Nghiên cứu tư tưởng của Đảng về văn hóa từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đến nay, có thể thấy có ba vấn đề mang tính xuyên suốt: bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập thế giới; giới thiệu, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra nước ngoài và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các tư tưởng sai trái, thù địch. Ba vấn đề nói trên hiện diện trong các Văn kiện của Đảng ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và cho đến nay tiếp tục là những vấn đề quan trọng trong hệ thống tư tưởng về văn hóa tư tưởng của Đảng. Thoạt nhìn, đây là ba vấn đề có tính độc lập tương đối, mỗi vấn đề bao quát một phạm vi khác nhau nhưng nếu nhìn sâu vào bản chất, nếu chỉ xét trong lĩnh vực văn hóa và hẹp hơn, văn học, nghệ thuật, có thể thấy giữa ba vấn đề này có mối quan hệ mật thiết. Cả ba đều xoay quanh một “cái lõi” là những giá trị được xác định là tinh hoa, là bản sắc của văn hóa dân tộc. Nếu như việc bảo tồn và phát huy mang một chiều kích có tính hướng nội, liên quan đến việc xác định những yếu tố mang tính bản sắc, những nội dung cốt lõi và xây dựng một định hướng để những yếu tố đó có thể phát huy được tính tích cực trong bối cảnh đương đại thì việc quảng bá và giới thiệu ra nước ngoài mang chiều kích hướng ngoại, đưa những giá trị tích cực đó ra khỏi ranh giới cộng đồng và việc đấu tranh, phản bác lại vừa mang chiều kích hướng nội vừa mang chiều kích hướng ngoại, là mặt bên kia của tiến trình bảo tồn và phát huy, là việc bảo vệ những giá trị đó trước sự tấn công của những tư tưởng sai trái, thù địch xuất hiện cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài cộng đồng, là phản lực của sự vận động tích cực. Cũng cần phải khẳng định rằng văn hóa và tư tưởng là hai lĩnh vực có quan hệ bao hàm, văn hóa nằm trong tư tưởng, là một hợp phần cấu thành “nền tảng tư tưởng”, cấu thành hệ thống tư tưởng. Trong phạm vi của bài viết này, vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc Việt Nam; giới thiệu và quảng bá hình ảnh Việt Nam cũng như đấu tranh, phản bác các tư tưởng sai trái sẽ được nhìn trong mối quan hệ tổng thể, giới hạn trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Dựa trên những lý thuyết đương đại về kiến tạo bản sắc, chúng tôi hướng đến đề xuất khái niệm “tự sự quốc gia”, gắn khái niệm này với những vấn đề nói trên và đề xuất một số giải pháp mang tính thực tiễn của công tác phát triển văn hóa, đặc biệt trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật.
Tuy vậy, trước hết, hãy nói về văn hóa. Sẽ là vô ích khi nhắc lại rằng cho đến nay tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Nhưng bất chấp những cách giải thích rất đa dạng đó, có thể nói văn hóa là một trong những yếu tố nền tảng kiến tạo nên con người về mặt xã hội. Các định nghĩa khác nhau chủ yếu liên quan đến sự lưỡng lự trong việc giới hạn phạm vi của văn hóa. Văn hóa bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống con người cũng như tồn tại ở nhiều quy mô khác nhau của cộng đồng người, từ một gia đình, dòng họ đến những nhóm xã hội rộng hơn. Điểm gặp nhau trong những cách giải thích khác nhau về văn hóa đó là việc coi văn hóa như một thành tố tạo nên sự khác biệt, hoặc, nếu diễn đạt theo một cách khác, làm nên bản sắc, “căn cước” của một nhóm/ cộng đồng xã hội. Đây là điểm phân biệt văn hóa với ý thức hệ (thường có khuynh hướng tạo nên điểm chung giữa các nhóm xã hội khác nhau). Văn hóa hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống. Tuy vậy, có thể thấy, văn hóa chủ yếu liên quan đến các yếu tố tinh thần. Văn hóa là những yếu tố thuộc về tinh thần, là những niềm tin, những khuynh hướng tinh thần, những giá trị, chuẩn mực của một cộng đồng, được chia sẻ giữa các thành viên của cộng đồng và làm nên sự khác biệt, căn tính của cộng đồng đó. Văn hoá hình thành nên cách giải thích, đánh giá thế giới của một cộng đồng. Nó hiện diện và biểu hiện trong nhiều lĩnh vực nhưng có những yếu tố đặc biệt thể hiện rõ nét văn hoá của một cộng đồng: những thói quen sinh hoạt, những biểu tượng, huyền thoại, những truyện kể phản chiếu ký ức và truyền thống…
Trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam, có thể thấy vấn đề văn hóa và bản sắc văn hóa đã trở thành một vấn đề quan trọng trong những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XX cùng với tên tuổi của những nhà nghiên cứu văn học, sử học, văn hóa học, lịch sử tư tưởng như Phan Ngọc, Huyền Giang, Đoàn Văn Chúc, Trần Đình Hượu, Lưu Trần Tiêu, Mai Văn Hai, Trần Ngọc Thêm… Dù có những kiến giải khác nhau nhưng có thể nói, điểm chung của những nhà nghiên cứu này là khuynh hướng coi văn hóa như một yếu tố có tính ổn định của cộng đồng, được tích lũy và rắn chắc dần qua lịch sử. Đó là một quan điểm vừa mang tính bản chất luận vừa mang tính nhân hình luận. Bản sắc văn hóa được hình dung như yếu tố giống như tính cách của một con người. Nó hình thành từ giai đoạn thơ ấu, được hun đúc qua quá trình xã hội hóa và trưởng thành, khi tiếp nhận những giá trị cộng đồng, va chạm với thế giới xã hội bên ngoài để hình thành một/ một số khuynh hướng có tính ổn định tương đối về tinh thần chi phối cách phản ứng, hành động, lựa chọn, rộng hơn, cách sống của những cá nhân trong không gian xã hội. Nghiên cứu của những học giả nói trên cũng thường hướng đến một số giá trị có tính trừu tượng và xem đó như những đặc trưng của văn hóa Việt Nam.
Bên cạnh khuynh hướng ít nhiều mang tính triết học nói trên cũng tồn tại một hướng nghiên cứu của các nhà sử học, dân tộc học và nhân học. Thay vì đi vào những giá trị mang tính trừu tượng để tìm kiếm bản sắc văn hóa Việt Nam, những nghiên cứu này tìm hiểu sự biểu hiện của văn hóa trong những lĩnh vực vật thể (nhà cửa, trang phục, ẩm thực…) và phi vật thể (luật tục, lễ hội, văn nghệ dân gian, tín ngưỡng và tôn giáo…) được giới hạn trong những cộng đồng có ranh giới tộc người cụ thể. Đó là hướng nghiên cứu của những học giả từ thế hệ của Từ Chi, Phan Hữu Dật, Trần Quốc Vượng đến Ngô Đức Thịnh, Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Quang Hưng, Nguyễn Quốc Tuấn, Trần Hữu Sơn, Vương Hồng Quang, Hoàng Lương, Lương Xuân Tình… Có thể nói, hướng nghiên cứu thứ hai này một mặt là một “lối thoát” cho hướng nghiên cứu “triết học” nói trên bởi lẽ nếu trừu tượng hóa bản sắc vào một số phạm trù sẽ dẫn đến sự lặp lại ở nhiều cộng đồng khác nhau. Đây cũng là một biện chứng giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, giữa bản chất và sự thể hiện.
Ngoài ra, vào thập niên đầu thế kỷ XXI, khi khoa học xã hội ở Việt Nam có sự tiếp xúc mạnh mẽ với khoa học xã hội, đặc biệt với những nghiên cứu mới về tộc người, văn hóa tộc người, căn cước tộc người, quốc gia dân tộc và chủ nghĩa dân tộc, thì cũng bắt đầu xuất hiện khuynh hướng muốn điều chỉnh lại khuynh hướng mang tính bản chất luận nói trên. Điều này được thể hiện qua những nghiên cứu của Phạm Hồng Tung, Hoàng Ngọc Hiến và đặc biệt là Nguyễn Văn Chính. Thay vì coi bản sắc văn hóa như những yếu tố có tính ổn định, những nghiên cứu này hướng đến tính động, tính thay đổi liên tục của bản sắc. Nguyễn Văn Chính đẩy xa hơn hướng tư duy này. Chịu ảnh hưởng lý thuyết về cộng đồng tưởng tượng của Benedict Anderson, ông cho rằng bản sắc là một tập hợp thường thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào bối cảnh chính trị - xã hội cụ thể của mỗi thời kỳ lịch sử1.
