1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn học, nghệ thuật
Đẩy mạnh công tác quán triệt, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý về bản chất, đặc trưng, vị trí, vai trò của văn học, nghệ thuật đối với sự phát triển nhanh và bền vững đất nước như Nghị quyết 23 đã khẳng định: “Văn học nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng và đặc biệt tinh tế của văn hóa, là nhu cầu thiết yếu thể hiện khát vọng chân, thiện, mĩ của con người, là một trong những động lực to lớn trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc”. Chú trọng tính đặc thù của văn học, nghệ thuật để trong lãnh đạo, chỉ đạo vừa bảo đảm để văn hóa, văn học, nghệ thuật phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng vừa bảo đảm tự do sáng tạo của cá nhân trên cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích đúng đắn.
Phát huy hơn nữa vai trò của văn học, nghệ thuật trên mặt trận tư tưởng; nâng cao vai trò của văn nghệ sĩ trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Khắc phục tình trạng coi văn học, nghệ thuật chỉ đơn thuần là phương tiện của công tác tuyên truyền mà xem nhẹ chức năng đáp ứng nhu cầu hiểu biết, thẩm mĩ và giải trí của quần chúng nhân dân. Tôn trọng đối thoại, phản biện, ghi nhận, tôn vinh những cống hiến, đóng góp quan trọng của đội ngũ văn nghệ sĩ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tập trung chỉ đạo, định hướng việc thể chế hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng về văn học, nghệ thuật thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là các chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ, những người làm công tác văn học, nghệ thuật; các chính sách đầu tư về nguồn lực cho phát triển văn học, nghệ thuật. Quan tâm thực hiện công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người làm công tác văn hóa, văn học, nghệ thuật. Định kỳ giám sát việc thể chế hóa chủ trương của Đảng đối với cơ quan quản lý nhà nước về phát triển văn học, nghệ thuật và việc bố trí cán bộ quản lý, tham mưu trong lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật, có phẩm chất, bản lĩnh, năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.
2. Nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước về xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật
Cụ thể hóa chủ trương, quan điểm của Đảng thành chương trình, đề án cụ thể, sát thực tiễn. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các văn bản quản lý về hoạt động văn học, nghệ thuật phù hợp với yêu cầu của tình hình thực tiễn. Sử dụng hiệu quả, công khai, minh bạch nguồn lực đầu tư của Nhà nước trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh chủ trương xã hội hóa, huy động các nguồn lực của xã hội tham gia xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật. Tập trung mọi nguồn lực để xây dựng và phát triển nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí cho các hoạt động văn học, nghệ thuật. Điều chỉnh chính sách đầu tư, hỗ trợ sáng tạo cho văn học, nghệ thuật theo hướng phù hợp với thực tiễn. Dựa trên tính chất đặc thù của văn học, nghệ thuật xây dựng đội ngũ cán bộ có tâm, có tài. Chú trọng chính sách khen thưởng, động viên văn nghệ sĩ, nhất là chính sách đào tạo, thu hút, đãi ngộ đối với các tài năng văn học, nghệ thuật của đất nước; quan tâm việc liên kết đào tạo, cử các tài năng văn học, nghệ thuật đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài. Có giải pháp hỗ trợ cho các đối tượng hoạt động văn học, nghệ thuật không hưởng lương, đặc biệt đối với việc truyền dạy, khôi phục và bảo tồn nghệ thuật truyền thống dân tộc. Thực hiện cơ chế đặt hàng sáng tác, phổ biến tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật cao.
Đẩy mạnh việc triển khai chủ trương của Đảng về phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa, nhằm phát huy ưu thế đặc biệt của các loại hình văn học, nghệ thuật, khai thác những tiềm năng, giá trị đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam, đóng góp tích cực và có tỷ trọng ngày càng tăng đối với kinh tế. Ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong sáng tạo, sản xuất, phổ biến, lưu giữ các sản phẩm văn học, nghệ thuật và từng bước đổi mới, nâng cao chất lượng dịch vụ văn hóa.
