen nhóm từ trước, thậm chí như một mối quan tâm đầu tiên của Đào Trinh Nhất trong tư cách một trí thức dân tộc. Tuy nhiên, có sự khác biệt qua thời gian. Nếu như ở giai đoạn đầu, ông tập trung cảnh báo hiểm tượng bành trướng của người Hoa, thì ở giai đoạn năm 1940, lời cảnh báo dường như nhắm đến người Pháp. Trong tác phẩm Cô Tư Hồng, tư bản gốc Hoa hiện lên như người thầy chỉ vẽ cách thức làm ăn, trong khi tư bản người Pháp tồn tại ở thế nước đôi, vừa là người sẵn lòng cộng tác vừa là một mạng lưới quyền uy, có thể bóp nghẹt sự tồn tại của doanh nhân bản xứ. Việc cô Tư Hồng bị cô lập, bị chặn đường sống về kinh tế chính là một minh chứng cho điều đó. Lý giải điều này, người viết cho rằng, thời điểm viết Cô Tư Hồng năm 1940 là một giai đoạn nhạy cảm trong lịch sử Việt Nam, khi phát xít Nhật tiến vào Đông Dương, trong khi chính quốc Pháp hạ khí giới tháng 6 năm 1940, nhường cho Nhật nhiều lợi quyền kinh tế. Như Phạm Thế Ngũ chỉ ra, trong tình thế bấp bênh, khi Chiến tranh thế giới lần thứ II đang nổ ra, tại Đông Dương, một mặt nước ta vẫn thuộc chủ quyền của Pháp nhưng mặt khác quân Nhật lại chiếm đóng và bắt đầu đặt ách đô hộ, “trong lòng mỗi người đều âm ỉ nỗi băn khoăn về ngày mai sắp đến, về đất nước, về dân tộc”15. Khẩu hiệu “Cách mạng quốc gia” được thống chế Petain khởi xướng từ chính quốc lan truyền sang thuộc địa, tạo nên một “phong trào phục cổ, đi tìm bài học ở quá khứ, trở về vấn tổ tầm tông”. Viết Cô Tư Hồng trong phong trào tìm về vốn cổ là cơ hội để Đào Trinh Nhất thể hiện một cái nhìn mang tính dân tộc chủ nghĩa về các vấn đề kinh tế - xã hội. Trong đó, cái nhìn về lợi quyền dân tộc, tự chủ kinh tế ở tầm quốc gia một lần nữa được ông đặt ra và lần này, ngòi bút của ông đã hướng về tư bản Pháp của chủ nghĩa thực dân.

   Như vậy, không nằm ngoài những mối quan tâm của Đào Trinh Nhất về các vấn đề tự lực, tự cường dân tộc, về duy tân đổi mới đến nước, Cô Tư Hồng là sự suy tư của tác giả về những vấn đề của thời đại trong bối cảnh thuộc địa. Bằng việc kể câu chuyện về một người phụ nữ có thật ngoài đời, sống lệch ra khỏi những khuôn khổ của xã hội, nhà văn đã thể hiện tiếng nói đấu tranh cho quyền sống, quyền tự chủ của người phụ nữ, đồng thời cho thấy một tinh thần dân tộc khi nhìn nhận vấn đề cạnh tranh kinh tế giữa tư bản ngoại quốc và lực lượng bản xứ. Với tác phẩm này, nhà văn đã góp thêm một tiếng nói cho quá trình hiện đại hóa, dân chủ hóa xã hội Việt Nam những năm đầu của thập kỷ 1940, trước khi những sự kiện lớn lao của lịch sử xảy đến.

 

 

 

Chú thích:
* Trường hợp tiểu thuyết lịch sử Cô Tư Hồng.
1 Xem: Bùi Thiên Dương (2024): “Độc thoại nội tâm trong tác phẩm Cô Tư Hồng của Đào Trinh Nhất”, Tạp chí Khoa học, Đại học Khoa học Huế, số 1 (69), tr. 75-83; Bùi Thiên Dương (2024): “Ngôn ngữ đối thoại trong tác phẩm Cô Tư Hồng của Đào Trinh Nhất”, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 5 (78), tr. 132-139.
2, 12 Xem: Bùi Thị Hải Yến (2019), “Nhân vật “me Tây” trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX”, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội.
3 Trần Ngọc Hiếu (2015), “Cô Tư Hồng như một tiểu thuyết”, Lời đầu sách Cô Tư Hồng, NXB. Văn học.
4, 5 Nguyễn Thu Hằng - Bùi Thiên Dương (2022): “Bước ngoặt diễn ngôn về nhân vật me Tây trong văn học Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”, Tạp chí Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, số 8, tr. 46-51, 46.
6 Đào Trinh Nhất (2015), Cô Tư Hồng, NXB. Văn học, tr. 25. Các trích dẫn tác phẩm tiếp theo đều từ nguồn tài liệu này, chúng tôi mở ngoặc trực tiếp số trang.
7 Charles Robquain (2024), Sự phát triển của kinh tế Đông Dương thuộc Pháp (Ninh Xuân Thao, Phạm Ngọc Hiệp, Trần Văn Kiên dịch), NXB. Đại học Sư phạm Hà Nội, tr. 111.
8 Nguyễn Thế Anh (2016), Kinh tế Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn, NXB. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr. 246.
9 Nguyễn Công Bình (2020), Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc, NXB. Khoa học xã hội, tr. 15.
10, 11 Nguyễn Huyền Linh (1951), “Thử bàn qua về văn phẩm của Đào Trinh Nhất”, in trong Đào Trinh Nhất - Tuyển tập tác phẩm (Chương Thâu – Đào Duy Mẫn sưu tầm và biên soạn), NXB. Lao động, tr. 1133.
13, 14 Đào Trinh Nhất: “Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam kì”, in trong Đào Trinh Nhất – Tuyển tập tác phẩm (Chương Thâu – Đào Duy Mẫn sưu tầm và biên soạn), NXB. Lao động, tr. 25.
15 Phạm Thế Ngũ (1972), Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên (tập 3: Văn học hiện đại 1862-1945), Quốc học tùng thư, tr. 613.

Bình luận

    Chưa có bình luận