Điểm qua lại những khuynh hướng nghiên cứu nói trên, chúng tôi muốn đưa ra một số đề xuất mang tính trung dung:
Thứ nhất, sẽ không thể nói về bảo tồn và phát huy bản sắc Việt Nam nếu thiếu đi những nghiên cứu về bản sắc, nói cách khác, không xác định được bản sắc. Vậy mà thực tế cho thấy những nghiên cứu về bản sắc chỉ có thể thực hiện được nếu cân bằng được những khuynh hướng mang tính “triết học” và những khuynh hướng tập trung vào những biểu hiện cụ thể của bản sắc của văn học, nghệ thuật, dân tộc học, nhân học…
Thứ hai, cần có sự cân bằng giữa khuynh hướng mang tính bản chất luận và tính kiến tạo luận về bản sắc. Một mặt, bản sắc là khuynh hướng có tính kết tụ, ổn định về giá trị của một cộng đồng người. Nhưng mặt khác, cũng không thể bỏ qua thực tế là bản sắc luôn bị tác động bởi phương thức sản xuất, bối cảnh văn hóa, xã hội, ý thức hệ, quyền lực chính trị… những yếu tố có tính lịch sử. Ở đây, thậm chí có thể đi thêm một bước trong tư duy khi thấy rằng bản sắc không chỉ là yếu tố được trao truyền, được xã hội hóa từ thế hệ trước sang thế hệ sau mà những cộng đồng người, ở những bối cảnh khác nhau chủ động kiến tạo nên bản sắc. Giống như ý thức hệ, bản sắc không phải là một định mệnh mà con người phải thủ đắc mà là một yếu tố mà con người chủ động kiến tạo để biện chính cũng như làm điểm tựa cho tồn tại của mình.
Chính ở điểm này, chúng tôi muốn đề xuất khái niệm tự sự quốc gia. Trong những năm gần đây, chúng ta thường nói rất nhiều về hình ảnh quốc gia, về sự chủ động tạo dựng hình ảnh quốc gia qua những biểu hiện cụ thể mang tính hiện tượng như trang phục, ẩm thực, khung cảnh, nhân cách, gương mặt đại diện… Xét từ góc độ triết học, đó là những yếu tố mang tính không gian, là sự thể hiện ra thành một biểu tượng. Có thể hình dung vấn đề theo một chiều kích khác: chiều kích thời gian. Tự sự quốc gia là cách thức một cộng đồng xác định tự sự về cộng đồng mình, lịch sử của mình, những huyền thoại của mình, lý giải những nguyên nhân tồn tại và vận động của cộng đồng mình, hay một cách đơn giản hóa, là lịch sử của mình. Đó là cách thức trả lời những câu hỏi: cộng đồng đã tồn tại như thế nào? Đâu là những sự kiện cơ bản cấu thành nên ký ức cộng đồng? Động lực của những sự kiện đó là gì? Điều đó phản ánh những giá trị, niềm tin đặc thù gì? Từ chiều kích đó, hình ảnh quốc gia là một biểu hiện của tự sự quốc gia trong dòng lịch sử và cũng là sự biểu hiện của những giá trị văn hóa và ý thức hệ ở chiều sâu.
Hãy quay lại với đời sống thực tiễn, xin được chuyển sang một lĩnh vực tương đối đặc biệt: du lịch. Dẫu chưa có một thống kê thật đầy đủ nhưng nhìn vào thực tiễn phát triển của ngành du lịch ở Việt Nam, có thể nhận ra một sự phân biệt trong việc lựa chọn điểm đến khi du lịch Việt Nam. Bên cạnh những điểm đến chung cho tất cả mọi nhóm du khách như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh thì các nhóm khách từ một khu vực thường có khuynh hướng lựa chọn điểm đến giống nhau. Nếu như Nha Trang, Đà Nẵng, Phú Quốc… những thành phố biển nhiệt đới gần đây đã trở thành điểm đến tập trung khách từ các nước Bắc Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật) thì khách châu Âu thường có khuynh hướng chọn những điểm đến như Huế, Quảng Bình (với các địa danh như Phong Nha, Sơn Đoòng, Đồng bằng sông Cửu Long, Sa Pa, Vịnh Hạ Long)… Việc lựa chọn điểm đến liên quan đến thói quen của du khách trong việc tiêu thụ sản phẩm du lịch. Trong khi khách Đông Á, đặc biệt là Hàn Quốc và Trung Quốc thường hướng đến nghỉ dưỡng và mua sắm thì khách châu Âu và Bắc Mĩ có khuynh hướng lựa chọn các tour khám phá thiên nhiên hoang dã (lý do họ lựa chọn các địa điểm ở Quảng Bình) và du khảo về văn hóa bản xứ (những địa điểm đậm đặc sinh hoạt văn hóa bản địa như Sa Pa2 hay Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên) hoặc du khảo di tích lịch sử (Huế).
