Các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng đã thể hiện một tư duy chiến lược, bao quát sâu sắc các vấn đề trọng đại của đất nước trong kỷ nguyên số và toàn cầu hóa. Tuy nhiên, để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, cần đặc biệt chú trọng đến vai trò của kiến trúc thượng tầng văn hóa. Với tư cách là một nhà nghiên cứu, tôi xin đi sâu phân tích cơ chế tương tác giữa chính trị - kinh tế - văn hóa - văn học, nghệ thuật. Trong bối cảnh biến động khôn lường của thế giới hiện đại, việc định vị đúng đắn mối quan hệ này chính là bệ đỡ vững chắc nhất cho sự ổn định chính trị và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
1. Văn hóa trong quan hệ với kinh tế và chính trị – nhìn từ lịch sử
Thời hiện đại của dân tộc Việt Nam chính thức được khởi động từ thập niên mở đầu thế kỷ XX, qua các phong trào Duy Tân, Đông Du và Đông Kinh Nghĩa Thục, nhằm vào mục tiêu dân chủ và văn minh, với một quan niệm rất đúng đắn là có canh tân mới cứu được đất nước: “Tụng kinh độc lập ở chùa duy tân”.
Từ định hướng đó, một cuộc vận động văn hóa mới đã diễn ra rất sôi động và phải chịu một cuộc đàn áp lớn của chính quyền thực dân bởi chúng thừa hiểu đằng sau cuộc vận động mang tên văn hóa ấy là nhắm một mục tiêu chính trị nhằm giành độc lập cho dân tộc.
Lịch sử tiếp tục con đường đi của nó bằng hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trong 30 năm xa xứ, với “vũ khí của tiếng nói” – để mượn lại một ý tưởng của K. Marx – kể từ bản Yêu sách của nhân dân An Nam (1919), qua Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Kách mệnh như một chuẩn bị tích cực cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, đến Tuyên ngôn độc lập năm 1945 khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Một quá trình làm gắn nối hai yêu cầu cách mạng hóa và hiện đại hóa diễn ra trong ngót nửa thế kỷ – nửa thế kỷ với các mục tiêu chính trị được chuẩn bị bằng các hoạt động văn hóa để thức tỉnh dân tộc và đưa dân tộc thoát ra khỏi bóng đêm nô lệ.
Ở thời điểm trước và sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mối quan hệ văn hóa và kính tế - chính trị đã được đặt ra trong một tương quan gắn bó chặt chẽ và tác động với nhau, nhằm vào mục tiêu giành và giữ chủ quyền độc lập cho dân tộc. Trong Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 của Đảng Cộng sản Đông Dương, lần đầu tiên hoạt động văn hóa được đặt ra trong mối quan hệ với kinh tế và chính trị. Mục 3: Thái độ của Đảng Cộng sản Đông Dương đối với vấn đề văn hóa trong Phần I của Đề cương được ghi: “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa), ở đó người cộng sản phải hoạt động”. Chỉ 2 năm sau, ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chủ tịch đã nêu yêu cầu chống ba loại giặc là giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Kể từ 1945, hoạt động văn hóa dựa trên ba phương châm của Đề cương về văn hóa Việt Nam: dân tộc hóa, đại chúng hóa và khoa học hóa, đã góp phần tạo nên một gương mặt mới, một sức sống mới cho đời sống tinh thần của dân tộc, như được diễn tả một cách sinh động trong đoạn mở đầu Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam, năm 1948, của Trường Chinh: “Súng đang rền nổ ngoài mặt trận. Ngọn lúa xanh đã nhuốm cánh đồng. Tiếng sắt rít, tiếng động cơ các xưởng máy đang hòa nhịp với tiếng lọc cọc của các xe thồ và tiếng đòn gánh kẽo kẹt trên vai các đoàn tiếp tế, vận tải. Mấy cái đầu khoa học đang chụm lại trong các phòng thí nghiệm của quân giới hay bên bàn mổ ở các bệnh viện. Giọng đánh vần vang lên trong các xóm làng hẻo lánh. Đài phát thanh ngày ngày tung tin tức Việt Nam kháng chiến ra thế giới, sau các điệu nhạc Diệt phát xít, Tiến quân ca...”.
