THÀNH TỰU VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT VIỆT NAM SAU 15 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 23-NQ/TW

Bài viết khái quát những thành tựu sau 15 năm thực hiện Nghị quyết 23 như: phương thức lãnh đạo, quản lý và định hướng trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật; công tác bảo tồn di sản văn hóa dân tộc; hệ thống lý luận, phê bình có bước tiến… Dù còn tồn tại hạn chế trong phê bình cảm tính, nhưng nhìn chung diện mạo văn nghệ nước nhà đã dân chủ, chuyên nghiệp và năng động hơn.

   Triển khai Nghị quyết 23, các cấp ủy Đảng từ trung ương đến địa phương đã luôn quan tâm đến việc nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của văn học, nghệ thuật trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, cán bộ trực tiếp chỉ đạo, quản lý lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Từng cấp ủy, chính quyền trong cả nước đã căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, đơn vị để đề ra các chương trình, kế hoạch phát triển dài hạn và giải pháp để triển khai nhằm phát huy vai trò tích cực của văn học, nghệ thuật trong sự phát triển của kinh tế, chính trị và văn hóa. Phương thức lãnh đạo, quản lý và định hướng chính trị trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật có nhiều đổi mới theo hướng đảm bảo tự do sáng tạo cho văn nghệ sĩ, tạo điều kiện về chế độ, chính sách nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, năng động cho đội ngũ hoạt động trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Nhờ vậy, các lĩnh vực, ngành nghệ thuật đều có những tác phẩm với chất lượng tốt, có giá trị tư tưởng, nghệ thuật; tiếp tục khơi thông dòng chảy của chủ nghĩa yêu nước và nhân văn, gắn bó máu thịt với dân tộc. Nội dung sáng tạo, phương thức biểu hiện có nhiều tìm tòi, đổi mới, đa dạng, hiện đại hơn. Tự do, dân chủ trong sáng tạo được bảo đảm, cá tính sáng tạo được tôn trọng và phát huy. Công tác lý luận, phê bình VHNT đã có nỗ lực đáng ghi nhận, từng bước khắc phục những hạn chế kéo dài; cố gắng bám sát thực tiễn, góp phần phát hiện, khẳng định cái hay, cái đẹp; kịp thời phê phán các khuynh hướng lệch lạc, sai trái trong đời sống văn nghệ. Phong trào văn nghệ quần chúng tại các địa phương có bước phát triển mới, theo hướng bảo tồn, phát huy các giá trị văn học, nghệ thuật cổ truyền của dân tộc, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân ở cơ sở…

   Sau 15 năm Nghị quyết 23, các chương trình, kế hoạch phát triển dài hạn trên lĩnh vực văn học vẫn còn nguyên giá trị bởi chính việc triển khai, cụ thể hóa các chương trình, kế hoạch đó đã đem đến cho đời sống văn học, nghệ thuật những đổi thay đáng ghi nhận. Các chế độ, chính sách đối với hoạt động văn học, nghệ thuật vẫn cần tiếp tục được duy trì, điều chỉnh theo hướng tích cực bởi giá trị nhân văn và yêu cầu của thực tiễn.

   Quá trình thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn học, nghệ thuật đã tạo cho văn học, nghệ thuật tính chủ động; hình thành nên sự phong phú, đa dạng, sinh động và diện mạo mới cho đời sống văn học, nghệ thuật nước nhà. Lực lượng xã hội tham gia các hoạt động văn học, nghệ thuật ngày càng đông. Tiềm lực và nguồn lực toàn xã hội đã bước đầu được phát huy phục vụ hiệu quả sự phát triển văn học, nghệ thuật. Khu vực hoạt động văn học, nghệ thuật ngoài công lập được hình thành, có nhiều đổi mới, hoạt động theo hướng năng động, hiệu quả hơn. Điều này đã tác động đến hoạt động quản lý nhà nước, đòi hỏi quản lý phải nâng cao trình độ và năng lực; tìm tòi phương thức quản lý mới đáp ứng yêu cầu của quá trình xã hội hóa. Kết quả là một loạt những cơ chế, chính sách mới được ban hành, trong đó không thể không kể đến sự ra đời và được bổ sung, sửa đổi của các bộ luật, các pháp lệnh, các quy định, quy chế về văn hóa, văn nghệ theo hướng thông thoáng, cởi mở hơn, bước đầu đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong điều kiện mới.