Bên cạnh lý do nói trên, không thể phủ nhận văn học, nghệ thuật có vai trò không nhỏ trong việc tạo nên hình ảnh quốc gia trong mắt người nước ngoài và từ đó, mời gọi, thu hút khách du lịch. Hãy thử đặt câu hỏi: Trước khi đến Việt Nam, người nước ngoài biết gì về đất nước chúng ta và qua những kênh nào? Trong khoảng mười năm gần đây, các thiết chế thuộc nhà nước đã triển khai các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch ra nước ngoài với sự kết nối với những tập đoàn truyền thông lớn như CNN của Mĩ. Nhưng trước đó? Nếu làm một khảo sát nghiêm túc khách du lịch châu Âu, đặc biệt là khách du lịch Tây Âu, về Việt Nam, chắc chắn sẽ có một loạt sản phẩm văn hóa đã góp phần làm nên hình ảnh Việt Nam trong họ: ảnh của Katherine Karnow, đặc biệt là khi được lựa chọn minh họa cho Lonely Planet (với bức ảnh nổi tiếng về Vịnh Hạ Long); phim Hollywood về Việt Nam, đặc biệt là Appocalypse Now của Francis Ford Coppola và Platoon của Oliver Stone (phim của Coppola nổi tiếng đến mức đã đi vào phần lời của một bài hát của một ca sĩ Việt kiều sinh vào những năm 80 của thế kỷ XX, điều đó chứng tỏ đối với người nước ngoài, nó đã thành một thứ điển phạm); văn học và điện ảnh Pháp, đặc biệt là với tiểu thuyết Người tình của Maguerite Duras, phim chuyển thể cùng tên và phim Đông Dương, phim của Trần Anh Hùng, đặc biệt là Mùi đu đủ xanh và Mùa hè chiều thẳng đứng; văn học và điện ảnh Việt Nam được dịch/ giới thiệu ra nước ngoài, đặc biệt là Thương nhớ đồng quê của Đặng Nhật Minh, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp3. Ở đây, tôi chỉ nhắc đến những sản phẩm nằm ở giữa ranh giới của nghệ thuật tinh hoa và nghệ thuật đại chúng. Còn rất nhiều sản phẩm mang tính đại chúng khác mà chắc chắn phạm vi ảnh hưởng của nó cũng không nhỏ nhưng bàn về chúng lại là một vấn đề khác: những bộ phim như Người Mĩ trầm lặng (The Quiet American của Phillip Noyce) hay thậm chí Chúng ta từng là lính (We were soldiers của Randall Wallace), Kong – đảo đầu lâu (Kong: Skull – island của Jordan Vogt – Robert).
Nhìn vào bản danh mục sơ bộ nói trên, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi những lựa chọn của người Tây Âu (những người “truyền thống” thuộc phe Tư bản chủ nghĩa4. Hãy nhìn vào một bài hát nổi tiếng của một ca sĩ gốc Việt, sinh vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX: bài hát Bonjour Vietnam của ca sĩ Phạm Quỳnh Anh5. Cần phải nói ngay rằng đây là một bài hát được một nhạc sĩ Pháp sinh vào những năm 60 của thế kỷ XX viết nhưng bản thân việc Phạm Quỳnh Anh chấp nhận bài hát này như một sản phẩm đặc quyền đã mang một ý nghĩa: nó là việc một người thuộc thế hệ này chấp nhận cái nhìn của một thế hệ khác, hòa trộn những cái nhìn. Và trong bài hát đó có gì? Đó là tâm trạng của một người lai muốn được quay trở lại Việt Nam để tìm lại cội nguồn, căn tính của mình. Toàn bộ bài hát được xây dựng trên một phủ định và một mơ hồ. Cô ta biết rằng Việt Nam không chỉ là chiến tranh, là những chiếc máy bay trực thăng trong phim của Coppola, Việt Nam còn là những “triều đại xưa cũ”, “những chiếc ghe tam bản gỗ”, “những phiên chợ nổi”, “những cánh đồng lúa”, “những ánh mắt” (hãy chú ý “những ánh mắt”) và rất nhiều thứ khác nữa mà cô ta còn chưa biết.