Trên ba mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa thì văn hóa có vị thế như thế nào, đó là vấn đề phải được xét trong quan hệ với hoàn cảnh – tức là với yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng đặt ra cho mỗi thời kỳ. Từ chống Pháp (1946-1954) qua chống Mĩ (1954-1975), trong bối cảnh đất nước bị cắt chia (1954-1975) và trong tình thế chiến tranh lạnh giữa hai phe mà Việt Nam là một thành viên trong phe xã hội chủ nghĩa (1950-1990), thì mối quan hệ giữa ba mặt trận buộc phải lấy chính trị làm trung tâm, như trong thư của Hồ Chủ tịch Gửi anh em văn hóa và trí thức Nam Bộ (25.5.1947): “Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn sự ủng hộ của các bạn. Chính phủ cùng toàn thể đồng bào Việt Nam kiên quyết chiến đấu, tranh quyền thống nhất và độc lập cho nước nhà để cho văn hóa cũng như chính trị và kinh tế, tín ngưỡng, đạo đức đều được phát triển tự do. Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để trả lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”. Ý tưởng này còn được Bác nhấn mạnh trong Thư gửi các họa sĩ nhân triển lãm hội họa 1951: “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận [...]. Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể ở ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”.
Có thể nói, suốt từ năm 1943 (khi Đảng công bố Đề cương về văn hoá Việt Nam) đến 1990 (khi phe xã hội chủ nghĩa tan vỡ), mối quan hệ giữa ba phương diện đó cần thiết hoặc nhất thiết phải lấy chính trị làm trung tâm, bởi sự hiện diện của các loại kẻ thù của dân tộc, của giai cấp, trong một thế giới chia làm hai phe, khiến cho vấn đề “Ai thắng ai?” luôn luôn được đặt ở hàng đầu và “tính chiến đấu” phải được quán triệt cho mọi loại hình hoạt động tư tưởng.
Như vậy, nhìn đại lược, từ thập niên 30-40 cho đến năm 1990, nếu đời sống chính trị là những chuyển động qua các mốc lịch sử Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, cả nước chống Mĩ và đại thắng mùa xuân năm 1975, công cuộc Đổi mới năm 1986 thì yêu cầu và mục tiêu của cách mạng nói chung là ổn định, ít có thay đổi lớn qua các mốc đó bởi tình thế cách mạng và chiến tranh kéo dài ngót 40 năm, kể từ đầu kháng chiến chống Pháp đến hết cuộc chiến tranh biên giới cuối thập niên 1980, và bởi mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội nằm trong bối cảnh thế giới chia hai phe và Việt Nam thuộc vào phe xã hội chủ nghĩa tồn tại cho đến năm 1990 – là năm Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa tan vỡ. Trong bối cảnh đó, việc xác định mối quan hệ văn hóa và kinh tế, chính trị buộc phải chọn tiêu chí chính trị làm đầu: 1) Kiên định trong mục tiêu chống đế quốc xâm lược; 2) Kiên định trong mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng việc thực hiện đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật và cách mạng tư tưởng - văn hoá. Trong ba cuộc cách mạng đó thì cách mạng tư tưởng - văn hoá có nhiệm vụ trung tâm là xây dựng con người mới với hai phẩm chất cơ bản là yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội... Phải đến cuối năm 1986, khi Đại hội VI của Đảng nêu hai phương châm: “Lấy dân làm gốc” và “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, thì tình hình chung mới có sự chuyển đổi. Và với thời Đổi mới, kể từ đầu 1987, thì định hướng của cách mạng trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá không còn theo mô hình và quán tính cũ. Tất nhiên là còn phải chờ thêm 3 năm cho đến năm 1990 (khi Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa tan vỡ) và chờ tiếp đến 1995 (khi Việt Nam thoát khỏi tình thế bị cấm vận, bao vây để hội nhập dần vào khu vực và thế giới) thì những thay đổi quan trọng mới có thể diễn ra để đưa đất nước vào một thời kỳ phát triển mới có tên là “đổi mới và hội nhập”.