   Các đề án và cơ chế bảo tồn, phát huy, phát triển các loại hình văn học, nghệ thuật cổ truyền vẫn đang được triển khai tích cực. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị VHNT truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm, hạn chế được nguy cơ mai một, xu hướng lãng quên, rời xa bản sắc văn hóa ở cộng đồng các dân tộc rất ít người. Nhiều di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với các địa phương lập hồ sơ đề nghị và được Unesco công nhận đưa vào danh sách là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại1.

   Chính sách về bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết và văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước ta là đúng đắn và nhất quán2 xuyên suốt qua các thời kỳ cách mạng. Nhờ thực hiện các chính sách đó mà trong nhiều năm qua, vốn tiếng nói và chữ viết của nhiều dân tộc thiểu số ở nước ta được phát hiện, lưu giữ, bảo tồn và phát triển; một số ngôn ngữ, chữ viết dân tộc thiểu số được sử dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng từ trung ương tới các địa phương3. Nhiều địa phương đã triển khai thực hiện dạy tiếng dân tộc cho học sinh trong trường phổ thông đạt kết quả tốt4. Những năm gần đây, đội ngũ văn nghệ sĩ người dân tộc thiểu số xuất hiện khá đông đảo5, có nhiều tác phẩm hữu ích, thiết thực phục vụ đồng bào. Đề tài sáng tác đã được mở rộng hơn, từng bước bắt nhịp vào đời sống của đồng bào dân tộc, ca ngợi cái mới, cái tốt đẹp, phê phán cái xấu, cái ác, cái lạc hậu… Có nhiều tác phẩm đi sâu vào khai thác thân phận con người vùng dân tộc và miền núi. Đặc biệt, ngày càng nhiều tác giả người dân tộc thiểu số có ý thức quan tâm hơn đến việc sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ và sáng tác song ngữ. Công tác sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc đã đạt nhiều thành tựu đáng kể. Hàng trăm công trình sưu tầm, nghiên cứu biên dịch các loại hình văn nghệ dân gian cộng đồng Tây Nguyên, Chăm, Tày, Nùng, Mường, Thái, Mông… của các tác giả dân tộc thiểu số được biên soạn công phu, có giá trị cao, được bạn đọc và công chúng quan tâm. 

   Hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật nước ta 15 năm qua tiếp tục bám sát “dòng mạch chính là chủ nghĩa yêu nước và nhân văn, gắn bó với dân tộc, nỗ lực phản ánh chân thật cuộc sống đấu tranh cách mạng và lao động sáng tạo của nhân dân”. Trong dòng mạch chính đó, “chủ nghĩa nhân văn, phẩm chất nhân đạo” vẫn được “phát huy và đề cao”; văn học, nghệ thuật vẫn tiếp tục thực hiện sứ mệnh lớn lao của mình trong sự nghiệp đổi mới đất nước: Phát hiện, khẳng định các nhân tố mới, tham gia cuộc đấu tranh lên án cái xấu, cái ác, sự biến chất, thoái hoá về nhân cách, đời sống và đạo đức trong một bộ phận xã hội. Đề tài lịch sử, chiến tranh cách mạng và những vấn đề thời sự của đất nước vẫn tiếp tục phản ánh trong tất cả các loại hình nghệ thuật Văn học, nghệ thuật ngày càng thực hiện tốt hơn chức năng phát hiện, dự báo; làm tròn sứ mệnh vun trồng tâm hồn, nhân cách, đạo đức, lẽ sống cao đẹp, trí tuệ bản lĩnh cho các thế hệ con người Việt Nam.

   Bên cạnh dòng mạnh chính, diện mạo văn học, nghệ thuật những năm gần đây nghiêng nhiều hơn về những vấn đề thế sự, về số phận, vấn đề của con người. Trong đó, con người được khai thác cả ở mặt ý thức, tiềm thức và vô thức. Những vấn đề phong phú và phức tạp của cuộc sống đương đại như sự đấu tranh quyết liệt giữa cái cũ và cái mới, giữa những người đang điều hành cỗ máy xã hội và những con người của cơ chế thị trường đang tìm cách có được nhiều quyền lực và của cải, danh vọng; cuộc đấu tranh giữa cái thật và ngụy tạo,... là những mảng đề tài xuất hiện nhiều hơn trong các loại hình từ văn học, sân khấu, điện ảnh, mĩ thuật... và đạt được thành công nhất định.

