.jpg)
Một ước ao thật giản dị của nhà báo Nguyễn Kiến Phước, người bạn đời của nhà báo Vũ Kim Hạnh, khát khao vợ mình, hãy ngồi xuống viết. Viết thôi. Cuộc đời của một người làm báo chuyên nghiệp, rồi đồng sáng lập Hội doanh nghiệp Hàng Việt Nam Chất lương cao, và báo Sài Gòn tiếp thị… bao nhiêu sự vụ cuốn hết thời gian của bà. Mới đây, người phụ nữ “ không tuổi” cho ra mắt sách: Sài Gòn bao thương, do NXB. Sài gòn Book và nhà NXB. Hồng Đức, năm 2025.
Đọc xong Sài gòn bao thương, tôi từng bị ám ảnh mãi câu hỏi của người viết: “sự tử tế đáng giá bao nhiêu?”. Đời một nhà báo để lại gì, ta sống có giá trị gì nhỉ? Ắt hẳn không thể là ánh vàng quỳ, là tơ lụa trên vải, là hạt bột và chân chỉ, chỉ chữ và dữ liệu của một thời khốc liệt, dịch COVID-19 ba năm trước.
Ắt hẳn có Tết bà ngồi viết “ học phí trả bằng tro”. “Viết để dịu đi đau đớn”. Viết cuốn sách trong 4 năm, bà từng chia sẻ: “những ngày đại dịch hồi COVID-19, hàng ngày tôi ghi chép, viết như cách ghi nhật ký, để nguôi ngoai đi phần nào xót xa tận đáy lòng. Rồi có những đêm không ngủ được, thức trắng để viết”… cũng để nguôi ngoai dằn vặt trước thảm cảnh những túi đựng xác người trong bệnh viện không đủ, những cây ATM oxy cứu trợ từng hơi thở của người. Quyển sách này hơn 500 trang, đó là thành quả lao động nghiêm cẩn, với nhiều tư liệu thật quý được chọn lọc, mỗi con số phản ánh cuộc sống khốc liệt của Sài Gòn hồi COVID-19 chưa bị lãng quên. Mỗi trang sách như lát cắt ghi lại cảm xúc của một điều dưỡng viên, một nhạc sĩ, bác sĩ, một kỹ sư bảo mật ở hải ngoại, một người chăm sóc cưu mang trẻ ở trường Hy Vọng... Bà chọn cách viết như kể chuyện thời gian đã qua của một ngòi bút từng trải, đằm thắm, vì yêu thương con người. Đọc, mới thấy người viết phải trải qua từng ngày nặng trĩu ngập lòng nỗi đớn đau của đồng loại mới cặm cụi viết những dòng, những trang day dứt đến như vậy.
Bà “liều mình như chẳng có”, giữa cao điểm dịch người ta khép cửa trong nhà, bà thì bứt rứt không yên… Thực tế thì có những điều còn chưa được kể trong sách: gần như cả cơ quan “Trung tâm nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp BSA” khi ấy được chuyển hết sang địa điểm mới, Nhà thiếu nhi thành phố, được tổ chức thành một cơ xưởng hàng 50 người với dây chuyền tiếp nhận sắp xếp, phân phối quà cứu trợ rầm rập hàng chục xe tải ra vào. Các nhóm chia nhau đi sâu vào các khu phong tỏa, trực tiếp trao quà. Bà Hạnh cùng đi trong các nhóm ấy, mặc áo quần bảo hộ y tế, len lỏi tới những đoạn cuối hẻm, những “ổ F0” tiếp cận, lắng nghe nhu cầu từng gia đình, trẻ thơ, những phận người bất hạnh bỗng chốc bị giáng xuống những thảm cảnh không sao hiểu và hình dung được. Để rồi tối về, một mình ngồi tự trấn an mình, bà Hạnh cố gắng bình tĩnh ghi lại… trang viết ngậm ngùi, hắt lên phận người bé nhỏ như con ong, cái kiến, những hũ tro thay người trở về nhà, vô chùa, nhang tàn khói lạnh, bao nhiêu phận người bỗng biến mất… vô danh không ai biết đã về đâu? Họ có quê quán miền Tây hay miền Đông? ở Cà Mau, Năm Căn, hay Cần Giờ? Giờ thì họ đang nằm dưới đất sâu kia, và Sài Gòn vẫn nhạt nhòa bóng người lướt đi trong mưa, từng lam lũ, nhọc nhằn mưu sinh, từng chia bùi sẻ ngọt đời sống ở trong những con hẻm vắng trống không. Rất nhiều phận người nhập cư đến thành phố ở trọ, trên trần gian, rồi cũng biến mất hút khỏi trần gian sau trận sóng thần “Cô Vy” đó. Sài Gòn bao thương có thể đọc liền mạch, cũng có thể đọc cóc nhảy, rồi hệ thống lại, thì vẫn hình dung được một thời chung tay chống dịch của cả nước, và của riêng Sài Gòn. Những trang ảnh màu, như một dữ liệu lịch sử, ảnh lô cốt, Sài Gòn giăng dây, rào chắn, từng dòng người xếp hàng tiêm, ngoáy mũi; ảnh Sài Gòn hoang vu, cách ly, ra trình diện xét F0, F1…ảnh cuộc tháo chạy của người ngụ cư, những đứa trẻ ngủ đường trở về quê hương, những người tả tơi đói lả ven đường. Sài Gòn có cả những gia đình ra đi không còn một ai. Sài Gòn với 300 đứa trẻ mồ côi, được nuôi dưỡng ở ngôi trường Hy Vọng do tập đoàn FPT cứu trợ, đùm bọc. Rất nhiều đóng góp vô danh, thầm lặng của nhiều cá nhân tập thể, mà nói như bà Phạm Chi Lan chuyên gia kinh tế cho biết: “năm tháng đó có nhiều doanh nghiệp thua lỗ, họ vẫn chung tay giúp đỡ cứu giúp người nghèo, cơ nhỡ, đâu cần ai biết đến. Họ vẫn dâng hiến, vô danh”. Họ là những anh hùng thầm lặng, không đòi hỏi ai biết ơn, mà làm việc trượng nghĩa từ con tim của mình. Những nhân vật bình thường, các nhà báo Sài Gòn như Nguyễn Tập, Mỹ Khanh, Đỗ Ngọc … tổ chức tặng cơm, giúp chỗ trọ, giúp tổ chức việc học online cho các cháu nhỏ mùa dịch, hay như Hoàng Tuấn Anh, cha đẻ của ATM gạo, ATM oxy… cầm nhà bán xe lo cho người cùng khổ... ai còn nhớ hay ai đã quên?... Tất cả được ngòi bút của Vũ Kim Hạnh ghi lại như cách chép sử, nhật ký Sài Gòn bao dung, và độ lượng của con người ứng xử với con người. Cuốn sách như gửi gắm niềm tin vào cuộc sống tốc độ, một“ Sài Gòn đáng sống lắm”! Vũ Kim Hạnh yêu Sài Gòn theo cách riêng của bà, luôn nghĩ cho người vì nhiều người.
