ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG CÁC HỘI VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT GẮN VỚI PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, VĂN NGHỆ QUẦN CHÚNG

Bài viết khái quát kết quả 15 năm thực hiện Nghị quyết 23 trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, tập trung vào việc củng cố, đổi mới hoạt động của Liên hiệp và các hội văn học, nghệ thuật từ Trung ương đến địa phương. Các tổ chức hội ngày càng phát huy vai trò tập hợp, phản biện xã hội, đẩy mạnh xã hội hóa và nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn. Đồng thời, phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng được quan tâm phát triển và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân trong giai đoạn mới.

   1. Công tác củng cố, đổi mới hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật

   Sau 15 năm triển khai thực hiện, Nghị quyết 23 đã thực sự đi vào cuộc sống. Các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể quan tâm xây dựng, củng cố tổ chức Liên hiệp và các hội ngày càng vững mạnh; chất lượng hoạt động ngày một nâng cao. Đội ngũ văn nghệ sĩ trong cả nước phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng; luôn gắn bó máu thịt với Tổ quốc, với nhân dân, đoàn kết, nhất trí về chính trị, tư tưởng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, thiết tha với văn hoá dân tộc, khao khát đổi mới để cống hiến có hiệu quả; thực sự là đội quân nòng cốt để xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

   Trong 15 năm qua, cấp ủy, chính quyền các tỉnh, thành ủy, bộ, ngành luôn chăm lo bồi dưỡng cho hoạt động của đội ngũ văn nghệ sĩ, củng cố và phát triển Hội văn học, nghệ thuật ngày càng vững mạnh. Sự phù hợp của mô hình tổ chức hiện tại của Liên hiệp các Hội Văn học, nghệ thuật Việt Nam, các hội chuyên nghành trung ương, địa phương đã giúp các đồng chí lãnh đạo chủ động phát huy tiềm năng của mình, năng động trong công việc, luôn bám sát các chủ trương, đường lối, nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước về văn học, nghệ thuật để xây dựng và triển khai có hiệu quả Quy chế hoạt động, Quy chế phối hợp hoạt động nhằm lãnh đạo, chỉ đạo tốt việc thực hiện nhiệm vụ được giao1

   Liên hiệp các Hội Văn học, nghệ thuật Việt Nam, các hội văn học, nghệ thuật chuyên ngành Trung ương và địa phương luôn quan tâm củng cố, xây dựng tổ chức hội, chi hội vững mạnh; chủ động tham mưu, đề xuất các quan điểm, cơ chế, chính sách nhằm phát triển mạnh mẽ văn học nghệ thuật nước nhà2. Qua đó, giúp cho các tổ chức Hội thực hiện tốt chức năng tham gia quản lý, chức năng giám sát và phản biện xã hội3 về những vấn đề liên quan đến lĩnh vực văn học, nghệ thuật, góp phần thực hiện dân chủ, phòng, chống tiêu cực và thực hiện nhiệm vụ chính trị của Hội. Bên cạnh đó, các hội đẩy mạnh việc thực hiện chính sách xã hội hóa4, tích cực, chủ động trong việc huy động có hiệu quả các nguồn lực từ các địa phương, đơn vị, doanh nghiệp để tổ chức các hoạt động, chương trình, sự kiện văn học nghệ thuật (đặt hàng tác phẩm, triển lãm, xuất bản, công diễn, tặng giải thưởng...). Đặc biệt ưu tiên đầu tư và khuyến khích xã hội hóa việc sưu tầm, bảo quản, khôi phục, phổ biến và phát huy các giá trị văn hóa cổ truyền, các loại hình sinh hoạt văn nghệ dân gian. Đồng thời, quản lý chặt chẽ các hoạt động văn học nghệ thuật, nhất là việc công bố, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật, loại trừ khuynh hướng thương mại hóa, xa rời đường lối văn nghệ của Đảng. 