   Sự mở rộng biên độ về hiện thực với nhiều cách tiếp cận và những tìm tòi, cách tân hình thức biểu hiện nghệ thuật không chỉ thể hiện sự nhạy bén với cái mới mà còn đưa lại cho văn học, nghệ thuật sự phong phú, đa dạng trong cách thức phản ánh hiện thực cuộc sống.

   Sự xuất hiện ngày càng nhiều của các lý thuyết, các trào lưu sáng tác của thế giới trong quá trình hội nhập đã trở thành một trong những nguồn cảm hứng để đội ngũ sáng tạo đổi mới hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật và phương pháp sáng tác mang lại sức sống mới cho hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật. Trong các lĩnh vực của đời sống sáng tác, nhiều thủ pháp mới đang hình thành, góp phần tạo nên những hiệu quả nghệ thuật mới. Cấu trúc thể loại cũng có những thay đổi rõ rệt. Những năm gần đây, văn nghệ sĩ, nhất là các nghệ sĩ trẻ đang có xu hướng tìm về với chất liệu dân gian, kết hợp với phong cách hiện đại trong các sản phẩm nghệ thuật, tạo thành trào lưu hấp dẫn cho giới trẻ, trong đó có những trường hợp gây được tiếng vang ở trong và ngoài nước.

   Sự xuất hiện của các trào lưu sáng tác của thế giới trong quá trình hội nhập đã tạo cho văn học, nghệ thuật những thay đổi về cấu trúc thể loại, hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật. Tuy nhiên, xu hướng tìm về với chất liệu dân gian, kết hợp với phong cách hiện đại trở thành trào lưu của nghệ sĩ trẻ. Và thực tế, một số tác phẩm theo xu hướng này đã được ghi nhận trong và ngoài nước.

   Vấn đề tự do trong sáng tạo nghệ thuật ngày càng được tôn trọng. Điều này thể hiện rất rõ không chỉ ở số lượng tác phẩm văn học, nghệ thuật được xuất bản hằng năm mà còn ở sự đa dạng của nội dung, phong cách sáng tác, phương thức biểu hiện, dấu ấn cá nhân, cá tính sáng tạo... trong đời sống văn học, nghệ thuật nước nhà. Tâm thế người sáng tạo cũng được cải thiện rõ rệt theo chiều hướng tích cực. Văn nghệ sĩ không chỉ dừng lại ở tư cách “người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, văn hóa” như trước mà còn là bản lĩnh của một người làm văn hóa, làm chủ về tư tưởng, tài năng và cá tính sáng tạo của mình, chủ động tìm tòi để có thể đa dạng hóa đề tài và phương thức thể hiện nhằm phát huy trí tưởng tượng và khả năng liên tưởng, sáng tạo của người tiếp nhận; làm mới văn học, nghệ thuật bằng tư duy nghệ thuật độc đáo về các vấn đề có ý nghĩa nhân văn mang tính nhân loại.

   Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nói chung, trong đó có di sản văn học, nghệ thuật có nhiều đổi mới, sáng tạo, tạo sự chuyển biến tích cực. Hoạt động nghiên cứu xuất bản và dàn dựng tác phẩm6, truyền dạy các bộ môn nghệ thuật truyền thống luôn nhận được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương. Công tác bảo tồn kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể được chú trọng. Công tác phát huy các giá trị văn học nghệ thuật được triển khai dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng, như triển lãm, trưng bày, talkshow, trình diễn về di sản văn hóa phi vật thể, tổ chức các lớp bồi dưỡng nghệ thuật7

   Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI), đội ngũ văn nghệ sĩ có nhiều điều kiện, cơ hội thuận lợi để thử nghiệm đa dạng cách thức sản xuất, truyền bá và tiếp nhận văn học, nghệ thuật trên không gian mạng, làm gia tăng khả năng sáng tạo của con người. Bên cạnh việc sáng tạo những tác phẩm, đề tài nghệ thuật mới, đội ngũ văn nghệ sĩ còn tích cực tham gia các hoạt động sưu tầm, cải biên các làn điệu dân ca, dân vũ; phục hồi, phục dựng những tác phẩm nghệ thuật truyền thống tiêu biểu. Các hoạt động khuyến khích, hỗ trợ sáng tạo văn học, nghệ thuật bằng ngôn ngữ của dân tộc thiểu số được các tỉnh, thành phố, các hội văn học, nghệ thuật chuyên ngành từ Trung ương đến địa phương quan tâm thực hiện, thông qua việc tổ chức trại sáng tác, các chuyến đi thực tế, các cuộc thi, liên hoan, các cuộc vận động sáng tác văn học, nghệ thuật về đề tài dân tộc thiểu số, miền núi. Công tác xã hội hóa các hoạt động văn học, nghệ thuật luôn được các tỉnh, thành phố và ngành văn hóa quan tâm đẩy mạnh, cùng sự tham gia hỗ trợ của đông đảo các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, với nhiều hình thức phong phú8 mang lại những chuyển biến tích cực trong lĩnh vực sáng tạo văn học, nghệ thuật. 

   Nghệ nhân dân gian ở các loại hình di sản văn hóa phi vật thể trên cả nước đã có nhiều sáng tạo trong việc thực hành, truyền dạy và lan tỏa các giá trị di sản, góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc Việt Nam.

   Nhìn chung, hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật của Việt Nam trong những năm qua đạt được nhiều kết quả đáng trân trọng. Đời sống văn học, nghệ thuật đang có những thay đổi và phát triển nhanh chóng. Trên tất cả các loại hình nghệ thuật, từ văn học, kiến trúc, mĩ thuật, nhiếp ảnh, điện ảnh, đến âm nhạc, sân khấu, múa, văn nghệ dân gian, văn nghệ các dân tộc thiểu số, đều có những ưu thế, sức mạnh đặc trưng của mình. Luôn bám sát hiện thực, phát hiện từ hiện thực những vấn đề nóng bỏng của đời sống; chú ý kết hợp giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại; mạnh dạn vận dụng, thử nghiệm các thủ pháp nghệ thuật mang tính quốc tế để chuyển tải sâu sắc nội dung, đáp ứng thị hiếu của đông đảo công chúng, bạn đọc  có sự vận dụng các thủ pháp nghệ thuật hiện đại để chuyển tải sâu sắc nội dung. Âm nhạc có truyền thống và hiện đại. Điện ảnh Việt Nam ngày càng khẳng định được vị trí với rất nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế; từng bước phấn đấu trở thành ngành công nghiệp văn hóa mũi nhọn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đời sống sân khấu và múa ngày càng sôi động, đáp ứng thị hiếu nhiều đối tượng khán giả, có thử nghiệm mới về thủ pháp nghệ thuật và hình thức thể hiện; từng bước xóa bỏ khoảng cách về chất lượng nghệ thuật giữa các đơn vị nghệ thuật công lập và ngoài công lập. Lĩnh vực mĩ thuật, nhiếp ảnh ngày càng đa dạng phong cách nghệ thuật ngôn ngữ biểu đạt mang tính quốc tế. Văn nghệ dân gian, văn nghệ các dân tộc thiểu số luôn khẳng định được những nét văn hóa độc đáo; có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế.

   Trong 15 năm thực hiện Nghị quyết 23, lý luận văn học, nghệ thuật Việt Nam tiếp tục được quan tâm, triển khai nghiên cứu và đạt được những kết quả nhất định. Nhiệm vụ xây dựng hệ thống lý luận văn nghệ Việt Nam bước đầu được triển khai9. Các trường đại học, trung tâm nghiên cứu lớn trong cả nước thực hiện nhiều đề tài khoa học, góp phần hướng tới làm rõ những vấn đề đặc trưng, bản chất của văn học, nghệ thuật. Mối quan hệ giữa văn nghệ với chính trị, giữa hiện thực và nghệ thuật, giữa nội dung và hình thức, giữa sáng tạo và tiếp nhận,… được nhận thức khoa học, sâu sắc hơn. Tư tưởng văn nghệ truyền thống của ông cha tiếp tục được quan tâm nghiên cứu. Một số phương pháp nghiên cứu, phê bình văn nghệ mới được vận dụng, bước đầu đem lại kết quả tích cực. Một số khái niệm lý luận cũ được điều chỉnh và khái niệm mới được giới thiệu, ứng dụng trong thực tiễn. Một số tác phẩm lý luận văn nghệ của nước ngoài được dịch, giới thiệu và vận dụng trong thực tiễn nghiên cứu.

   Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW, đời sống văn học, nghệ thuật dân chủ, thuận lợi và khách quan hơn; các hệ thống lý thuyết phương Tây không ngừng được giới thiệu, tiếp thu và vận dụng với tinh thần nghiêm túc, khoa học. Đến thời điểm này, hầu hết các lý thuyết văn học và mĩ học trên thế giới đều đã được biết đến, được phổ biến và vận dụng ở mức độ nhất định tại Việt Nam. Trên nền tảng lý luận văn học Mác-xít, các lý thuyết đã vận dụng trong nghiên cứu ở nước ta được nhận thức lại, bổ sung và hoàn thiện thêm. Sự hội tụ, tham chiếu các hệ thống lý thuyết văn học và mĩ học Đông-Tây đã nâng trình độ lý luận văn học của Việt Nam lên một tầm đáng kể, từng bước cập nhật và đối thoại với khu vực và thế giới, nhất là trong bối cảnh phát triển của khoa học công nghệ rút ngắn các khoảng cách và nối dài các khả năng của con người. Với nỗ lực của giới nghiên cứu, việc tiếp thu và vận dụng lý thuyết nước ngoài trong 15 năm qua đã đạt được những thành tựu khả quan: nâng tầm kiến thức và trình độ tư duy của của người nghiên cứu, của văn nghệ sĩ lên một bước mới; trang bị kĩ năng và phương pháp tiếp cận, bổ sung những thiếu hụt về tri thức lý thuyết, tác động tích cực tới hoạt động nghiên cứu và sáng tác văn học, nghệ thuật.

   Hoạt động nghiên cứu và lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật nước ta có bước phát triển mạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Các hệ hình sáng tác, hệ hình nghiên cứu đa dạng trên thế giới được nhìn nhận, đánh giá và vận dụng có hiệu quả - từ những lý thuyết quen thuộc như Thi pháp học, Phong cách học, Văn hóa học, Phân tâm học đến những hệ thống lý thuyết mới du nhập như: Mỹ học tiếp nhận, Tự sự học, Chủ nghĩa cấu trúc, Chủ nghĩa hiện sinh, Nữ quyền luận, Phê bình hậu thực dân, Phê bình sinh thái, Văn học phi lý, Văn học huyền ảo, Hiện tượng học, Tường giải học/ Thông diễn học… Ở khắp các lĩnh vực như mĩ thuật, văn học, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, nhiếp ảnh, múa, kiến trúc, văn nghệ dân gian, văn nghệ các dân tộc thiểu số... đều chứng kiến những bước chuyển nhất định về khuynh hướng và sự phản ánh hiện thực đa dạng của cuộc sống đương đại. Không ít tác phẩm lý luận, phê bình văn học nghệ thuật đã phát huy tác dụng tích cực trong đời sống văn học, nghệ thuật, được giới nghiên cứu phê bình văn học, nghệ thuật và công chúng ghi nhận, góp phần khẳng định giá trị định hướng hoạt động sáng tạo và tiếp nhận văn học, nghệ thuật. Những thành tự trên cho thấy lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật hiện đại ở ta đã năng động hơn trong quá trình hội nhập với phê bình văn học, nghệ thuật thế giới.

   Phê bình văn học, nghệ thuật đã góp phần phát hiện, giới thiệu đến công chúng nhiều tác giả, tác phẩm văn nghệ; phát hiện cái hay, cái đẹp về nội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật; hướng dẫn công chúng thưởng thức nghệ thuật; tạo cầu nối giữa nhà văn với công chúng; khích lệ những tìm tòi, sáng tạo mới. Từng bước khắc phục lối phê bình xã hội học dung tục, võ đoán, quy chụp chính trị. Thông qua sinh hoạt phê bình, một số vấn đề liên quan đến chuẩn mực giá trị văn học, nghệ thuật và hệ thống lý luận mỹ học đã bước đầu được soi chiếu và điều chỉnh. Bên cạnh đó, phê bình văn học, nghệ thuật thời gian qua đã tham gia tích cực trong đấu tranh với những xu hướng cực đoan, đối lập văn nghệ với chính trị, phủ nhận thành tựu văn nghệ cách mạng, phủ nhận sự thật lịch sử, tuyệt đối hóa hình thức nghệ thuật,… góp phần bảo vệ đường lối văn nghệ của Đảng và sự phát triển lành mạnh của đời sống văn nghệ.