Theo tôi, bài hát này phản chiếu câu chuyện về Việt Nam, sự tò mò về Việt Nam trong tâm tư không ít người châu Âu. Đó là một hình dung được ấn định và kiến tạo bởi những tự sự. Đó là một đất nước nông nghiệp nghèo, là làng xã nông thôn, là cuộc chiến tranh tàn khốc (Coppola ấn định), là một xứ sở có những triều đại xưa cũ (thế nên họ đến Huế), là một đất nước từng bị thực dân hóa và đã Âu hóa (ký ức thuộc địa tràn ngập trong tiểu thuyết của M. Duras, trong phim chuyển thể từ sách của bà; trong phim Đông Dương và Điện Biên Phủ, trong những tác phẩm của Trần Anh Hùng), là những người phụ nữ bí ẩn kiểu “phương Đông” (một tàn dư của thế kỷ XIX và văn hóa bá quyền thực dân) hiển hiện qua những hình ảnh “hương xa” về những người phụ nữ tóc dài, có gương mặt Á Đông “kiểu Tàu” (hãy chú ý cách Trần Anh Hùng ấn định hình ảnh người phụ nữ qua Trần Nữ Yên Khê) và những mối tình vừa lãng mạn vừa gợi dục, vừa kín đáo và bí ẩn (kiểu Duras, kiểu Trần Anh Hùng) và đó là một thế giới đang chuyển đổi, đang vật lộn với những tăm tối (điều được Nguyễn Huy Thiệp kể lại). Cái đẹp của Việt Nam sẽ được ấn định là cái đẹp mang tính hoài cổ, một cái đẹp như được lưu lại từ đầu thế kỷ XX (thuyền buồm cánh dơi, Vịnh Hạ Long trong ảnh Katherine Karnow) và những tàn tích thuộc địa (phim Trần Anh Hùng). Không phải vô lý mà những nhà hàng mang những cái tên như Đông Dương, An Nam lại thu hút người nước ngoài đến như vậy. Và tất nhiên, đằng sau rừng biểu tượng, những cảnh quan đó là những câu chuyện, câu chuyện về một xứ sở châu Á, “kiểu Tàu” có quá khứ thâm trầm nhưng bảo thủ và nghèo nàn, với những người phụ nữ quyến rũ, được châu Âu khai hóa, pha trộn thành một thứ văn hóa êm đềm vừa xưa cũ vừa hiện đại, trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt và cuối cùng, tìm lại bản sắc của mình trong sự nghèo khổ thơ mộng. Ở đây, tôi sẽ không bàn về tính đúng sai của tự sự này trong tâm tưởng người nước ngoài về Việt Nam.
Những ví dụ nêu trên chỉ là một lát cắt sơ khởi để hình dung về tự sự quốc gia. Đó là những câu chuyện góp phần tạo nên những biểu tượng về một quốc gia. Ở đây, những khái niệm “tự sự”, câu chuyện, hay thậm chí rộng hơn “kể chuyện” được hình dung theo một nghĩa rộng như cách triết học hậu hiện đại hình dung về những đại tự sự. Đó không chỉ thuần túy là quá trình trần thuật lại một chuỗi biến cố, tái hiện những chân dung nhân vật, dựng lên những phong cảnh không gian và đồ vật mang ý nghĩa biểu tượng (mặc dù không phải là không có những yếu tố này), những yếu tố thuộc về một phương thức thể hiện của nghệ thuật, một thể loại văn học mà rộng hơn, đó là một phương thức mà một cá nhân/ cộng đồng tái tạo một chuỗi biến cố, dựng lên những quan hệ nhân quả, sắp xếp lại một hiện thực hỗn độn về trật tự và giá trị thành một chuỗi có ý nghĩa. Đó là cách thức kiến tạo nghĩa, cấp nghĩa cho một hiện thực. Nó là sự phản ảnh của ý thức hệ và hệ giá trị văn hóa ở bề sâu. Chính nó là con đường tạo nên những biểu tượng. Chính vì vậy, ngay cả những loại hình nghệ thuật phi thời gian như hội họa, nhiếp ảnh, đặc biệt là nhiếp ảnh, người ta cũng có thể nói đến tính tự sự, đến câu chuyện của một hình ảnh, dù là hình ảnh tĩnh, bất động trong thời gian. Vịnh Hạ Long hay một không gian phố cổ Hà Nội tự nó vốn không có ý nghĩa hoặc có thể mang nghĩa tùy theo chủ thể có quan hệ với những cảnh quan đó. Tuy vậy, chính những tiểu thuyết, bộ phim như Đông Dương hay Mùa hè chiều thẳng đứng cấp cho những cảnh vật đó một ý nghĩa, như là một biểu tượng của một không gian thiên nhiên (vịnh Hạ Long) hoặc không gian xã hội (phố cổ Hà Nội) thơ mộng, lãng mạn, mang phong cách thuộc địa, nơi che giấu những mối quan hệ vừa phức tạp vừa kín đáo, vừa giấu kín. Câu chuyện cũng cấp cho những không gian, cảnh vật đó một “kiểu đẹp” nhất định gắn với ý nghĩa. Nó cũng tương tự như một cây thập giá tự nó không có ý nghĩa, không thể trở thành biểu tượng nhưng chính câu chuyện về cuộc đời của Jesus, về sự hi sinh của Jesus trên thập giá cấp ý nghĩa cho vật thể đó và biến nó thành một biểu tượng.