2. Một phát triển bền vững và hài hòa của đất nước trong hội nhập: đó là sự gắn kết và hô ứng văn hóa dân tộc - xã hội hiện đại
2.1. Nói dân tộc là nói đến văn hóa. Nói hiện đại là nói kinh tế - xã hội. Như vậy vấn đề đầu tiên được quan tâm ở đây là mối quan hệ giữa văn hóa dân tộc và xã hội hiện đại.
Văn hóa, theo tôi hiểu, là một giá trị, để phân biệt với những gì phi văn hóa, phản văn hóa. “Văn hóa chính là sự kết hợp tất cả những gì tốt đẹp nhất có trong mỗi dân tộc” – nói như nhà bác học Nga (thời Liên Xô cũ) D. C. Likhachov. Phải là một giá trị mới được mang danh văn hóa. Giá trị văn hóa được xác định ở tính nhân văn của nó, ở sự kế tục, bồi đắp, tự làm giàu thêm và làm giàu cho nhau của nhiều khu vực, nhiều nền văn hóa, nhiều niên đại, nhiều thế kỷ. Những giá trị văn hóa lớn không bài trừ mà bổ sung cho nhau, chẳng hạn giữa Đông và Tây; là sự tiếp tục nhau chứ không phủ định hoặc thủ tiêu nhau, như cổ điển và hiện đại... Nhưng khi nói đến các giá trị chung, giá trị nhân loại của văn hóa lại không được quên mặt gắn bó với nó là các giá trị quốc gia và dân tộc. Có thể nói giá trị mang tính bền vững của văn hóa là giá trị dân tộc. Nói cách khác, văn hóa là cái giữ cho mỗi dân tộc có gương mặt riêng của mình. Trong nối kết các yếu tố làm nên đời sống văn hóa và gương mặt tinh thần của con người thì bản sắc dân tộc là cái làm nên nét riêng, ổn định để cho dân tộc này khác với dân tộc khác. Không chỉ giữa các dân tộc làm nên các quốc gia khác nhau mà còn là các dân tộc trong cùng một quốc gia. Chừng nào các làn điệu dân ca trên đất nước ta vẫn còn làm say lòng người thì 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam không thể có gương mặt chung của người Kinh. Ngay cả những đặc trưng về vùng miền, về địa lý cũng lưu giữ những nét riêng khiến cho người gốc Nghệ Tĩnh không thể lẫn với người xứ Quảng hoặc Nam Bộ. Như vậy, văn hóa dân tộc, đó là khái niệm thật sự hiện hữu, không dễ và không thể bác bỏ, vừa như một khái quát tiến trình lịch sử vừa như một định hướng bền vững ở tương lai. Nếu sự nhất thể hóa kinh tế đang là xu thế chung cho nhiều quốc gia, nhiều khu vực trong kỷ nguyên toàn cầu hóa hôm nay thì sự đa dạng hóa về văn hóa gắn với bản sắc riêng của mỗi dân tộc lại là mục tiêu chung của bất cứ cộng đồng nào trong đại gia đình nhân loại. Văn hóa dân tộc trường tồn cùng lịch sử, từ khi hình thành các dân tộc, nó không chịu tự đánh mất mình chừng nào mỗi dân tộc và các dân tộc cùng tồn tại.
2.2. Xã hội hiện đại đòi hỏi sự đa dạng hóa về văn hóa nhưng mặt khác lại chứa đựng một nguy cơ về sự đồng nhất, sự mờ nhòa, do các mục tiêu chung về kinh tế, do ưu thế của kỹ thuật, do quá trình thế giới hóa nhanh chóng, rộng khắp những thành tựu trên mọi lĩnh vực của đời sống vật chất và tinh thần. Bánh pizza và nước uống coca; quần bò và áo thun; nhạc rock và phim hoạt hình Walt Disney một thời trở thành nhu cầu của số đông, khiến nơi đâu cũng có. Các thành phẩm được ưa chuộng ở một vùng có thể truyền lan tràn ngập trên mọi kênh dẫn của thông tin quảng cáo và mọi con đường giao lưu. Nhưng chính do sự đe dọa của cái đồng nhất, cái thế giới, của những ưu thế về kinh tế, về kỹ thuật mà vấn đề văn hóa, văn hóa dân tộc và bản sắc dân tộc của văn hóa lại nổi lên như một phương tiện điều tiết và chế ngự.