Phát huy vai trò, tác dụng của các thiết chế văn hóa sẵn có; nghiên cứu, đánh giá tác động của quá trình sáp nhập các đoàn nghệ thuật có chức năng, nhiệm vụ, loại hình tương đồng thành một đơn vị nghệ thuật, tránh tình trạng “nghiệp dư hóa” nghệ thuật chuyên nghiệp; đồng thời đẩy mạnh các phong trào văn học, nghệ thuật quần chúng; phát triển các câu lạc bộ văn nghệ dân gian, các đội văn nghệ tuyên truyền trong đồng bào các dân tộc thiểu số. Đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo các công trình văn hóa, nghệ thuật, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn học, nghệ thuật của nhân dân. Xây dựng các chương trình giáo dục thẩm mĩ cho thanh, thiếu niên, đặc biệt là học sinh, sinh viên trong các trường học, nhằm định hướng, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mĩ của học sinh, sinh viên.
Chú trọng quản lý các hoạt động nghệ thuật; thẩm định chặt chẽ các tác phẩm, công trình và chương trình văn học, nghệ thuật, nhất là các chương trình phát sóng trên các phương tiện thông tin đại chúng và các trang mạng xã hội. Triển khai có hiệu quả các quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan. Xây dựng các chế tài đủ mạnh để điều chỉnh hành vi ứng xử của người hoạt động trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm trong dịch vụ văn hóa, gắn với trách nhiệm cá nhân và tổ chức khi để xảy ra sai phạm. Xử lý nghiêm minh các biểu hiện sai trái, đi ngược lại với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thuần phong mĩ tục của dân tộc Việt Nam.
3. Phát huy vai trò của Liên hiệp và các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam
Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, các hội văn học, nghệ thuật chuyên ngành trung ương và địa phương tiếp tục phát huy vai trò là mái nhà chung, nơi quy tụ văn nghệ sĩ cả nước, thực sự là nơi đại diện cho ý chí, nguyện vọng và là cầu nối giữa đội ngũ văn nghệ sĩ với Đảng và Nhà nước. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất chính trị cho văn nghệ sĩ, xây dựng lòng tin, ý thức trách nhiệm phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của toàn dân tộc. Chú trọng công tác định hướng tư tưởng chính trị cho văn nghệ sĩ; kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng, chính trị của đội ngũ văn nghệ sĩ, nhất là văn nghệ sĩ trẻ.
Trên cơ sở quán triệt sâu sắc, đầy đủ quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, ban chấp hành các hội cần thường xuyên định hướng và tạo điều kiện cho văn nghệ sĩ đi thực tế, cọ xát với thực tiễn phong phú của sự nghiệp đổi mới. Tạo môi trường dân chủ, tự do trong sáng tạo; đổi mới tư duy nghệ thuật, mở rộng đề tài, chủ đề, biên độ sáng tạo, chấp nhận mọi phương pháp sáng tác, lấy chất lượng và hiệu quả làm thước đo; đặc biệt quan tâm tính chuyên nghiệp để có nhiều tác phẩm tầm cỡ, có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Nâng cao chất lượng các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm văn hóa, văn học, nghệ thuật dân gian. Khuyến khích những sáng tạo, tìm đường cho các giá trị của văn học, nghệ thuật truyền thống; quan tâm hơn nữa đến sáng tác các tác phẩm văn học, nghệ thuật dành cho thiếu nhi; văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số. Coi trọng việc đánh giá, thẩm định, kịp thời có những giải thưởng thường xuyên và đột xuất, xứng đáng đối với văn nghệ sĩ có tác phẩm đạt giá trị cao.
Đổi mới phương thức hoạt động của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, các hội văn học, nghệ thuật chuyên ngành Trung ương và địa phương nhằm tập hợp, tạo điều kiện để văn nghệ sĩ hoạt động tích cực, hiệu quả. Nghiên cứu, hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới; khuyến khích tìm tòi các phương thức hoạt động gắn với thực tiễn của đời sống xã hội. Chú trọng việc xây dựng và phát triển hội viên một cách toàn diện cả về số lượng và chất lượng, có nội lực sáng tạo phong phú, đa dạng, có thế hệ nối tiếp nhau vững chắc.
4. Thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của lĩnh vực lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật
Rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận văn học, nghệ thuật, đề cao vai trò nền tảng, chủ đạo của lý luận văn nghệ và mĩ học Mác-xít; đồng thời tiếp thu những tinh hoa của các trường phái lý luận trên thế giới, vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiễn của nền văn học, nghệ thuật Việt Nam. Nghiên cứu, xây dựng kế hoạch đào tạo các chuyên gia ngành lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật; nâng cao ý thức, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ lý luận, phê bình, tránh tình trạng chỉ chú trọng vào nghiên cứu, ngại việc phê bình; khắc phục xu hướng đề cao quá mức chức năng giải trí, coi nhẹ chức năng giáo dục của văn học, nghệ thuật, góp phần định hướng, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho công chúng.
Tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để phát huy mọi năng lực, năng khiếu, tư chất và sở trường của các nhà lý luận, phê bình. Đẩy mạnh các hoạt động tôn vinh, khen thưởng đối với các tác giả, tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật có giá trị cao, có tác dụng định hướng, nâng cao thẩm mĩ nghệ thuật cho các tầng lớp nhân dân. Xây dựng cơ chế để thúc đẩy hợp tác quốc tế trên lĩnh vực lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật. Có chiến lược và kế hoạch cụ thể để định hướng công tác nghiên cứu, dịch thuật, tiếp thu, vận dụng đúng đắn lý thuyết văn nghệ nước ngoài vào Việt Nam; kịp thời đề xuất giải pháp nhằm tiếp tục điều chỉnh, bổ sung, xây dựng hệ thống lý luận văn nghệ Việt Nam trong thời kỳ mới.
Phát triển các diễn đàn học thuật, nâng cao năng lực dự báo, cung cấp các luận cứ khoa học để tư vấn giúp các cơ quan chức năng kịp thời định hướng, làm tốt công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật.
5. Mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về văn học, nghệ thuật
Tiếp tục mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về văn học, nghệ thuật; thực hiện đa dạng các hình thức văn hóa đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn học, nghệ thuật đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm đời sống văn học, nghệ thuật nước nhà.
Tăng cường tính chủ động trong việc phát triển văn học, nghệ thuật nước nhà, sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị, các bộ, ngành, đơn vị hoạt động trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sĩ. Xây dựng kế hoạch giao lưu, trao đổi, học tập kinh nghiệm, nghiên cứu lý luận và sáng tạo của văn nghệ sĩ ở trong nước và quốc tế, nhằm bồi đắp tri thức kinh nghiệm nghề nghiệp, tạo chất “xúc tác” cho nghiên cứu và sáng tạo văn học, nghệ thuật phát triển. Tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài, các tổ chức quốc tế đầu tư trí tuệ, nguồn lực, tham gia phát triển văn học, nghệ thuật Việt Nam, trở thành cầu nối quảng bá hình ảnh đất nước, văn hóa, con người Việt Nam đến với bạn bè quốc tế.
Phát huy tích cực hơn nữa vai trò của hệ thống thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, quảng bá các giá trị văn hóa, văn học, nghệ thuật của Việt Nam. Các cơ quan chủ quản báo chí - xuất bản tăng cường công tác quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ biên tập; phối hợp chặt chẽ với các hội văn học, nghệ thuật chuyên ngành Trung ương và địa phương lựa chọn những tác phẩm có giá trị cao để tập trung tuyên truyền, quảng bá thông qua các chương trình của các đài phát thanh, truyền hình; các chuyên trang, chuyên mục văn nghệ trên các loại hình báo chí, truyền thông. Chú trọng lựa chọn xuất bản các tuyển tập văn học, nghệ thuật có nội dung tốt để kịp thời động viên, khuyến khích văn nghệ sĩ sáng tạo nhiều tác phẩm có giá trị cao và quảng bá rộng. Thực hiện xã hội hóa, mở rộng liên kết để huy động nguồn lực xã hội trong sản xuất, phổ biến các chương trình, chuyên mục về văn học, nghệ thuật trên báo chí một cách có chọn lọc.