   Tuy nhiên, tình trạng phê bình cảm tính, thiếu cơ sở khoa học, khen chê dễ dãi, thậm chí chịu tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường còn phổ biến, làm gia tăng nguy cơ lệch chuẩn, loạn chuẩn giá trị trong đời sống văn nghệ. Môi trường sinh hoạt phê bình trầm lắng, thiếu tinh thần tranh biện, trao đổi và đối thoại. Trước một số sự kiện, hiện tượng nóng bỏng xuất hiện trong thực tiễn, phê bình còn biểu hiện lúng túng, thiếu nhạy bén, chưa kịp thời nhận định, đánh giá và lý giải. Chưa xây dựng được hệ giá trị, tiêu chí khoa học, thống nhất trong đánh giá, phê bình các hiện tượng cụ thể. Ở một số ngành nghệ thuật, không còn lực lượng phê bình chuyên nghiệp, vì vậy phê bình hàn lâm hoàn toàn lép vế so với phê bình báo chí.

   Đội ngũ làm công tác lý luận, phê bình 15 năm qua là các nhà lý luận, phê bình trẻ có trình độ văn hóa và trình độ phê bình cao; có đam mê và giàu sáng tạo; có trình độ ngoại ngữ và khả năng tiếp kiến, tiếp biến các tư tưởng mới từ các hệ thống lý thuyết phương Tây (dù nhiều lúc đến mức thái quá, vượt ngưỡng) và vận dụng vào từng không gian văn học tương thích để giải mã tác phẩm. Những lợi thế về trình độ văn hóa, trình độ ngoại ngữ và sự nhạy bén trong tư duy khoa học, thao tác khoa học… đã giúp họ có những bứt phá và tạo đà khá vững chắc khi đi vào từng không gian văn học, từng đối tượng văn học cụ thể.

   

 

 