Những ví dụ mà trong phần trên chúng tôi đã phân tích sơ bộ cho chúng ta một hình dung về con đường hình thành của những “tự sự quốc gia”. Thông qua những tài năng nghệ thuật, câu chuyện được sáng tạo nên như một sản phẩm sáng tạo cá nhân, nhưng một khi đã được lưu hành trong cộng đồng thì nó sẽ được đưa vào trong đời sống cộng đồng, được chiếm hữu, tiếp nhận. Song hành cùng với sự thành công về phổ biến của sản phẩm văn hóa là việc nó sẽ có tiềm năng trở thành một tự sự của cộng đồng, một hình thức huyền thoại và cấu thành nên những biểu tượng mang tính cộng đồng, được cộng đồng chấp nhận, tin theo và coi như một phần tri thức của mình. Như vậy, sáng tạo cá nhân, nếu được cộng đồng chấp nhận sẽ trở thành tri thức cộng đồng, góp phần kiến tạo nên cái nhìn cộng đồng, tri thức cộng đồng về một vấn đề nhất định, làm nên niềm tin và giá trị của cộng đồng. Trong những ví dụ nói trên, cách mà người phương Tây hình dung về Việt Nam, “chân trời chờ đợi” của họ về Việt Nam, một phần do chính những sản phẩm văn hóa mà họ được tiếp nhận kiến tạo nên.
Những phân tích bên trên cũng cho thấy một khía cạnh của tự sự quốc gia. Nó có thể được hình thành một cách tự phát. Nó là những dự án có tính cá nhân của nghệ sĩ. Trên một phương diện, điều đó cho thấy trong một thời gian rất dài, việc giới thiệu và quảng bá hình ảnh của Việt Nam ra nước ngoài hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của những thiết chế nhà nước. Tuy vậy, ở đây, cần thấy hai khía cạnh. Thứ nhất, không phải ở đâu và lúc nào sự hình thành những tự sự quốc gia cũng diễn ra một cách “tự phát” như vậy. Cơ chế thị trường trong đời sống văn hóa và nghệ thuật khiến việc nhà nước không thể chỉ đạo được sáng tác giống như trong cơ chế bao cấp xã hội chủ nghĩa. Dẫu vậy, ngay cả ở những quốc gia tư bản chủ nghĩa thì nhà nước vẫn có thể can thiệp vào tiến trình hình thành những tự sự quốc gia thông qua những cơ chế kiểm duyệt và tài trợ. Thứ hai, những ví dụ nói trên mới chỉ liên quan đến chiều kích hướng ngoại của tự sự quốc gia. Tự sự quốc gia được hình thành trước hết và quan trọng hơn hết là trong nội bộ của “cộng đồng tưởng tượng” - quốc gia dân tộc. Khởi phát từ những sáng kiến cá nhân (nếu suy đến cùng thì sáng tạo nghệ thuật cá nhân cũng chịu sự quy định của cộng đồng theo một cách nào đó), những câu chuyện và biểu tượng hình thành, được cộng đồng chấp nhận và chiếm hữu, kiến tạo nên tự sự chung của cộng đồng về quốc gia - dân tộc. Nói theo hình dung của Benedict Anderson thì chính bản thân những tự sự quốc gia đó góp phần kiến tạo nên cộng đồng tưởng tượng, hay chính xác hơn, góp phần làm nên tưởng tượng có tính cộng đồng và trên đó, dân tộc hình thành và cố kết. Cũng cần phải thấy sự sinh thành của những tự sự quốc gia này không chỉ giới hạn trong văn học, nghệ thuật. Tri thức cũng là một kênh kiến tạo nên những tự sự quốc gia khi mà lịch sử được giảng dạy trong nhà trường và là một kênh quan trọng hình thành nên con người xã hội, thành viên của cộng đồng tưởng tượng. Đặc biệt, tôn giáo và tín ngưỡng cũng là một kênh đặc biệt mạnh, song hành cùng với văn học, nghệ thuật kiến tạo nên những tự sự quốc gia với sự chắp cánh của đức tin. Ta sẽ thấy rất rõ điều này qua việc “thánh hóa”, “thiêng hóa” những nhân vật lịch sử, các danh nhân, anh hùng dân tộc.