   Các hội văn học, nghệ thuật quan tâm làm tốt nhiệm vụ tập hợp, đoàn kết đội ngũ những người làm công tác văn hóa, văn nghệ để tổ chức Hội thực sự đại diện cho ý chí, nguyện vọng của văn nghệ sĩ, là cầu nối giữa văn nghệ sĩ với Đảng, Nhà nước; khuyến khích, tạo điều kiện trong công tác kết nạp hội viên mới5, trong đó quan tâm kết nạp hội viên trẻ, hội viên là người dân tộc thiểu số. Công tác phát triển hội viên cũng được đổi mới, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại6, vừa củng cố đội ngũ, vừa nuôi dưỡng và tạo điều kiện phát triển tài năng văn học, nghệ thuật ở các hội.

   Liên hiệp và các hội văn học, nghệ thuật luôn bám sát Điều lệ đã được phê duyệt, nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để tổ chức triển khai thực hiện; không ngừng nâng cao chất lượng các hoạt động thường niên7 nhằm xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ trở thành những chiến sĩ xung kích trên mặt trận tư tưởng - văn hoá. Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Ban cán sự đảng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Hội nghị giao ban đánh giá tình hình văn học, nghệ thuật và hoạt động của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, các hội văn học, nghệ thuật chuyên ngành Trung ương định kỳ hằng quý, 6 tháng, 01 năm. Hội nghị giao ban không chỉ nhằm đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế, yếu kém cần khắc phục mà còn là dịp lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng, khó khăn, vướng mắc, đề xuất, kiến nghị từ các hội để cùng nhau tìm biện pháp tháo gỡ; đồng thời cũng chỉ ra những nhiệm vụ cần tập trung triển khai thực hiện trong thời gian tiếp theo. Với tinh thần đổi mới để nâng cao chất lượng hoạt động, năm 2023, Ban Tuyên giáo Trung ương đã tổ chức làm việc với Liên hiệp và các hội văn học, nghệ thuật chuyên ngành Trung ương về Chương trình công tác năm. Sau cuộc làm việc, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành Thông báo kết luận để Liên hiệp và các hội bổ sung, điều chỉnh nội dung, nhiệm vụ cho phù hợp, đảm bảo thực hiện tốt những hoạt động thường xuyên và nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm. Nhờ việc tổ chức Hội nghị giao ban định kỳ và các cuộc làm việc về Chương trình công tác năm, hoạt động của Liên hiệp và các hội văn học, nghệ thuật ngày càng khoa học, bài bản hơn, nâng cao về chất lượng và đổi mới về nội dung, hình thức hoạt động.

   Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết 23, hoạt động của Liên hiệp các Hội Văn học, nghệ thuật Việt Nam, các hội văn học, nghệ thuật trung ương và địa phương đã có nhiều sự chuyển biến tích cực. Đội ngũ lãnh đạo và văn nghệ sĩ chủ động, năng động hơn trong việc lập kế hoạch, phối kết hợp với các đơn vị liên quan để triển khai kế hoạch. Hoạt động của các đơn vị hội trở nên sôi động, thiết thực và hiệu quả hơn. Nhờ đó, phát huy được sức mạnh đoàn kết, vai trò trách nhiệm, ý thức công dân của người nghệ sĩ - chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, văn học, nghệ thuật.

   2. Phát triển văn hóa, văn nghệ quần chúng gắn với xây dựng thiết chế văn hóa và bảo tồn bản sắc dân tộc

   Bên cạnh các hoạt động chuyên nghiệp, cấp ủy, chính quyền các cấp, cơ quan, đơn vị quan tâm công tác xây dựng và phát triển hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng. Các hoạt động ngày càng phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức phục vụ hiệu quả nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước và các địa phương, đơn vị, góp phần bảo tồn, quảng bá, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, từng bước đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ về văn hoá, tinh thần của các tầng lớp nhân dân. Các cuộc liên hoan nghệ thuật không chuyên được tổ chức ở các tỉnh, thành phố, cơ quan, đơn vị, gắn với việc tuyên truyền nhân các ngày lễ, các sự kiện chính trị. Các đội văn nghệ quần chúng được thường xuyên tạo điều kiện thuận lợi, từ việc hỗ trợ trang thiết bị, tới việc đầu tư nghiên cứu, dàn dựng các tác phẩm nghệ thuật.

