Những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin “làm cốt”
Trên cơ sở tiếp thu và vận dụng sáng tạo luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin: “Trong cuộc đấu tranh của mình chống quyền lực liên hợp của các giai cấp hữu sản, giai cấp công nhân, chỉ khi được tổ chức thành một chính đảng độc lập đối lập với tất cả các chính đảng cũ do các giai cấp hữu sản lập nên, thì mới có thể hành động với tư cách là một giai cấp”(1), “chỉ có dưới sự lãnh đạo của một Đảng như thế, giai cấp vô sản mới có khả năng phát huy toàn bộ sức mạnh của cuộc tiến công cách mạng của nó”(2), nên từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản đối với cách mạng Việt Nam. Người viết: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(3).

Tổng Bí thư Tô Lâm dự Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác tuyên giáo và dân vận năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026, ngày 19-12-2025_Ảnh: Tư liệu
Vấn đề này đã được Người nhất quán khẳng định: “Muốn thắng lợi, thì cách mạng phải có một đảng lãnh đạo. Đảng phải làm cho quần chúng giác ngộ vì đâu mà họ bị áp bức bóc lột; phải dạy cho quần chúng hiểu các quy luật phát triển của xã hội, để họ nhận rõ vì mục đích gì mà đấu tranh; chỉ rõ con đường giải phóng cho quần chúng, cổ động cho quần chúng kiên quyết cách mạng; làm cho quần chúng tin chắc cách mạng nhất định thắng lợi. Cách mạng là cuộc đấu tranh rất phức tạp. Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có Đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và định phương châm cho đúng”(4). Tuy vậy, để hoàn thành thắng lợi mục tiêu của cách mạng nước nhà, hiện thực hóa vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề đầu tiên, suy đến cùng giữ vai trò quyết định là phải xác định được hệ tư tưởng dẫn đường; tức là phải xác lập được nền tảng tư tưởng của Đảng. Người nhấn mạnh: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(5). Nói cách khác, Đảng phải được trang bị hệ thống lý luận khoa học, cách mạng soi đường, chỉ lối để dẫn dắt cách mạng. Ngay trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động... Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong”(6).
Chính sự khủng hoảng về đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam vào những năm 20 của thế kỷ XX đã cho thấy sự cấp thiết cần phải có một hệ tư tưởng khoa học soi đường, dẫn lối. Nhờ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn và lý luận phong phú, sinh động đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với chân lý của thời đại - chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Từ sự thấm nhuần sâu sắc bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Người đi đến kết luận: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(7); rằng “chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Học thuyết bất hủ đó đã vạch ra con đường mà chúng tôi phải đi theo”(8). Bởi lẽ “chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa cách mạng và khoa học nhất”(9); là một khoa học, hơn nữa là một khoa học biện chứng hiện đại. Giá trị sâu sắc của học thuyết này chính là ở sự chân thực về khoa học, tính cách mạng triệt để với mục tiêu xuyên suốt và cao nhất là giải phóng nhân dân lao động, giải phóng xã hội khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, khỏi mọi sự tha hóa, xây dựng một xã hội công bằng, nhân văn và nhân đạo.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các nước. Nó là: “Khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội; khoa học về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bị bóc lột; khoa học về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở tất cả các nước; khoa học về xây dựng chủ nghĩa cộng sản”(10). Cũng từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn và khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin “làm cốt”. Điều đó có nghĩa, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, là “cái cẩm nang thần kỳ”, “cái la bàn”, “cái bàn chỉ nam”, “trí khôn”, “mặt trời soi sáng”, vũ khí lý luận sắc bén, ... của Đảng ta, dẫn dắt chúng ta đi tới thắng lợi hoàn toàn, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Trong tác phẩm “Thường thức chính trị”, Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin”(11). Dựa chắc và đứng vững trên nền tảng tư tưởng khoa học và cách mạng nhất của thời đại, nên Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong buổi trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Sáclơ Phuốcniô, ngày 15-7-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin”(12). Và “trong những năm qua, Đảng ta đã phấn đấu rất anh dũng, thắng lợi rất vẻ vang. Đó là do Đảng ta có chủ nghĩa Mác - Lê-nin tất thắng soi đường”(13).
Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin phù hợp điều kiện nước ta
Điểm đặc biệt sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin là để tìm kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc, tức là từ nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn cách mạng nước nhà. Người tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin bằng phương pháp nhận thức mácxít theo lối “đắc ý, vong ngôn” của phương Đông. Nghĩa là, cốt nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất của vấn đề, “là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta”(14). Người vận dụng lập trường, quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trên cơ sở thực tiễn Việt Nam; hoàn toàn không đi tìm những kết luận có sẵn trong kinh điển, vì thế không rơi vào giáo điều, kinh viện. Người luôn nhấn mạnh “Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh”(15). Do đó, theo Người, Đảng phải luôn kiên định, đứng vững trên nền tảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, song kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin không có nghĩa là thụ động, rập khuôn, giáo điều, áp dụng một cách máy móc, mà phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo phù hợp với điều kiện, đặc điểm của Việt Nam.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin là kiên định những nguyên tắc lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết ấy; giữ vững những nguyên lý, những quan điểm cơ bản, đúng đắn và có ý nghĩa phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; đồng thời phải biết vận dụng sáng tạo nó, chống chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa cơ hội, xét lại. Người từng nhấn mạnh: “Giáo điều là trái với nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nó có hại cho công cuộc cách mạng”(16), “phải cụ thể hóa chủ nghĩa Mác - Lê-nin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc và từng nơi”(17).
Hơn thế nữa, từ sự thấu triệt lời huấn thị của các nhà kinh điển mác-xít “Lý luận của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”(18), và “chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”(19), Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu đối với Đảng Cộng sản Việt Nam và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải biết bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vì theo Người, thực tiễn rất sinh động, phong phú và luôn vận động, biến đổi không ngừng; hơn thế “dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”(20).
Lịch sử đã chứng minh, nếu mơ hồ, dao động về hệ tư tưởng, thiếu kiên định về nền tảng tư tưởng, thì Đảng sẽ lúng túng trong hoạch định chủ trương, đường lối, rối loạn trong tổ chức và tất yếu dẫn đến thất bại trong hành động. Do vậy, nghiên cứu, đúc kết thực tiễn cách mạng thế giới và trong nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra một trong những bài học quý giá và sâu sắc: “Chỉ có sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công”(21). Trên thực tế, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất thành công trong việc kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin phù hợp điều kiện nước ta. Khẳng định về điều này, sinh thời Người đã viết “Đảng Lao động Việt Nam đã đạt được những kết quả to lớn trong việc vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện của Việt Nam”(22).
Ba là, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch đối với nền tảng tư tưởng của Đảng
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn, khẳng định và kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng, phải đồng thời với kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tức là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Người từng nhấn mạnh: “Đảng không hề lơ là việc đấu tranh chống những tư tưởng phản động, tư tưởng tư sản cải lương đầu hàng và thỏa hiệp với đế quốc; chống tư tưởng tiểu tư sản bấp bênh dao động, chống những biểu hiện chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh và tả khuynh; ra sức đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin”(23).
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là yêu cầu khách quan, cấp thiết, nhiệm vụ trọng yếu để giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường đoàn kết nội bộ, tạo đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, bảo vệ sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Theo Người, điều này trước hết xuất phát từ đặc điểm, quy luật ra đời, phát triển của Đảng ta. Như Người đã vạch rõ: “Vì đảng viên trình độ còn kém, ai nói hay nghe lời ai thì dù có sai đường lối của Đảng cũng cho là đúng, nên phải chống xu hướng sai lầm. Cần chú ý: cái gì trái với đường lối của Đảng thì nhất định phải phản đối”(24). Vì “Đảng ta là một đảng rất to lớn, bao gồm đủ các tầng lớp trong xã hội. Vì vậy có nhiều tính cách rất trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại. Song cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của xã hội bên ngoài, nó lây, ngấm vào trong Đảng”(25). Hơn nữa, “nước ta đã lâu ở dưới chế độ thực dân và phong kiến, cho nên những tư tưởng bất chính có thể ảnh hưởng vào trong Đảng. Số đông đảng viên là nông dân và tiểu tư sản trí thức (điều đó tuy là tốt và hợp lý), cho nên cũng mang vào Đảng những tư tưởng “phi vô sản”(26). Trong khi đó, xét về bản chất “tư tưởng của Đảng là tư tưởng của giai cấp công nhân, nó đấu tranh cho lợi ích của toàn dân. Vì vậy, trong Đảng không thể có những tư tưởng, lập trường và tác phong trái với tư tưởng, lập trường và tác phong của giai cấp công nhân”(27).