Ở Việt Nam, vai trò văn hóa và yêu cầu gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là điều luôn luôn được nhắc nhở trong các chỉ dẫn của Hồ Chủ tịch, các văn kiện của Đảng và thật sự nổi lên thành vấn đề, thành một lực hút, một mối quan tâm đặc biệt khi đất nước đứng trước nhu cầu canh tân, phát triển, khi đất nước đang mở dần sự giao lưu và đón nhận những đối sánh đến từ khu vực và nhân loại. Bởi chính phải qua giao lưu và đối sánh ta mới có điều kiện nhìn rõ về mình để bớt chủ quan, tự mãn nhìn thiên hạ với con mắt xa lạ hoặc kỳ thị và cũng để tránh mặc cảm, xấu hổ, bi quan, tự ti, nghĩ mình là thấp bé.
Xã hội hiện đại gắn với sự phát triển của khoa học và công nghệ, gắn với sự không ngừng mở rộng mọi nhu cầu của con người, gắn với sự tăng nhanh sức sản xuất và tiêu thụ, gắn với sự nhất thể hóa kinh tế, tóm lại: gắn với sự tăng tốc mọi mặt của đời sống, bao gồm những triển vọng kỳ vĩ và cả những lo âu, hiểm họa. Sau một cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại và hai cuộc kháng chiến kéo dài trên ba mươi năm, để giành lại quyền độc lập tự chủ cho dân tộc, xu thế hiện đại gắn với sự nghiệp hiện đại hóa đang thâm nhập vào mọi mặt đời sống với tốc độ rất nhanh, cũng có thể nói với gia tốc lịch sử, càng về sau càng khẩn trương, càng gấp. Cùng với sự nhận thức đúng về xã hội hiện đại và sự đón nhận xu thế hiện đại hóa, lẽ dĩ nhiên sẽ đưa tới sự gia tăng ý nghĩa đóng góp của văn hóa. Trải nghiệm hậu quả của sự phong bế, lạc hậu hàng nghìn năm và căn bệnh chủ quan, duy ý chí nhiều chục năm, chúng ta càng nhận thức rõ thêm vị trí quan trọng của tri thức, của văn hóa; văn hóa ngày càng phát huy vai trò của một tác nhân điều chỉnh, thúc đẩy đời sống chính trị, kinh tế, xã hội trong thế giới hiện đại.
2.3. Bước vào xã hội hiện đại từ một nền canh tác nông nghiệp thô sơ, từ một cơ sở công nghiệp thấp kém, từ một nền kinh tế nhiều chục năm nằm trong cơ chế bao cấp vừa thoát ra khỏi chiến tranh, còn chịu nhiều hậu quả của chiến tranh, khởi điểm đó là rất thấp so với nhiều nước khác trong khu vực và thế giới. Nó cách xa và mâu thuẫn nhiều mặt với xã hội hiện đại là mục tiêu chúng ta đang hướng tới và đang vừa đi vừa dò tìm. Thế giới đang chuyển vào một giai đoạn mới với những kết hợp vừa hiện đại vừa hậu hiện đại, vừa công nghiệp vừa hậu công nghiệp, do vậy cái khó đối với chúng ta là làm sao tìm được con đường thuận nhất và nhanh nhất nhưng vẫn phù hợp với quy luật để một mặt không bị tụt hậu theo thời gian; mặt khác, không vội vã, đốt cháy giai đoạn. Mà muốn nắm quy luật thì phải hiểu rất kỹ thực trạng của mình, phải nghiên cứu kỹ bản thân mình từ chiều sâu lịch sử; đồng thời lại phải mở rộng các mối quan hệ, đối sánh với các dân tộc khác để có cách nhìn từ ngoài.