   Các công trình văn hóa có ý nghĩa rất quan trọng, bởi đó là địa điểm để tổ chức hoạt động và sinh hoạt văn hóa của mọi tầng lớp nhân dân. 15 năm qua, ngành văn hóa đã cố gắng xây dựng và hoàn thiện hệ thống thiết chế nhà văn hóa, thư viện, bảo tàng... từ trung ương đến địa phương, phần nào đáp ứng được nhu cầu văn hóa, tinh thần của nhân dân. Một số công trình thiết chế văn hóa có cán bộ quản lý giỏi và năng động đã có nhiều hình thức hoạt động mới mẻ, hấp dẫn, có sức lôi cuốn, thể hiện được bản sắc văn hóa dân tộc8; từng bước huy động được nhiều nguồn lực trong xã hội9, thực hiện được việc tăng cường liên kết với một số đơn vị, địa phương khôi phục, tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật10 độc đáo, giàu bản sắc; thực hiện tốt nhiệm vụ phục vụ chính trị, tuyên truyền và phổ biến đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.

   Trong 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 23, cấp ủy, chính quyền các cấp luôn quan tâm chỉ đạo, triển khai thực hiện, đầu tư nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, nghệ thuật quần chúng, nghiên cứu những mô hình hoạt động mới lạ, hấp dẫn để khuyến khích quần chúng cùng tham gia sáng tạo và phát huy các giá trị văn hoá, văn nghệ truyền thống của địa phương; thường xuyên đổi mới việc tổ chức các hoạt động hội thi, hội diễn, liên hoan văn nghệ quần chúng các cấp. Nhiều cuộc liên hoan nghệ thuật quần chúng, nhất là liên hoan nghệ thuật truyền thống và dân gian, được tổ chức theo định kỳ11 nhằm động viên khích lệ các nghệ nhân dân gian, quần chúng nhân dân giữ gìn bảo tồn vốn cổ, tạo cơ hội cho các nghệ nhân được giao lưu học hỏi, qua đó quảng bá giới thiệu loại hình nghệ thuật truyền thống dân gian đặc sắc của các vùng miền tới đông đảo quần chúng nhân dân và du khách quốc tế. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật quần chúng ngày càng phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức12. Nhiều câu lạc bộ với các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian mang đặc trưng dân tộc, địa phương được thành lập và đi vào hoạt động, thu hút đông đảo người dân tham gia13

   Để công tác xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật quần chúng phát triển thực chất, có chiều sâu, các tỉnh, thành ủy đã quan tâm quan tâm tới việc nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của văn học, nghệ thuật đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị - nhất là các cán bộ trực tiếp chỉ đạo, quản lý lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Ngoài việc cử cán bộ tham gia các hội nghị tập huấn của trung ương14, các địa phương còn tổ chức hội nghị tập huấn cho cán bộ làm công tác lãnh đạo, quản lý, tham mưu về công tác văn hóa, văn nghệ tại địa phương, trong đó, nội dung chú trọng đến các vấn đề liên quan đến văn học, nghệ thuật quần chúng15.  Hoạt động thư viện được quan tâm phát triển sâu rộng từ cấp tỉnh, thành phố đến thôn làng, cụm dân cư. Ngoài việc tiếp tục duy trì hoạt động theo phương thức truyền thống, ở một số thành phố lớn, thư viện được từng bước đầu tư theo hướng hiện đại, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thư viện và đầu tư phát triển thư viện điện tử nhằm đáp ứng nhu cầu của bạn đọc, nhu cầu thông tin của người dân. 