Mặt khác, vấn đề này chủ yếu bắt nguồn từ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, trực diện là các quan điểm sai trái, thù địch, luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, hay quan điểm phi mác-xít, chủ nghĩa cơ hội, xét lại, tờ-rốt-xkít, tư tưởng phản động, cải lương,... Trong đó, dù đội lốt hay biến tướng dưới những hình thức, màu sắc khác nhau nhưng suy đến cùng đều cùng chung một bản chất và mục đích là hạ thấp, bôi nhọ, công kích, bài bác, làm sai lệch bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Lẽ dĩ nhiên, bọn phong kiến, địa chủ, tư bản, đế quốc và bè lũ tay sai của chúng không ưa gì cách mạng. Nếu chúng ưa cách mạng mới là kỳ quái. “Khi ưa, quả ấu cũng tròn; không ưa, bồ hòn cũng méo”. Vì chúng không ưa cách mạng cho nên chúng bịa đặt, xuyên tạc, vu khống đủ thứ để nói xấu cách mạng”(28); còn “bọn tờrốtxkít không chỉ là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản, mà còn là kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ. Đó là bọn phản bội và mật thám tồi tệ nhất”(29).
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã là nhiệm vụ công phu và khó khăn, nhưng đấu tranh để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin còn khó, phức tạp hơn nhiều; thậm chí đó là cả một “khoa học”, “nghệ thuật” tổ chức và lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, cùng với việc khẳng định tính tất yếu, sự cần thiết phải kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch đối với nền tảng tư tưởng của Đảng, Hồ Chí Minh còn xác định rõ chủ thể, lực lượng, nguyên tắc, nội dung và phương thức đấu tranh,... nhằm đạt được mục tiêu, hiệu quả. Trong đó, Người cho rằng, giáo dục, tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lê-nin cho cán bộ, đảng viên và nhất là quần chúng nhân dân là một trong những phương thức, nhiệm vụ cơ bản, then chốt để góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo Người, “truyền bá lý luận Mác - Lê-nin vào trong nhân dân ta… Lý luận làm cho quần chúng giác ngộ, bày cho quần chúng tổ chức, động viên quần chúng để đấu tranh cho đúng. Nhờ lý luận mà quần chúng hiểu rõ nguyên nhân vì sao mà cực khổ, thấy rõ đường lối đấu tranh để giải phóng mình, hiểu rõ phương pháp đấu tranh với địch. Có lý luận soi đường thì quần chúng hành động mới đúng đắn, mới phát triển được tài năng và lực lượng vô cùng tận của mình”(30). Thông qua đó làm cho hệ tư tưởng, nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ thấm sâu vào đời sống tinh thần xã hội, luôn là kim chỉ nam soi đường, dẫn lối cho sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Tuy nhiên, việc truyền bá lý luận Mác - Lê-nin cho quần chúng nhân dân phụ thuộc trực tiếp và chủ yếu vào trình độ hiểu biết lý luận, phương pháp, kỹ năng tuyên truyền, giáo dục của cán bộ, đảng viên. Do vậy, Người yêu cầu phải không ngừng nâng cao trình độ lý luận cho đội ngũ cán bộ, đảng viên để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đảng cần phải giáo dục và yêu cầu đảng viên ra sức học tập lý luận, mở rộng tự phê bình và phê bình, đấu tranh với những tư tưởng “phi vô sản”. Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận. Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”(31). Bên cạnh đó, Người thường xuyên nhắc nhở, phải nêu cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết “đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa giáo điều và tư tưởng bè phái, củng cố về mặt tư tưởng, tổ chức và tăng cường sự đoàn kết”(32). Từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú, tư duy lý luận sắc sảo và sự nhạy bén về chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, bệnh giáo điều, máy móc hoặc xét lại có thể dẫn đến suy yếu về tư tưởng, làm ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Như Người đã từng cảnh báo “chủ nghĩa xét lại là một thứ lý luận phản động, trái hẳn với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; nó nhằm phá hoại khối đoàn kết của giai cấp công nhân và làm nhụt chí khí phấn đấu của nhân dân lao động”(33).