Tăng cường việc sử dụng công nghệ thông tin, phát huy ưu thế của các nền tảng mạng xã hội trong công tác tuyên truyền, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao; chú ý lựa chọn các tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật có tác dụng định hướng, nâng cao thẩm mĩ cho các tầng lớp nhân dân. Đẩy mạnh công tác quản lý các loại thông tin trên không gian mạng; đấu tranh, lên án các quan điểm sai trái, những hoạt động, hành vi phản văn hóa, phi thẩm mĩ trong văn học, nghệ thuật; kịp thời định hướng tư tưởng và thẩm mĩ cho công chúng nghệ thuật, đặc biệt là giới trẻ, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh.
Để hiện thực hóa các giải pháp trên, chúng ta cần:
- Ban hành Nghị quyết mới: Đề nghị Bộ Chính trị xem xét ban hành một Nghị quyết mới về phát triển văn học nghệ thuật trong kỷ nguyên số, thay thế hoặc bổ sung cho Nghị quyết 23, để phù hợp với bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0.
- Hoàn thiện pháp luật: Rà soát, sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Điện ảnh, Luật Di sản văn hóa... tạo hành lang pháp lý cho phát triển công nghiệp văn hóa và bảo vệ bản quyền trên không gian mạng.
- Xây dựng và triển khai một số chính sách đặc thù:
+ Xây dựng chế độ nhuận bút, đãi ngộ đặc biệt cho văn nghệ sĩ, nghệ nhân dân gian, và các loại hình nghệ thuật truyền thống kén khán giả.
+ Chiến lược nhân tài: Xây dựng Đề án quốc gia về đào tạo tài năng văn học nghệ thuật, tái khởi động chương trình cử sinh viên đi đào tạo tại các cường quốc văn hóa (Nga, Mỹ, Châu Âu, Hàn Quốc...).
+ Củng cố lý luận phê bình: Có chính sách đặt hàng, hỗ trợ đặc biệt cho đội ngũ lý luận phê bình; thành lập các khoa, viện nghiên cứu chuyên sâu để khắc phục tình trạng "trắng" nhà phê bình ở một số lĩnh vực.
+ Hạ tầng số: Đầu tư xây dựng các nền tảng số quốc gia (National Digital Platforms) để lưu trữ, phân phối và quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật Việt Nam ra thế giới.
+ Khuyến khích khởi nghiệp: Hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, sáng tạo nội dung số.
+ Quản lý không gian mạng: Tăng cường công cụ kỹ thuật (AI, lọc tin) và chế tài pháp lý để xử lý các vi phạm bản quyền và nội dung độc hại trên internet.
+ Số hóa di sản: Đẩy mạnh số hóa 3D, lưu trữ dữ liệu lớn về văn hóa các dân tộc thiểu số để bảo tồn lâu dài.
+ Liên kết vùng: Xây dựng cơ chế liên kết phát triển văn học nghệ thuật giữa các địa phương trong cùng khu vực (như ĐBSCL, Tây Bắc) để tạo sức mạnh tổng hợp, khắc phục tình trạng manh mún.
Để nền VHNT Việt Nam phát triển toàn diện, thấm nhuần tinh thần nhân văn và dân chủ, cần ưu tiên xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ cả về số lượng và chất lượng. Việc nghiên cứu, tiếp thu lý luận nước ngoài cần có định hướng rõ ràng trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng. Đồng thời, cần khắc phục triệt để các hạn chế trong công tác đào tạo, đãi ngộ để khơi dậy khát vọng sáng tạo, giúp VHNT thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc cho sự phát triển của quốc gia.