Rất nhiều những chi tiết sống động rất “đời”, bánh mì, nước uống, phong bì cứu trợ. Những chuyện khóc cười của thiên hạ được kể như chuyện vừa mới xảy ra hôm qua, chưa trôi vào quên lãng. Sách còn lưu cả bài của tác giả Như Lịch viết về chàng Nguyễn Minh Trí tình nguyện lái xe suốt mùa dịch, lăn xả vì bà con, quên cả ăn uống. Đó còn là hình ảnh của một vị bác sĩ chăm bệnh nhân nặng, sau 10 ngày tóc anh trắng xóa; một “người hùng” Nguyễn Quốc Cường dành tài sản của 20 năm của gia đình cho công tác thiện nguyện… Bà Vũ Kim Hạnh chất vấn mình hay chất vấn người: “Sự tử tế đáng giá bao nhiêu?”. Quyển sách này trả lời, sự tử tế của người dân là vô giá!
Những mẩu chuyện có vẻ vụn trong hẻm về nhưng đứa trẻ mất mẹ, mất cha, nhữngn người cha, người mẹ già nuôi con tâm thần. Rất nhiều cảnh huống, rất nhiều nông nỗi con người khốn khổ… Người đọc, thấy rõ ngòi bút của Vũ Kim Hạnh không hướng tới văn chương, bà chủ định chọn cách kể chuyện dung dị, chân thực ở góc nhìn cuộc sống, cách phát hiện sắc sảo của người làm báo chuyên nghiệp, để phản ánh cuộc đời nó vậy.Thật bi hùng. Vì sự thật muôn đời là sự thật, dù nỗi đau có hóa đá thì nước mắt người vẫn rơi, vì những năm tháng Sài Gòn thảm thương, kẻ áo lành đùm áo rách có nhau. Không chỉ đứng ở góc nhìn một nhà báo, bà đưa vào sách những trang viết ngắn của nhiều người, nhiều nghề khác nhau, nó làm đa dạng, cách nhìn đa chiều về đại dịch, giống như bức tranh sơn mài, màu sắc lộng lẫy cách ứng xử nhân văn, chứ không đơn điệu, ở một góc nhìn của một người viết thế sự. Gấp sách lại, thấy ấm áp, vì thế gian này còn nhiều người tử tế, dưới ngòi bút của Vũ Kim Hạnh, khiến người đọc tin vào sự tốt đẹp của con người, những bàn tay nâng đỡ và chia sẻ với người thua thiệt, yếm thế. Thật ngắn mấy trang sách nhật ký đầu tiên, cách hồi ức về nỗi riêng, một chi tiết nhỏ cái bàn viết, một cái ghế bỏ trống trong nhà, giản dị bình thường nhưng lay được trái tim độc giả, người đọc muốn đọc thêm những trang viết đó, nhưng tác giả dừng lại nên rất nuối tiếc. Vũ Kim Hạnh vẫn cặm cụi viết trong tết và ngoài tết, bà có cuốn sách” đối thoại với những người tiên phong, nếu viết thêm về số phận của những người đi tiên phong ấy, chắc bà sẽ có cuốn sách như “ vàng quỳ”, gửi lại nhân gian.
Mỗi trang viết của sách Sài Gòn bao thương như thước phim ngắn lịch sử thời dịch giã, một cuộc chiến không có tiếng súng, dù thời gian trôi, sự quên lãng có trôi đi?
“Dịch COVID-19 không chỉ tấn công người nghèo, mà nó bất chấp. Và giàu hay nghèo thì sau biến cố cũng tang thương, đau thảm tận cùng.”
Nhà báo Vũ Kim Hạnh lưu trữ cuộc đời mình, gửi gắm những con chữ nặng tình, ghi dấu tấm lòng vàng của nhân gian vào bảo tàng ký ức của chữ, chỉ với bao thương trong trái tim nhỏ bé đầy day trở nhiệt huyết của người viết gửi lại. Và hy vọng nghề viết của nữ nhà báo cũng ký thác riêng cho một người mà mình đắm đuối dấn thân cả cuộc đời. Sống vì nhiều người.
Hoàng Việt Hằng