Giao lưu và hội nhập vào thế giới là xu thế chung của thời đại, là tất yếu lịch sử. Chính trị mở đường cho kinh tế và kinh tế thường đi trước, như Marx nói, như đang diễn ra trong thực tiễn hôm nay. Nhưng để tạo thế chủ động, không phạm sai lầm thì văn hóa lại có vai trò điều chỉnh và thúc đẩy.
Từ một xã hội thuộc địa chuyển sang chế độ dân chủ nhân dân sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nền văn hóa dân tộc ở nước ta đã bước đầu được phục hưng và có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Nhưng trong chiến tranh, và trong nhiều chục năm có sai lầm trong mô hình “bao cấp”, thái độ của chúng ta đối với toàn bộ thế giới hiện đại, ở ngoài “phe” xã hội chủ nghĩa, là thái độ e ngại và nghi kỵ. Từ Đổi mới, chúng ta đã có một cách nhìn khác – “muốn làm bạn với cả thế giới” – nhưng sự chuyển biến cũng còn nhiều khó khăn, muốn chuyển biến nhanh cũng phải trải một cuộc dò tìm để chọn lựa, để loại bỏ hoặc tiếp nhận, để thích nghi và có mặt là hòa nhập. Văn hóa dân tộc và bản sắc dân tộc của văn hóa là cái từng trường tồn theo lịch sử dân tộc, giúp cho dân tộc tồn tại trước bao cuộc xâm lăng, bao biến thiên xã hội. Cũng vẫn văn hóa dân tộc và bản sắc dân tộc của văn hóa sẽ là cẩm nang giúp ta tồn tại và phát triển trong những thử thách mới của tương lai.
2.4. Bản sắc dân tộc trong văn hóa Việt Nam là gì? Đó quả là vấn đề thật rộng lớn, bao trùm nhiều mặt sinh hoạt tinh thần và vật chất của con người, với những nét riêng, những đặc sắc riêng, không lẫn với bất cứ ai, thể hiện trong ca dao, dân ca, chèo, tuồng; trong ca nhạc, hội họa, kiến trúc; trong đền miếu, đình chùa; trong phong tục, tập quán, nếp sống, ứng xử... Trong xã hội hiện đại, mỗi dân tộc cần giữ cho được cái riêng của mình, vẫn và càng cần được là mình – đó là điều tưởng chừng đơn giản nhưng quả không dễ. Để giữ cho không cạn nguồn sữa, nguồn nuôi dưỡng ấy, để giữ cho không tắt ngọn lửa thiêng ấy, nó là cái gốc văn hóa, cái gốc dân tộc trong bản sắc văn hóa, rất cần một nhận thức thấu đáo và quan tâm đặc biệt của bộ máy chính quyền, thông qua các thể chế, chính sách và các nguồn bảo trợ. Đồng thời cũng rất cần một bầu không khí tinh thần lành mạnh, phấn chấn, được tạo nên bởi hoạt động của mọi tầng lớp, trong đó đóng vai trò quan trọng là hoạt động của giới trí thức văn hóa, văn học, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, khoa học nhân văn, khoa học xã hội.
Sáng tạo văn hóa, đó là kết quả tổng hợp hoạt động của mọi tầng lớp làm nên cộng đồng dân tộc trong hàng ngàn năm lịch sử. Một thời dài, khi đất nước đã thoát khỏi chế độ thuộc địa, theo quan điểm giai cấp, trên các tiêu chí phân định thành phần, ta có trật tự: công - nông - trí thức, với điều kiện trí thức phải được công nông hóa. Hẹp hơn, trong đội quân chủ lực là nông dân, ta có cố nông, bần nông, trung nông. Ngoài lớp người đó ra thì các thành phần khác đều là kẻ thù hoặc thuộc bộ phận trung gian nghiêng ngả, dao động, không đáng tin cậy. Xã hội thay đổi theo chiều hướng văn minh với vai trò hàng đầu của cách mạng khoa học - kỹ thuật làm thay đổi cấu trúc xã hội, làm rạn vỡ, thậm chí đảo ngược các trật tự cũ. Việc xây dựng một nền kinh tế trí thức buộc phải sắp xếp lại các thang bậc giá trị, khiến cho tầng lớp trí thức dần dần được coi trọng.