Trên đây, chúng tôi đã thử phác họa những đường nét cơ bản hình dung về tự sự quốc gia, một trong những yếu tố căn cốt làm nên cộng đồng tưởng tượng quốc gia - dân tộc. Từ góc độ thực tiễn, có thể rút ra một số đề xuất:
Thứ nhất, đấu tranh phản bác những tư tưởng sai trái về bản chất có thể hình dung như việc phản bác lại một tự sự không được thừa nhận để bảo vệ một tự sự được thừa nhận. Nếu nhìn từ góc độ khoa học luận, một tự sự có thể bị nghi ngờ hoặc bị bác bỏ khi mà thực tế xuất hiện những hiện tượng, những sự kiện nằm ngoài tự sự, không được bao chứa trong tự sự. Khi trong lịch sử chính thống không có những sự kiện liên quan đến quần đảo Hoàng Sa, đến hải chiến Hoàng Sa thì chính những sự kiện này được những người đối lập với chính quyền dựng lên thành một phiên bản về hải chiến Hoàng Sa. Những phiên bản này chỉ mất dần giá trị khi mà những tư liệu chính thức được công bố, khi nhìn một cách toàn cảnh, hải chiến Hoàng Sa là một thất bại của quân đội Việt Nam Cộng hòa với những sai lầm chết người về tác chiến. Như vậy, vấn đề ở đây là từ phía những thiết chế chính thống, tự sự quốc gia phải luôn được điều chỉnh, dung chứa những dữ liệu mới, những sự kiện mới, kết nối được với hệ thống sẵn có.
Nhìn riêng trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, có thể thấy, trong những thập niên vừa qua, các thiết chế quản lý nhà nước ở Việt Nam đã chuyển từ mô hình bao cấp sang một mô hình thích ứng với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực tế của đời sống nghệ thuật đã hoàn toàn khác những năm 70, 80 của thế kỷ trước. Cơ chế bao cấp nghệ thuật không còn tồn tại ở quy mô phổ biến. Sáng tạo đã trở thành hành vi cá nhân và sự phổ biến tác phẩm chịu tác động của cơ chế thị trường. Vậy, từ phía thiết chế, vấn đề lớn nhất là phải nắm được những công cụ điều tiết của cơ chế thị trường để vận dụng trong quản lý văn hóa, nghệ thuật. Chúng ta không còn có thể tổ chức những đợt vận động sáng tác mà toàn bộ giới thực hành nghệ thuật chỉ sáng tác một đề tài như trong thời kỳ bao cấp. Thay vào đó là cơ chế đặt hàng và những công cụ khuyến khích phát triển, chẳng hạn như bằng công cụ thuế. Nhà nước hoàn toàn có thể tác động vào tiến trình hình thành những tự sự quốc gia, chủ động kiến tạo những tự sự đó và làm chủ được tiến trình đó mà trước hết là thông qua việc tài trợ để tạo nên kiến thức nền là tri thức hình thành từ khoa học xã hội. Một nền khoa học xã hội nhân văn lành mạnh là một nền khoa học tạo nên được những tri thức khả tín và có sức thuyết phục về chính quốc gia mình. Trên cơ sở đó, khi đã xác lập được những giá trị nền tảng, cốt lõi, những “nội dung” cơ bản của tự sự quốc gia, nhà nước có thể tài trợ cho những dự án nghệ thuật góp phần tạo nên những truyện kể độc đáo và có giá trị nghệ thuật cả trong lĩnh vực tinh hoa lẫn lĩnh vực đại chúng. Điều cần thiết ở đây là những giá trị cốt lõi bên cạnh một độ mở cần