Những chỉ dẫn quan trọng cho giai đoạn hiện nay
Từ khi ra đời cho đến nay, nhờ kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, nên Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo, dẫn dắt cách mạng nước ta vững vàng vượt qua mọi thác ghềnh, giành được những thắng lợi vĩ đại, nhất là trong những thời điểm bước ngoặt của cách mạng, hay những “khúc quanh của lịch sử”, “biến cố của thời đại”. Điển hình là thời điểm chuẩn bị diễn ra Đại hội VII của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng toàn diện và trầm trọng. Tháng 12-1991, Liên Xô chính thức tan rã, gây hoang mang trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; các thế lực thù địch trong và ngoài nước ra sức chống phá cách mạng Việt Nam; đất nước ta vẫn trong tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn,… Thực tế đó đặt ra những thách thức vô cùng to lớn đối với Đảng và cách mạng nước ta, nhất là việc kiên định, bổ sung nền tảng tư tưởng của Đảng.
Vượt lên tất cả, với bản lĩnh, trí tuệ và quyết tâm chính trị cao, Đại hội VII của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đề ra chủ trương tiếp tục đổi mới, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nỗ lực phấn đấu nhằm đạt những mục tiêu đề ra. Trong Cương lĩnh, Đảng ta khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động(34). Và qua các kỳ Đại hội, Đảng ta vẫn nhiều lần nhấn mạnh: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(35). Đây là những kết luận rút ra từ kết quả tổng kết sâu sắc thực tiễn lịch sử của Đảng và cách mạng Việt Nam; là quyết định có tầm lịch sử quan trọng đặc biệt, thể hiện bước tiến vượt bậc trong tư duy lý luận của Đảng ta. Đồng thời, đó cũng là minh chứng sinh động và rõ ràng nhất khẳng định sự thấm nhuần sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo quan điểm Hồ Chí Minh về nền tảng tư tưởng của Đảng...

Đồng chí Đoàn Minh Huấn, Uỷ viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và đồng chí Nguyễn Long Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư thường trực Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương trao Giải A tặng các tác giả, nhóm tác giả đoạt giải Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng năm 2026 của Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương_Ảnh: TTXVN
Thời gian tới, dự báo “cục diện thế giới đang chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng, phân mảnh và phân tuyến mạnh. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều thách thức mới… Sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới… Tuy nhiên, thời gian tới, đất nước ta sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, có những mặt gay gắt, nặng nề hơn so với giai đoạn trước… Các thế lực thù địch, phản động tiếp tục thực hiện nhiều thủ đoạn, âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta”(36) đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa và vận dụng linh hoạt, hiệu quả quan điểm Hồ Chí Minh về nền tảng tư tưởng của Đảng, với một số chỉ dẫn quan trọng:
Thứ nhất, đẩy mạnh việc học tập, giáo dục, tuyên truyền, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.
Tiếp tục “đổi mới mạnh mẽ việc học tập, quán triệt chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh,… bảo đảm thiết thực, hiệu quả”(37), nhằm tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, nhất là thế hệ trẻ nước nhà về bản chất khoa học và cách mạng, giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn to lớn, tầm vóc thời đại và sức sống lâu bền của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua đó, làm cho thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng thấm sâu vào nhận thức, chuyển hóa thành tình cảm, thái độ, củng cố niềm tin khoa học, bản lĩnh chính trị và hành động đúng đắn của mỗi người; kiên quyết khắc phục tình trạng ngại học, lười học lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên.