   Để nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng, các địa địa phương, đơn vị quan tâm đầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa. Các trung tâm văn hóa ở địa phương tiếp tục duy trì, mở rộng hoạt động của hệ thống các câu lạc bộ, tập trung triển khai nhiều chương trình nhằm duy trì tốt các hoạt động văn nghệ quần chúng, như: Liên kết với các đơn vị tổ chức sự kiện để tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật; tổ chức các hội thi, hội diễn, liên hoan văn nghệ quần chúng,... nhằm khuyến khích quần chúng cùng tham gia sáng tạo, bảo tồn, truyền dạy và phát huy các giá trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống của địa phương; thường xuyên tổ chức các chương trình biểu diễn văn nghệ, chiếu phim,... phục vụ nhân dân, nhất là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

   Hệ thống thư viện trong cả nước được quan tâm đầu tư xây dựng ngày càng khang trang và hiện đại, góp phần thúc đẩy văn hóa đọc trong cộng đồng, truyền bá các giá trị các tác phẩm văn học đến công chúng, phục vụ nhu cầu học tập suốt đời, nâng cao tri thức, hoàn thiện nhân cách con người đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới.

 

 

 

Chú thích:
1 Chẳng hạn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phối hợp với Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiều dự án, đề án nhằm cụ thể Nghị quyết 23, như: Dự án công bố, phổ biến tài sản văn hoá văn nghệ dân gian các dân tộc Việt Nam giai đoạn I (2009 - 2012) và Dự án công bố, phổ biến tài sản văn hoá văn nghệ dân gian các dân tộc Việt Nam giai đoạn II (2013 - 2017) (Quyết định số 1598/QĐ-TTg ngày 26/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ); Đề án “Bảo tồn, phát huy giá trị tác phẩm văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam” (Quyết định số 1558/QĐ-TTg ngày 05/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ); “Đề án tiếp tục hỗ trợ hoạt động sáng tạo tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật, báo chí ở Trung ương và các Hội Văn học nghệ thuật địa phương; hỗ trợ tác phẩm báo chí chất lượng cao ở các Hội Nhà báo địa phương giai đoạn 2016 – 2020” (Quyết định số 650/QĐ-TTg ngày 25/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ); phối hợp với Hội Nhà văn xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án Công bố và phổ biến các tác phẩm văn học được giải thưởng nhà nước (Quyết định số 282/QĐ-TTg ngày 20/20/2014). Năm 2019, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục đã phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam tổ chức Hội thảo Bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa dân gian của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam; năm 2020, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục phối hợp với Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam và Hội đồng Anh tại Việt Nam tổ chức tọa đàm Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam; năm 2022, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội đã phối hợp với Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và tỉnh Bắc Ninh tổ chức Hội thảo văn hóa về chủ đề Thể chế, chính sách và nguồn lực cho phát triển văn hóa; Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật/ Hội Văn học - Nghệ thuật ở một số tỉnh, thành phố phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Bảo tàng Mỹ thuật, Hội Nhà văn, Hội Mỹ thuật tỉnh, thành phố tổ chức trại sáng tác văn học - mỹ thuật thiếu nhi,... Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội đã tổ chức nhiều cuộc trao đổi chuyên môn; giao lưu với các hội kết nghĩa Hà Nội - Huế - Sài Gòn và 5 vùng đất kinh đô xưa (Hà Nội, Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hóa, Huế); mở nhiều trại sáng tác có quy mô rộng rãi; phát huy có hiệu quả các biện pháp tổ chức đầu tư, bảo trợ cũng như vận dụng thế mạnh của chế độ đầu tư “đặt hàng”, ký hợp đồng mua sản phẩm đối với những công trình và tác phẩm xuất sắc.
2 Một số biện pháp thực hiện như: phân công UVBTV, BCH phụ trách, theo dõi từng khu vực/ lĩnh vực, làm đầu mối liên hệ giữa các tổ chức thành viên; phối hợp các cơ quan chức năng tổ chức những cuộc giao ban để trao đổi thông tin, nắm bắt được xu hướng phát triển, bàn biện pháp xử lý các vấn đề nảy sinh.
3 Các hội văn học, nghệ thuật tổ chức các hội thảo chuyên đề để thảo luận, kiến giải, làm rõ nhiều vấn đề về văn hóa, nghệ thuật phức tạp mới phát sinh từ đời sống, như một kênh phản biện gián tiếp, đa chiều, giàu tính chuyên môn. 