thiết để có thể dung chứa được những sáng tạo mới. Thực tế cho thấy không ít tác phẩm khi mới ra đời gặp rất nhiều khó khăn từ phía người tiếp nhận nhưng lại là những tác phẩm có giá trị lâu bền trước thời gian. Cũng cần có một cơ chế chủ động trong việc giới thiệu và quảng bá những sản phẩm văn hóa có giá trị đích thực của Việt Nam ra nước ngoài, khắc phục tình trạng “thả nổi” vào những tác nhân bên ngoài. Và trên hết, cần có một cơ chế bảo hộ và khuyến khích đội ngũ sáng tác. Dường như trong thời gian vừa qua, những tác giả mới xuất hiện, những nhà làm phim ngắn đầu tay, những người viết mới nhận được quá ít sự hỗ trợ từ phía nhà nước trong việc công bố sáng tác, tham dự những “sân chơi” có tính quốc tế và thậm chí còn bị ứng xử có phần khắt khe. Vậy mà những người sẽ kiến tạo nên tự sự quốc gia trong tương lai sẽ xuất hiện chính từ đội ngũ đó, từ những người làm nghệ thuật mà hôm nay mới công bố tác phẩm đầu tiên.
Từ góc nhìn sự hình thành quốc gia dân tộc thì sự kiến tạo nên những tự sự quốc gia là một tiến trình tất yếu, tự nhiên trong sự vận động của những cộng đồng tưởng tượng. Nhà nước có thể can thiệp vào nó hay không và bất luận ở trường hợp nào, nó cũng sẽ vận động theo những quy luật của mình.
Chú thích:
1 Về vấn đề này, xin xem: Vương Xuân Tình (2019), Cộng đồng kiến tạo. Tộc người với quốc gia - dân tộc trên thế giới và ở Việt Nam, NXB. Khoa học xã hội.
2 Đáng tiếc là hiện nay Sa Pa đang bị biến thành một khu du lịch nghỉ dưỡng, mờ nhạt dần các yếu tố văn hóa sắc tộc bản địa nên dần dần sẽ chuyển dịch từ điểm đến dành cho khách nước ngoài sang điểm đến dành cho du khách trong nước. Đây lại là một vấn đề thú vị khác về mặt nhân học: người bản xứ tìm kiếm những tự sự của riêng mình.
3 Ở lĩnh vực này, lại phải nhắc lại một thực tế là việc chọn dịch/ giới thiệu văn học, nghệ thuật Việt Nam ra nước ngoài gần như được “khoán trắng” cho các tác nhân nước ngoài. Ít nhất là trong nhiều thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI.
4 Ở đây, tạm thời chúng tôi chưa đặt vấn đề về những người châu Âu thuộc về những nước vốn thuộc khối xã hội chủ nghĩa (Nga, Czech, Balan, Slvakia…). Họ biết về Việt Nam qua những sản phẩm văn hóa nào? Hình dung của họ về Việt Nam ra sao? Đó chắc chắn là một chủ đề thú vị khi mà một mặt, họ có chung một “hiện tại” tiêu thụ những sản phẩm văn hóa đại chúng phương Tây (trong đó có cả những sản phẩm mà tôi vừa kể trên), nhưng mặt khác lại có một “quá khứ” quan hệ với Việt Nam rất khác những người từ phía Tây.
5 Về tiểu sử của ca sĩ, có thể tham khảo: https:// vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%B3nh_Anh_ (ca_s%C4%A9_sinh_1987). Về phần lời của ca khúc, có thể tham khảo bản tiếng Pháp: https://www. tapchinuocphap.com/nuoc-phap/hoc-tieng-phap/ hoc-tieng-phap-qua-bai-hat-bonjour-vietnam. html; bản tiếng Anh: https://lyricstranslate.com/ en/quynh-anh-hello-vietnam-lyrics.html.