Về yêu cầu xây dựng đội ngũ trí thức trong tình hình mới, qua nhiều nhiệm kỳ gần đây, Đảng đã có các Nghị quyết và chúng ta đang tiếp tục bàn luận, kiến nghị các phương thức thực hiện. Nhưng đó chỉ là điều kiện khách quan. Cái khách quan này cố nhiên là rất quan trọng, vì trong tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng cũng đã có nhiều lúc sai lầm, kể từ khẩu hiệu: “Trí, phú, địa, hào. Đào tận gốc, trốc tận rễ”... đến cuộc Cải cách ruộng đất và Sửa sai, cùng nhiều vụ, việc khác, đưa đến sự rời rã của cộng đồng và sự trì trệ, khủng hoảng trong kinh tế, xã hội. Nhưng khi cái khách quan đã thuận hoặc tương đối thuận thì điều kiện quyết định phải là chủ quan. Bởi lao động khoa học và lao động nghệ thuật là lao động cá nhân. Mỗi cá nhân phải biết cách vượt ra khỏi các giới hạn, các ràng buộc bên ngoài và bên trong để có được tự do cho bản thân trong tìm kiếm, sáng tạo...
Với người trí thức, điều cần nhất là tự do tư tưởng, là tự do trong sáng tạo các ý tưởng, nhưng phải là những ý tưởng mới mẻ, không chỉ là khác người mà còn là hơn người. Đó là điều cực khó, nhưng nếu mọi thứ đều dễ thì đâu còn là tư cách người trí thức!
2.5. Ở thời điểm hiện nay, thời điểm loài người bước vào nền văn minh thứ ba, văn minh tin học hoặc còn được gọi là cuộc toàn cầu hóa lần thứ ba, vấn đề văn hóa dân tộc và xã hội hiện đại, ở đất nước ta, đã có thể (hoặc mới có thể) được đặt ra trong một tương quan tích cực – song hành và thúc đẩy nhau. Nếu văn hóa dân tộc là cái ta đã có, đang tìm cách giữ gìn hoặc khôi phục (do bụi thời gian phủ lấp; do binh đao, loạn lạc, chiến tranh; do sự vô tâm hoặc phá phách của con người) và phát triển (trong quan hệ với kế thừa) thì xã hội hiện đại lại là cái mới mà ta đang phấn đấu để nắm được, hiểu được và tiếp nhận. Ngay cả trên khái niệm, những khái niệm gắn với “hiện đại”, mang danh “hiện đại”, sau ba mươi năm chiến tranh, sau một quá trình xây dựng đất nước theo mô hình quản lý tập trung bao cấp, đưa tới sự kiêng sợ tất cả những gì ở thế đối lập, thuộc ngoài “phe” vốn gắn với định danh “hiện đại” (như “chủ nghĩa hiện đại” và “hậu hiện đại” trong văn học, nghệ thuật; “chủ nghĩa tư bản hiện đại” trong kinh tế - chính trị...) thì từ thập niên cuối thế kỷ trước cho đến nay, dường như mọi vấn đề đang cần được đặt lại để thấy bên cạnh các vấn đề của quốc gia, của khu vực còn tồn tại những vấn đề chung của loài người; để thấy dân tộc là riêng nhưng vẫn không cô lập mà là một bộ phận của nhân loại.
Như vậy, văn hóa và văn hóa dân tộc hoặc bản sắc dân tộc của văn hóa trong nghĩa đầy đủ của nó đang là vấn đề nổi lên, trở thành trọng tâm hoặc trung tâm trong khung cảnh đổi mới và hội nhập ở Việt Nam chính vì nhu cầu bức xúc của sự phát triển đất nước theo định hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Gắn với bản sắc dân tộc và hướng tới sự đa dạng để có những đặc sắc riêng, không giống, không lẫn với bất cứ ai, dẫu là Tây hoặc Đông, là anh em xa hoặc láng giềng gần, văn hóa là cầu nối đưa dân tộc vào nhân loại nhưng không làm cho dân tộc bị che khuất, mờ nhòa. Văn hóa dân tộc trong xã hội hiện đại: một, hướng về cái riêng, cái độc đáo và sự đa dạng; một, hướng về những mục tiêu chung, về sự nhất thể, tưởng như trái ngược nhau nhưng chính lại là biểu hiện biện chứng của sự phát triển thuận theo quy luật tiến lên của đời sống con người, của xã hội loài người.