4 Lực lượng xã hội tham gia các hoạt động văn học, nghệ thuật đông đảo hơn trước rất nhiều. Tiềm lực và nguồn lực toàn xã hội đã bước đầu được phát huy phục vụ hiệu quả sự phát triển văn học, nghệ thuật. Khu vực hoạt động văn học, nghệ thuật ngoài công lập được hình thành, có nhiều đổi mới, hoạt động theo hướng năng động, hiệu quả hơn. Điều này đã tác động đến hoạt động quản lý nhà nước, đòi hỏi quản lý phải nâng cao trình độ và năng lực; tìm tòi phương thức quản lý mới đáp ứng yêu cầu của quá trình xã hội hóa. Kết quả là một loạt những cơ chế, chính sách mới được ban hành, trong đó không thể không kể đến sự ra đời và được bổ sung, sửa đổi của các bộ luật, các pháp lệnh, các quy định, quy chế về văn hóa, văn nghệ theo hướng thông thoáng, cởi mở hơn, bước đầu đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong điều kiện mới.
5 Theo số liệu thống kê của Liên hiệp các Hội Văn học, nghệ thuật Việt Nam, trong 15 năm qua, đã kết nạp trên 4.000 hội viên mới vào các hội văn học, nghệ thuật chuyên ngành Trung ương và trên 24.000 hội viên vào các hội ở các tỉnh, thành phố.
6 Những năm gần đây, ngoài các hội viên chính thức, các Hội VHNT còn có các hội viên danh dự, hội viên liên kết, hội viên cơ sở...
7 Duy trì và nâng cao chất lượng trại sáng tác văn học, nghệ thuật; tổ chức các hội nghị tập huấn nghiệp vụ, các hội thảo, các cuộc trao đổi về tình hình kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng trong nước và thế giới.
8 Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam thường xuyên thu hút đông khách trong nước và quốc tế. Nhờ đổi mới cách làm, hình ảnh được quảng bá sâu rộng, lượng khách đến các bảo tàng này ngày càng đông.
9 Thành phố Hà Nội đã phát triển hệ thống bảo tàng ngoài công lập theo định hướng của Chính phủ và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Đến tháng 8/2021, UBND Thành phố cấp phép hoạt động cho 17 Bảo tàng trên địa bàn Thành phố, tập trung ưu tiên để hình thành một số bảo tàng chuyên đề giới thiệu nghề truyền thống, bảo tàng nghệ thuật, cách mạng kháng chiến, cổ vật, lưu niệm danh nhân. Nhiều bảo tàng đã hoạt động rất hiệu quả, góp phần bảo tồn di vật, cổ vật, phát huy giá trị di sản trong giáo dục truyền thống, cách mạng… như Bảo tàng chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày ở Phú Xuyên, Bảo tàng Nguyễn Văn Huyên, Bảo tàng làng nghề nhiếp ảnh Lai Xá - huyện Hoài Đức, Bảo tàng Cổ vật Tràng An…