Chú thích:
1 như: Nhã nhạc - Nhạc cung đình Việt Nam (năm 2003), Không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên (năm 2005), Quan họ Bắc Ninh (năm 2009), Ca trù (năm 2009), hát Xoan ở Phú Thọ (2017), Đờn ca Tài tử Nam Bộ (năm 2013), Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh (năm 2015)...
2 Thể hiện ngay từ văn kiện đầu tiên của Đảng tại Đại hội lần thứ Nhất (3/1935). Sau này, được chỉ đạo thực hiện qua các văn bản: Quyết định số 53/CP ngày 22/2/1980 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ); Điều 5 của Hiến pháp năm 1992; Điều 4 của Luật Phổ cập giáo dục tiểu học (được Quốc hội thông qua ngày 30/6/1991); Điều 14, mục 6 của Nghị định số 72/NĐ-CP, ngày 06/8/2002 của Chính phủ; Chỉ thị số 38/CT-TTg, ngày 09/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ Về việc đẩy mạnh đào tạo bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số đối với cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc miền núi; khoản 2, Điều 7 của Luật sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục năm 2009; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Chính phủ; Nghị định số 05/2011/NĐ-CP  ngày 14/1/2011 của Chính phủ. Quyết định số 1558/QĐ-TTg, ngày 5/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát huy giá trị tác phẩm văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam”; Quyết định số 3875/QĐ-BVHTTDL ngày 30/12/2022 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị văn học dân gian của các dân tộc thiểu số đến năm 2030”trong giai đoạn 2023 – 2026.
3 Trước đây, trong số 54 dân tộc thiểu số ở Việt Nam, chỉ có dân tộc Hoa, Chăm, Khmer là có sẵn tiếng nói và chữ viết riêng, còn lại hầu hết các dân tộc thiểu số khác chỉ có tiếng nói mà chưa có chữ viết riêng. Quyết định số 53/CP, ngày 22/2/1980 về chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc thiểu số đã tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu khoa học, nhà văn hoá, nhà nghiên cứu dân tộc tiến hành La-tinh hoá cách phát âm ngôn ngữ của một số dân tộc. Hiện nay, gần 30 dân tộc thiểu số có chữ viết, tiêu biểu như: Tày, Thái, Hoa, Khơme, Nùng, H’Mông, Giarai, Êđê, Bana, Xơđăng, Kơho, Chăm, Hrê, Mnông, Raglai... Một số ngôn ngữ, chữ viết dân tộc thiểu số được sử dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng, như: Tày, Thái, Dao, H’Mông, Jarai, Êđê, Bana, Chăm, Khơme…
4 Tỉnh Sóc Trăng dạy tiếng Khmer cho toàn bộ trường trung học cơ sở; TP Hồ Chí Minh, Cà Mau, Kiên Giang, Cần Thơ và Hậu Giang tăng số tiết học tiếng Hoa. Tại Sóc Trăng, Trà Vinh có hàng trăm nhà sư tự nguyện dạy tiếng Khmer miễn phí cho hàng ngàn học sinh trong dịp hè (chủ yếu dạy học trong chùa).
5 Hiện nay, Hội Văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam có 1.041 hội viên. 
6 Hà Nội tạo điều kiện cho công tác sưu tầm, biên soạn các công trình sách  “Tổng tập 1000 năm văn hiến Thăng Long”, “Cẩm nang tri thức 1000 năm văn hiến” và Video tư liệu nghệ thuật “Nguyễn Trãi với Thăng Long” …để sử dụng trên trang Website 1000 năm Thăng Long; ban hành nghị quyết riêng của HĐND Thành phố - Nghị quyết số 23/2022/NQ-HĐND quy định về chế độ đãi ngộ đối với “Nghệ sĩ nhân dân, “Nghệ sĩ ưu tú”, Nghệ nhân và câu lạc bộ tiêu biểu trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể…
7 Hà Nội sưu tầm, bảo tồn múa Chuông, múa Rùa cho các hạt nhân văn nghệ là người dân tộc Dao, nghệ thuật Hát Ru Mường cho 5 xã có người dân tộc thiểu số huyện Ba Vì, trang bị thêm 24 bộ cồng chiêng, hỗ trợ kinh phí cho các xã tổ chức truyền dạy, bảo tồn nghệ thuật Cồng Chiêng. Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội đã hỗ trợ công tác truyền dạy hát Trống quân ở 3 đơn vị: xã Hát Môn (Phúc Thọ), xã Khánh Hà (Thường Tín), xã phúc Tiến (Phú Xuyên).  Thành phố Hồ Chí Minh: các đơn vị nghệ thuật công lập đã khẳng định được vai trò, chất lượng nghệ thuật khi đầu tư thực hiện nhiều chương trình bảo tồn, quảng bá nghệ thuật truyền thống gắn với môi trường du lịch, được công chúng nồng nhiệt đón nhận, như: “Mekong Show”, “Ba Tư huyền bí”, “Bí ẩn nơi đảo hoang”, “Sắc ấn Ngọc Nam Phương”, “Sanh vi tướng, tử vi thần”,… một số chương trình do các doanh nghiệp nghệ thuật thực hiện cũng đã thu hút được đông đảo công chúng và tạo ấn tượng tốt với công chúng, như: “À ố show”, “Sương sớm” của Lune Production,…
8 Đa dạng các hình thức, từ xã hội hóa trong công tác tổ chức hoạt động, sự kiện văn hóa, nghệ thuật đến xã hội hóa việc khai thác các thiết chế văn hóa. Hà Nội: Trung bình mỗi năm, đã phối hợp tổ chức xã hội hóa trên 100 hoạt động, sự kiện văn hóa, nghệ thuật của các tỉnh, thành phố, các bộ, ngành tại khu vực phố đi bộ Hồ Hoàn Kiếm; các chương trình nghệ thuật chào năm mới; chương trình hòa nhạc ngoài trời. Xã hội hóa trong khai thác các thiết chế văn hóa tại: Di sản thế giới Hoàng thành Thăng Long; Khu di tích quốc gia đặc biệt Văn Miếu - Quốc Tử Giám; Khu di tích Nhà tù Hỏa Lò, Bảo tàng Hà Nội, các rạp hát,…
9 Năm 2013, Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương riển khai nghiên cứu Đề án cấp Nhà nước “Xây dựng hệ thống lý luận văn nghệ Việt Nam” và 04 Đề tài độc lập: Tư tưởng lý luận văn nghệ trung - cận đại ở Việt Nam; Tư tưởng lý luận văn nghệ ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay;  Quá trình tiếp thu các tư tưởng lý luận văn nghệ nước ngoài vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XX;  Định hướng phát triển lý luận văn nghệ ở Việt Nam.

Bình luận

    Chưa có bình luận