3. Vấn đề hôm nay: nghịch lý và hướng giải quyết
Trở lại câu chuyện thực trạng văn hóa, dường như có một nghịch lý đang diễn ra trong đời sống hôm nay. Khi trên lý thuyết, vai trò văn hóa đang được nhấn mạnh, được suy tôn, được đặt thành mục tiêu hàng đầu hoặc số một cho mọi mặt hoạt động của con người; thì trong thực tế, nó lại gần như bị xa lánh, bị buông lỏng, bị coi nhẹ, khiến cho đâu đâu cũng cất tiếng kêu báo động vì sự xuống cấp trầm trọng của nó, khiến cho văn hóa trở thành yêu cầu (hoặc khát vọng) cửa miệng cho tất cả mọi lĩnh vực trong đời sống, như: văn hóa công sở, văn hóa gia đình, văn hóa thầy trò, văn hóa lễ hội - đền chùa, văn hóa tâm linh, văn hóa chợ búa, văn hóa giao thông, văn hóa kinh doanh, văn hóa ẩm thực, văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử, văn hóa nhậm chức, văn hóa từ chức, văn hóa nghị trường... Có nghĩa là nơi đâu trên khắp mọi mặt đời sống hôm nay đều rất cần đến văn hóa! Rất cần bởi vì nó quá thiếu!
Tính từ Đại hội Đảng lần thứ VI – cuối năm 1986, hoặc 1990 – khi Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa tan vỡ, hoặc 1995 – khi Việt Nam thoát khỏi tình thế cấm vận để bắt đầu đi vào thời kỳ hội nhập khu vực cho đến nay, Việt Nam đã có trên dưới 50 năm sống trong hòa bình với nỗ lực cao nhất là 40 năm phát triển kinh tế nhằm vào mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”... Chuyển sang thập niên thứ ba của thế kỷ mới, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, chúng ta đang phải trả giá đắt cho những sai lầm – được đo bằng những thảm họa ghê gớm về môi trường; những thất thoát “khủng” do lãng phí và tham nhũng; rơi vào bẫy “việc nhẹ, lương cao”; nỗi đau bị cướp đất hoặc khát đất của nhiều triệu nông dân; sự thất nghiệp của hàng triệu người lao động; tâm trạng bất an của giới trí thức... Bây giờ, sau những phát triển nóng và tính toán sai trong các hoạt động kinh tế, và kèm theo đó là những suy thoái nghiêm trọng trên các lĩnh vực văn hóa, luân lý, đạo đức, giáo dục..., chúng ta đang cấp bách trở lại với yêu cầu cải cách thể chế chính trị nhằm thực thi và bảo đảm các yêu cầu về dân chủ trong toàn bộ sinh hoạt xã hội. Có nghĩa là chúng ta đang trở lại với nhận thức đúng đắn của Hồ Chí Minh: “Văn hóa, nghệ thuật không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”. Chính trị ở đây là chính trị có được lòng dân hay không? Có thuận chiều với quy luật phát triển và hội nhập hay không? Có thật sự dân chủ hay không? Nói dân chủ có nghĩa là càng thấy sự đúng đắn trong quan niệm “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”. Dân chủ và chỉ có dân chủ mới có (hoặc mới có thể có) dân giàu, nước mạnh; có công bằng, văn minh và tiến bộ xã hội. Dân chủ để gắn kết mọi nguồn lực và phát huy toàn bộ năng lượng vật chất và tinh thần của xã hội, trong đó nòng cốt và đầu tàu phải là ở hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, trước hết là bộ máy công quyền phải thật sự trong sạch và vững mạnh; ở sự điều hành của các giới lãnh đạo, từ thấp lên cao, phải bảo đảm quy trình “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Một phát triển bền vững, hài hòa cho mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội phải được xây dựng trên một nền móng chính trị thực sự dân chủ, thực sự được lòng dân, do dân và vì dân.