10 Chẳng hạn, Thư viện Thành phố Hà Nội phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong địa bàn tổ chức Trưng bày triển lãm sách, tổ chức các cuộc thi Tuyên truyền Giới thiệu sách, vẽ tranh theo sách; phát động các cuộc thi tìm hiểu về văn hóa đọc... duy trì và phát triển mạng lưới thư viện quận, huyện và cơ sở, trung bình mỗi năm đã thành lập mới gần 40 thư viện, phòng đọc cơ sở; khuyến khích thành lập các thư viện tư nhân, tủ sách dòng họ, tủ sách gia đình có phục vụ cộng đồng. Mỗi năm thực hiện 02 đợt luân chuyển sách báo với tổng số bản sách 50.200 bản tới 251 thư viện, phòng đọc cơ sở, trường tiểu học, trung học cơ sở sở, thư viện tư nhân, trại giam; phục vụ 659.969 lượt bạn đọc, 1.649.922 lượt tài liệu; thực hiện luân chuyển sách tới 15 chi hội người khiếm thị tại các quận, huyện, thị xã trên địa bàn thành phố, phục vụ 622 lượt bạn đọc, 1.200 lượt sách; phục vụ thư viện lưu động tại 40 điểm trường trường tiểu học, trung học cơ sở sở, phục vụ 36.000 lượt bạn đọc; 108.000 lượt tài liệu. 
11 như: Liên hoan Ca múa nhạc không chuyên, Liên hoan Đồng ca hợp xướng Đảng- Mùa xuân- Dân tộc, Liên hoan sân khấu không chuyên, Liên hoan Múa không chuyên, Liên hoan Múa hát tập thể và ca khúc măng non… Liên hoan Dân ca dân vũ, Liên hoan Nghệ thuật Múa Rồng, Liên hoan Nghệ thuật Múa rối nước không chuyên, Liên hoan sân khấu truyền thống không chuyên, Liên hoan Nghệ thuật Ca trù, Liên hoan nghệ thuật Hát văn và Chầu văn, Liên hoan Nghệ thuật Hát chèo không chuyên...
12 Nhiều địa phương tổ chức định kỳ các cuộc thi ảnh, video clip nghệ thuật gắn với chủ đề phát triển văn học, nghệ thuật; tổ chức trại sáng tác kịch bản sân khấu, ca khúc âm nhạc, thành lập các đoàn nghệ thuật quần chúng
13 Quảng Bình có hơn 2.000 CLB, trong đó có 539 CLB văn hóa nghệ thuật, 1.920 đội văn nghệ quần chúng. Thái Bình có khoảng 2.500 CLB thuộc 60 loại hình khác nhau. Phú Thọ: toàn tỉnh có 05 đội văn nghệ dân gian cấp tỉnh; 433 CLB văn nghệ, 880 đội văn nghệ quần chúng.  Hà Giang có 1.430 CLB các loại. Sóc Trăng có gần 700 CLB văn hóa, văn nghệ, thể thao. Sơn La có hơn 3.300 đội văn nghệ tổ, bản, tiểu khu thường xuyên hoạt động. Tây Ninh có trên 1.000 CLB, đội, nhóm văn hóa, thể thao; 105 đội văn nghệ quần chúng hoạt động thường xuyên.Hưng Yên có 1.560 CLB văn hóa, nghệ thuật và đội văn nghệ quần chúng. Bắc Ninh có gần 1.000 CLB, đội văn nghệ các loại. Phú Yên có 10 đội tuyên truyền lưu động, trên 100 đội văn nghệ và các CLB nghệ thuật quần chúng. Hà Nội: xây dựng và duy trì hoạt động của 16 CLB tại chỗ và gần 20 CLB vệ tinh. Lạng Sơn có 800 CLB, đội văn nghệ quần chúng…
14 Hằng năm, các tỉnh, thành ủy đều cử cán bộ làm công tác lãnh đạo, quản lý, tham mưu về công tác văn hóa, văn nghệ tham gia hội nghị tập huấn do Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương tổ chức.
15 Hà Nội tổ chức gần 20 lớp tập huấn về Hát văn và Chầu văn, Ca trù, Chèo, Tuồng, Đạo diễn chương trình ca múa nhạc, dân ca, dân vũ ...và các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ văn hóa cho các hạt nhân phong trào văn hóa cơ sở của 30 quận, huyện, thị xã.

 

Bình luận

    Chưa có bình luận