Không ngừng đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, trọng tâm là nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện tốt việc “đổi mới nội dung, chương trình giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, gắn lý luận với thực tiễn, khắc phục sự trùng lắp, khép kín”(38). Gắn lý luận với thực tiễn, chú trọng bồi dưỡng kỹ năng vận dụng những kiến thức lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời đổi mới phương pháp giáo dục, tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh theo hướng linh hoạt, thiết thực, phù hợp với từng đối tượng, phát huy tốt vai trò của cơ quan báo chí, phương tiện truyền thông đại chúng trong tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng thấm sâu và giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân và toàn xã hội.
Thứ hai, không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.
Thấu triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nền tảng tư tưởng của Đảng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta nhất quán khẳng định: “Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam”(39) là vấn đề có tính nguyên tắc số một, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong toàn bộ công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Đảng muốn lãnh đạo lâu dài thì phải luôn tự hoàn thiện, tự làm mới, giữ vững bản chất cách mạng và tính tiên phong. Đảng ta phải không ngừng học tập, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh,…”(40).
Nghiên cứu cơ bản, chuyên sâu, toàn diện, có hệ thống về di sản lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát thực tiễn và giữ vững vấn đề có tính nguyên tắc để tiếp tục bổ sung, phát triển lý luận của Đảng, bảo đảm vai trò tiên phong, tính định hướng và dẫn dắt đúng đắn trong tình hình mới. “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về chủ nghĩa xã hội, về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tiếp tục hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới”(41). Trong đó, tập trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng, cấp thiết chiến lược, trọng yếu, cốt lõi; những luận điểm trong kho tàng lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần được làm sáng tỏ thêm, bổ sung và phát triển trong điều kiện mới; hay các vấn đề mới, khó đang bức thiết đặt ra cần giải đáp.
Thực hiện chỉ dẫn này của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tuân thủ những nguyên tắc nêu trên, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã bổ sung thêm “lý luận về đường lối đổi mới” là một trong những bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng. Cụ thể, Đảng đã xác định: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới”(42). Có thể nói, đây là dấu ấn khẳng định sự trưởng thành vượt bậc, bước phát triển đột phá trong tư duy lý luận và bản lĩnh lãnh đạo của Đảng, là sự tổng kết công phu, nghiêm túc thành quả của 40 năm đổi mới đất nước.
Thứ ba, nâng cao chất lượng, hiệu quả cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu, sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
Hiện nay, cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu, sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ cấp bách, có ý nghĩa sống còn, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ và lợi ích quốc gia - dân tộc. Vì vậy, thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là luận điểm “đứng trước những âm mưu ngày càng thâm độc của thế lực phản động đế quốc chủ nghĩa, lúc này hơn bao giờ hết, chúng ta phải… đấu tranh không mệt mỏi để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin”(43), đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải chung sức đồng lòng, tiếp tục nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm chính trị đối với nhiệm vụ này. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, hiệu quả của các phương tiện; chủ động nắm và dự báo tốt tình hình, dự liệu sớm các xu hướng nảy sinh, chuẩn bị đầy đủ các luận cứ khoa học xác đáng, kịp thời định hướng tư tưởng và dư luận xã hội, nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Mặt khác, nhiệm vụ này phải được tiến hành thường xuyên, bền bỉ, bài bản, công phu, khoa học; hướng đến kiến tạo “hệ sinh thái” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với đa tầng, nhiều lớp, đa diện, bao trùm, nhiều hình thức; chủ động cao và hiệu quả thực chất, tránh bị động, đối phó và cách làm hình thức; hướng tới “hoàn thiện hệ thống lý luận cơ bản về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giai đoạn cách mạng mới”(44). Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” với “chống”, lấy “xây” là chủ yếu, “chống” phải quyết liệt; thận trọng, chắc chắn, nhạy bén, kiên quyết trong nhận diện và đấu tranh bằng những luận chứng khoa học, lập luận sắc bén, sức thuyết phục cao./.
(Theo tapchicongsan.org.vn)